Khóc Võ Hoàng

Biệt tin nhau đã mấy mươi năm

Nay biết tin anh Đất Lạ nằm

Mười bốn năm dài tin mới đến

Phần tư thế kỷ bạn mù tăm

Vần thơ Kháng Chiến ôm hoài bão

Góc Bể Bên Trời phủ hận căm

Phú Quốc hồn anh hòa gió biển

Tang bồng hồ thỉ gởi xa xăm

TỪ ĐÀ THÀNH

29 tháng 7 năm 2001

Tiếc Gì Một Chút Hương Xuân Muộn

VÕ HOÀNG

MỘT

Năm Thuật dựng một căn chòi và lập miếng vườn nhỏ ở sát cánh đồng tràm. Ba bốn năm, ngó lại chưa thấy huê lợi nào đáng kể. Cái thứ dễ trồng nhứt là khoai mì, mà hễ cây lên cao tới thắt lưng là lá bắt đầu vàng khè rồi dường như càng ngày càng thấp xuống. Người ta giải thích rằng tại đất còn phèn nhiều quá. Năm Thuật cũng biết như vậy, mà cứ rán. Có mấy tháng nắng, nhắn thằng cháu vô tính mượn nó tiếp sức móc cái mương dài cắt ngang đám bòng bong, từ cây tràm gãy ra tới suối cạn, mà năm lần bảy lượt, nó cứ hẹn ít bữa, ít bữa… Rốt cuộc, trời vừa trở mùa, nghe nó với mấy thằng bạn cướp ghe người ta vượt biên mất biệt. Đống tràm con, Năm Thuật tính dành để đóng cừ còn nằm chình ình đó, cả năm nay rồi.

Những bữa trăng non mới mọc, Năm Thuật ưa bắt cái ghế đẩu đằng trước sân, ngồi ngó xung quanh, suy nghĩ vẩn vơ mà thấy buồn buồn. Điều làm chú ấm ức nhứt là cái sức khỏe của chú càng lúc càng mất đi, mau hơn chú tưởng. Chưa đầy năm mươi mà hễ cứ độ chừng hai chục cuốc, là phải ngừng lại, thở dốc. Hồi đầu, mới vô đây, sau mấy tháng càu nhàu về việc người này người kia giành giựt với chú những vùng đất tốt hơn và phân chia không đều ngay cả khoảng đất ọp ẹp này, chú rán bỏ qua hết mọi chuyện, bắt tay vào việc.

“Thì cũng có ai đâu, ngó chung quanh, quen biết hết mà!” Năm Thuật nghĩ. “Thời này, phần đông ai cũng là gia đình cách mạng. Mình giữ phận mình, chắc ăn hơn. Ở đời, có ba cái vô tư, trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai, nhựt nguyệt không soi sáng riêng ai. Cái việc tranh giành, phân bì là sự xấu, đừng có màng tới. Miễn người ta để yên cho mình, là được…”

Hết mùa thứ nhứt, Năm Thuật mơ hồ cảm thấy cho dù người ta có để yên cho mình, chưa chắc rằng với cái sức lực còm cõi còn lại sau một lần mổ ruột và hơn mười năm làm phu khuân vác bến tàu, mình có thể tự tạo một cuộc sống yên ổn được. Lâu lâu, ngồi dựa ngửa bên một gốc tràm, vấn điếu thuốc rê bự, bập bập, hớp ngụm nước trà, Năm Thuật nhớ và tiếc cái thời “thầy Năm Hiến Binh” với sức trai và cặp giò săn cứng mỗi buổi chiều quần thảo, làm chủ tình hình sân vận động quận.

“Cái thằng Nhược này, hồi đó mầy còn nhỏ biết cái chó gì. Người ta nói với nhau, chiều nay ra sân banh coi ông Hiến Binh đá banh. Người ta nói với nhau đội Hà Tiên có hai tay dữ dằn nhứt đi cặp làm mưa làm gió cả tỉnh, tới quận mình, đụng ông Hiến Binh là quờ quạng liền. Người ta nói với nhau, ông Hiến Binh xin đổi đi, ông Quận không cho. Mầy biết không, có lần ông Quận, để coi, ông Quận Trung phải nói, gần tới ngày về tỉnh tranh giải, chú Năm nó phải ăn, phải ngủ cho có chừng mực… Mầy biết không, hồi lúc tao lặn hào bị đứt chưn không đá banh được chiều chiều ra sân coi thử, vắng hoe…”

Năm Thuật ít nói, mà hễ nói là nói tới chuyện những ngày chú còn trẻ. Hồi thằng Nhược cho hay miếng đất chú đút đơn xin khẩn cập chưn núi Suối Đá không được huyện chấp nhận vì, “chú Năm biết không, chủ tịch xã có phê, thành phần không thích hợp với loại đất.” Năm Thuật chỉ chép miệng:

“Thì thôi!”

Nhưng một hồi rồi chú cũng thở dài:

“Giá tỉ như hồi tao còn làm Hiến Binh, ông Quận không chấp thuận chắc tao cũng không xin xỏ, năn nỉ gì đâu. Kệ!”

Cho tới khi đi coi miếng đất được nhà nước cứu xét và tự ý phân phối về, Năm Thuật vừa co chưn đá vô chưn bàn vừa nói với thằng Nhược:

“Tao dư sức phá miếng đất đó. Hồi trước, chục cây số tao đi bộ một hơi một. Rồi lúc sau này, thấy không, bao gạo chỉ xanh để trên vai tao coi như không có. Đồ ba cái thứ rễ bòng bong, mây nước đó mà, đâu có qua tao nỗi…”

Bây giờ là mùa mưa thứ tư rồi. Đất vẫn còn phèn và sát đằng sau vách chòi, hai bụi mây nước cháy đen thui chưa lấy gốc. Mùa mưa, xung quanh đó, những đọt mây non chồi đầu lên, một tuần lễ mà không cắt cỏ, gai cứng lại, vô ý mà đi, cọ ngang một cái, tuôn máu như chơi. Năm Thuật dù có thấy chướng mắt cỡ nào cũng phải chịu thua. “Thứ gì mà rễ nó bện lại thành lớp, thành lớp như bao bố tời. Cuốc xuống một cái, nó dội ngược trở lên, tức ngực.”

Trong đám khoai mì, ngó lơ ít lâu là bòng bong nó quấn lên tới đọt. Năm Thuật mới đầu còn cặm cụi soi, móc từng dây, riết rồi bỏ liều luôn. Có điều, Năm Thuật bỏ mà cứ nghĩ tới hoài.

Nhiều khi, chính Năm Thuật cũng biết như vậy là tự mình làm khổ mình, mà rồi gần như cái tật, hễ nghĩ tới đám khoai mì là thấy bực bực trong người. Chú nói với thằng Nhược, năm ngoái:

“Hết lứa này, dứt mùa mưa, lớn nhỏ gì tao cũng giỡ đám khoai rồi cuốc lại. Lần này thì phải ít nhứt là ba lưỡi… thử coi nó còn lú lên nổi không cho biết.”

Thằng Nhược hứa nhăng hứa cuội rằng sẽ “tiếp với chú, không phải chỉ đám đằng trước đó thôi, mà còn dài ra tới bờ mương chú dự định đào xong trong vòng mấy tháng nắng này…” Rồi thằng Nhược vượt biên, rồi Năm Thuật bỏ cuộc một cách dễ dàng một phần vì chán ngán cho chính mình.

Bữa nay gió bấc thổi già quá. Ngoài bìa vườn, những tàn tràm xum xê cành lá, nghiêng hết về con suối cạn. Nghe kỹ, có tiếng rít nhỏ mà cao vun vút, buồn quá. Gần Tết rồi. Cả một con đường mòn dài từ bìa lộ vô, bông da heo nở tím lịm. Trong này ngó ra, Năm Thuật có cảm tưởng như ngày nào, lâu rồi, ngồi dước gốc nhìn ngược những bực thang đất, đường lên chùa Sư Muôn. “Ừ, gần Tết, sim đã có đợt chín, mà cũng có đợt vừa mới trổ bông. Hồi đó, mình đâu có còn nhỏ gì, ngó người ta, từng cặp, từng cặp, vừa bẻ sim mà vừa cười nói, um sùm, cũng thấy vui…”

Thêm một cái Tết nữa không có thằng Nhược, chắc Năm Thuật buồn không thua gì năm ngoái. “Có nó, đánh cờ tướng sáng đêm cũng không thấy buồn ngủ. Không lẽ lội bộ ngược ra xóm, xa, mà cũng chẳng vui vẻ gì…” Tự nhiên, Năm Thuật nhớ thằng Nhược quá.

“Cái thằng! Làm biếng, chưa có ai làm biếng qua nó được.” Nhiều khi, chú ngó một chút rồi tự hỏi, thằng này như vầy thì làm sao mà sống được qua thời buổi này. Vậy mà nó vẫn phây phây, mới kỳ.

Hồi lúc hết thẩy những tiệm cà phê đều phải tạm ngừng bán để chuẩn bị cho việc thành lập các cửa hàng quốc doanh, thằng Nhược mất tiêu luôn cái nghề chạy bàn, cực chẳng đã, nó mới chịu nương thân, ăn nhờ ở đậu trong căn chòi ba vách của Năm Thuật mà theo nó, nó cho là một chỗ “chán chưa từng thấy” trong đời nó. Thấy chú làm việc mệt nhọc, có lúc làm như nó mắc cỡ, rán ra phụ được một chút, rồi kiếm chuyện này chuyện nọ, lủi mất. Mọi thứ, mọi việc nó đều có đủ lý lẽ để nói, nhưng ít khi nó chịu làm. Bữa nào vui vui, ngồi nghỉ xả hơi, thấy nó đứng chắp tay sau đít ngó ra ở đâu xa xa, chú kiếm chuyện nói, vì nghĩ rằng nó khoái nói chuyện. Mà thằng Nhược khoái thiệt.

“Nè, sao tự nhiên đám đậu phọng èo uột quá mà có một chỗ này xanh lè, lá nào lá nấy bự muốn gấp đôi… kỳ quá mầy, Nhược!”

“Chú Năm không nhớ là hồi trước, chỗ này chú để đống phân bò hay sao? Phân bò là phân tốt hạng nhứt mà, thứ gì cũng chịu nó hết. Mát, mà lại xốp đất. Cái thứ đất phèn này, phải cần nó cho nhiều mới được. Đáng lẽ mình phải chịu khó quẩy ky đi dọc dọc theo con lộ từ phi trường vô trong này, mỗi ngày ít nhứt cũng được hai gánh… Mà điều, để chú coi, vậy mà chỗ đó hột đậu lép xẹp. Người ta nói xấu dây mới tốt củ mà… Thứ đậu phọng này chịu phân tro lắm nghe chú Năm. Đáng lẽ mỗi buổi chiều, mình phải gom gom một ít đám cỏ mục lại đốt một đống ung, vừa vui mà vừa có thêm chút phân. Ở vườn, chiều mà có đống ung, khói nó bay cà chậm, cà chậm, thiệt, buồn cũng thành vui…”

Chuyện gì thằng Nhược nói cũng xuôi. Năm Thuật tưởng tượng thằng này mà chịu gánh hai cái ky không đi dọc dọc theo đường lộ, cũng là điều lạ rồi, nói chi tới chuyện nó vừa đi vừa cúi cúi cào phân bò vô ky, chắc trời sập. Năm bẩy ngày đầu lúc mới vô đây, thấy chú đốt cỏ, nó cũng ngồi một bên, cầm cây chọt chọt cầm chừng, nói chuyện người này với người kia chửi lộn, nói chuyện thằng nào đó ăn cắp đồ bị bắt, lên tới công an mà còn chối, nói đủ thứ chuyện. Chưa bao giờ chú thấy nó tự động đi ôm cỏ về mà gầy một đống ung ra làm sao. Vậy mà nó nói… Đáng lẽ, đáng lẽ…

Có một luống mía, trồng cùng lúc với mấy luống kia, mà sao cây lên lưa thưa, chỉ bằng phân nửa mấy luống khác. Thằng Nhược lại giải thích:

“Tui chắc hồi gạch mương để đặt ngọn xuống, luống này chú gạch sâu hơn mấy luống khác. Cái ngọn, chú đặt đứng quá, hai ba mắc nó mới lên một mục, chớ mấy. Nhưng mà chú coi, nó ít thành ra nó tốt hơn mấy luống khác thấy không. Đầy đủ phân mà… Nó còn lớn nữa đó nghe. Mấy luống kia cây nào cây nấy nổi mốc trắng hết rồi đó, vậy mà nó còn xanh dờn nghe. Đáng lẽ mới hết mưa như vầy, mình chịu khó đi từng luống giựt bỏ lá héo, cây nó mới mập được…”

Mỗi lần như vậy, Năm Thuật gật gù, rồi “hèn gì… hèn gì…” cho qua chuyện. “Nghe nó nói, cũng đỡ buồn!”

“Không biết hồi này nó ra làm sao rồi. Để coi, ngày mai con Nhu đem cái thơ vô, nó nói với mình cái gì.”

Trời tối, Năm Thuật trở vô chòi ngồi chồm hổm chụm lửa nấu nước trà. Vỏ tràm khô bốc cháy bừng bừng, mau tàn quá, chú phải ngồi luôn ở đó. Vậy mà qua ánh lửa, chú cười mỉm chi, không biết chú nghĩ tới cái miệng bép xép không thua gì thằng em con Nhu, nghĩ tới những lời kẽ cà trật cà vuột trong thư thằng Nhược, hay nghĩ tới cái réchaud nhập cảng đốt bằng dầu lửa của ông thư ký quận tặng “thầy Năm Hiến Binh” nhân cái dịp gần Tết như vầy, năm nào.

***

HAI

Năm Thuật múa xong đường quyền rồi mà cũng chưa chịu ngồi xuống, hai tay vẫn giữ nguyên cái thế nắm, để ngang thắt lưng, ngước mặt lên trời thở nhè nhẹ. Một chút, chú chắt lưỡi:

“Mười lần thì bị hết tám chín lần, kỳ thiệt!”

Con Nhu đỡ lời:

“Chắc tại lâu rồi chú không dợt lại, tay chân yếu đi. Theo lẽ cái hồi nhảy ngược về đàng sau, chú nên đứng thẳng lên rồi hãy nhảy. Như vậy chắc vững hơn…”

Năm Thuật bước tới vài bước, ngồi xuống cạnh con Nhu, vừa đưa tay vuốt ngược đầu tóc, vừa thở dài:

“Có lần tao cũng nghĩ như vậy, mà không phải như vậy. Xuống Trảo mã là phải xuống nhanh cấp kỳ như vậy mới phải. Thế đó không phải là thế công, cũng không phải là thế thủ, mà là một thế chuyển kín đáo nhứt. Chuyển để thủ mà cũng chuyển để công… Vậy mới kỳ. Để tới lúc phân thế ra, mầy mới thấy được. Cái nghề, người ta đã tính từng chút, từng chút. Tao mà xuống Trảo mã đúng cái lúc đó rồi, mầy đâu có biết tao sẽ lui nữa hay phóng ngược tới, phải không? Một lát tới phiên mầy, mầy thử đứng lên rồi mới nhảy lui, mầy sẽ thấy hở nhiều chỗ lắm. Giả tỷ, nháy con mắt một cái, tao chúi mình sát lại mầy, một tay gạt lên đầu đánh nhá hơi, một tay thoi vô bụng. Mầy nhảy về Trảo mã chưa kịp thì muốn khỏi mất thăng bằng, phải dùng cả hai tay mà gạt ra, tao sẽ nương theo đà ngã, lật giò đó một cái thốc trở lên là mầy bể be sườn liền, chịu gì nổi, muốn thử không?”

Năm Thuật say sưa nói trong khi con Nhu im lặng, nghĩ tới bộ dạng chậm chạp, mất thăng bằng của chú mà tự dưng đâm ra chán chường. “Ổng cầm ở lại thêm một ngày, nhứt định dạy cho được đường quyền, mà đâu có biết mình không muốn học chút nào. Người dạy cho dầu có tận tâm cách mấy mà người học như trả nợ quỷ thần, làm sao cho khá được. Đã vậy, ‘ông thầy’ lâu lâu, múa một hồi rồi tự nhiên quay qua than thân trách phận, nghe mà phát chán theo.”

Con Nhu liếc qua Năm Thuật. Dưới ánh trăng mờ mờ, nó thấy mồ hôi bóng loáng vừng trán nhăn nheo như của một ông già sáu bảy chục tuổi. Tự dưng, nó thấy buồn buồn, quay nhìn về hướng hàng tràm bìa rừng. Trăng sáng, mà yên tịnh quá. Tháng Chạp rồi mà trời còn trong vắt. Ở hướng Nam, chòm sao Thánh giá nhấp nháy.

“Để tui vô bắt ấm nước, pha trà uống nghe chú Năm.”

Con Nhu không chờ Năm Thuật trả lời, nó vừa nói vừa nhỏm dậy, dứt câu thì đã đứng hẳn lên rồi. Bộ dạng của nó cũng có vẻ thiểu não ghê lắm.

Khi cái áo bà ba nâu bạc thếch vừa khuất vô vách chòi. Năm Thuật đứng dậy, quờ tay làm lại cái thế chặt phựt ngang cổ một địch thủ tưởng tượng rồi dùn chân xuống câu tay hất ngược cùi chỏ trở lên và không cần chụm chân lại, nghiêng người nhảy ra đàng sau, chân trái trước, chân phải sau. Chú múa thiệt chậm, vậy mà tới lúc xuống tấn, cũng lại xiêu xiêu.

Năm Thuật chắc lưỡi, đứng dậy, đi thẳng vô chòi.

Ấm nước đang lên tiêm, nghe ồ ồ. Con Nhu nhụi thêm vô lò một nhúm vỏ tràm rồi quay qua Năm Thuật:

“Sao hồi trước chú Năm không dạy cho thằng Nhược. Nó có sức hơn tui, mà lại sáng dạ. Chắc học lẹ lắm…”

Năm Thuật ngồi lên sạp, quay mặt phun nước miếng cái bẹp:

“Thằng đó thì có ăn, chớ nó học nỗi gì.”

“Vậy chớ chú thấy tui làm sao? Cà quơ cà quơ, chú không chán sao? Mà tay chân thì yếu xìu…”

“Mầy thấy học được thì học, còn không thì thôi, tao đâu có ép.”

Năm Thuật nói lẫy rồi! Con Nhu im lặng hốt một nhúm trà bỏ vô bình, nghiêng ấm châm nước sôi vô, kéo cái ghế đẩu để giữa chòi, đặt bình trà lên rồi cúi mình xuống rổ chén lấy ra hai cái. Hồi lâu, nó nói nhỏ giọng:

“Tui định trong bụng cận ngày Tết, đem bánh tét vô cho chú rồi tui mới nói. Thôi sẵn đây tui nói cho chú nghe luôn… Vợ chồng tui tính đi bữa hăm chín. Anh Bồng thẻ mực bữa đó là bữa chót, khuya ảnh tấp vô bãi đón. Xuồng nhỏ lắm thành ra đâu có dám cho ai hay. Chỉ có thêm tui với con Sen, em của ảnh… Chú tính làm sao… cho tụi con biết, tụi con liệu…”

Con Nhu nói tới đó thì ngập ngừng, cúi mặt ngó xuống. Nó không thấy Năm Thuật đang giương hai con mắt thò lỏ ngó nó chập chạm. Hai người đều im lặng.

Cho tới khi Năm Thuật bật lửa xoèn xoẹt đốt thuốc hút, con Nhu nói tiếp:

“Tụi tui tính kỹ, bữa đó, công an nó không nghĩ là mình vượt biên đâu. Còn có một ngày nữa là Tết mà… Gói bánh tét đem theo cũng có cái cớ. Anh Bồng ảnh nói, ảnh chèo cao tay lắm là ba ngày thì cũng ra được tới lằn quốc tế. Chừng đó thiếu gì tàu…”

Năm Thuật bập bập điếu thuốc:

“Ừ, biển lúc này êm láng như trong sông…”

Con Nhu mạnh dạn hỏi:

“Chú có đi không, chú Năm?”

Năm Thuật im lặng, dựa ngửa xuống sạp, mơ màng nhả khói thuốc. Con Nhu chắc có ý để chú suy nghĩ nên bước xuống đất, đi lững thững ra ngoài sân. Nó có vẻ bình thản, quơ chân mạnh một cái, lá khô bị động, kêu xào xào. Năm Thuật ngước nhìn theo bóng nó, thở nhè nhẹ.

“Chuyện này không phải chuyện chơi đâu nghe, trật một cái là ân hận. Để coi, ở lại, lây lất rồi cũng hết một đời. Cái thứ mình, qua xứ người sống được không? Tiếng Tây tiếng u không biết, làm nặng không nổi… Để coi, miếng đất mình bây giờ thiệt thì cũng không có gì, sát nhập vô nông trường cũng có sao đâu, chỉ tiếc một chút công lao, mấy năm nay… Chà, còn những cái vướng vít nho nhỏ, làm sao cho yên. Thằng Nhược đi khỏi rồi mà lại muốn về là tại làm sao? Như nó còn khá, tới phiên mình không biết ra làm sao đâu. Mà sao tụi nó lại lựa ngày Tết ngày nhất này để đi, thiệt ai mà ngờ được… Tụi nó còn trẻ… Đáng lẽ lúc sau này, mình trở về quê ngó lại giòng họ bà con rồi mới tính tới được. Khó lòng quá…”

Năm Thuật đã bước xuống đất, chú dựa lưng vô cột chòi, thọc hai tay vô túi áo, ngó ra rừng. Con Nhu đang ngồi chỗ đám sả, thấy chú ra, nó quay lại:

“Để sáng tui tỉa bớt đám sả này gánh về chợ đếm lại cho người ta. Ba cái thứ lắt nhắt này chắc không bị thu mua đâu, hén chú Năm?”

“Ừ, mà mầy tỉa nhiều quá, thằng Ngạn trưởng xóm nó biết, nó hỏi lòng vòng khó lòng lắm. Nó ở cách đây bốn năm cây số mà tao trồng cái gì, nó cũng biết hết. Cái nào tốt, cái nào xấu nó cũng biết…”

Rồi Năm Thuật quay trở vô. Con Nhu cũng đứng dậy, bước theo. Năm Thuật ngửa cổ uống một hơi hết chén trà rồi đưa tay quẹt miệng, quay qua hỏi chậm:

“Sao tụi bây không để tới ra giêng?”

Con Nhu nín thinh.

“Ý tao chưa quyết, mà điều tao hỏi cho biết vậy thôi. Như tụi bây… Như tao… Bỏ xứ sở vô tới trong này, có bỏ nữa cũng vậy… Mà đi, xứ người ta, làm sao… Tao, thiệt, nghĩ hoài không ra…”

Năm Thuật có vẻ xúc động lắm nên hết nói nữa thì ngồi ịch xuống sạp. Con Nhu rót nước trà vô cái chén chú vừa uống cạn:

“Tui với anh Bồng cũng biết như vậy, mà rồi chú thấy không… Riết rồi có đủ thứ chuyện kẹt cứng. Ảnh nói, để dây dưa hoài có khi mình hết đường xoay sở thì chừng đó ân hận lắm… Thằng Nhược nó nói xách nói mé trong thơ, chứ chú cũng biết thì dù sao bên đó, đỡ hơn bên này nhiều thứ lắm…”

Con Nhu dần dừ thêm một hồi, ngó qua chỗ khác, nói tiếp:

“Con mắt mờ của chú, qua bên đó người ta trị, ba mươi giây hết liền, rồi tui biết chắc sức khỏe của chú cũng vậy, thuốc men người ta đầy đủ mà, chú lo gì… Qua đó, chú muốn đi đâu chú đi, không ai dám cản… Thằng Nhược, mới qua hai ba tháng, nó biết đủ thứ chuyện, chú không thấy sao…”

Năm Thuật đưa tay chà chà bên con mắt mờ. Đã mười mấy năm rồi, tuy nó lâu lâu có làm chú xốn xang chút ít nhưng nhờ nó, từ sau cái thời Hiến Binh được dẹp bỏ, người ta cho chú về làm ăn khỏi phải đi đánh giặc…

“Chà, chà. Con Nhu nói như một sự cố gắng, lần cuối. Thằng Nhược nó nói ở bên đó mà người ta còn nhập cảng lá tre khô cho người Việt mình để dành gói bánh tét nữa đó nghe chú Năm…”

Năm Thuật im lặng hồi lâu, rồi thở dài nằm xuống, nói khỏa lấp:

“Bánh tét thì phải gói bằng lá tre tươi, mà luộc thì phải luộc bằng củi, mới ngon, mới bùi được, phải không mậy, Nhu?”

Con Nhu dường như không để ý đến câu nói, nó gắng gượng kéo Năm Thuật về câu chuyện đang bỏ dở:

“Mai tui về chợ, có gì chú ra chú cho vợ chồng tui hay. Ý tụi tui là như vậy, tụi tui thương chú lắm, nghe chú Năm…”

Không nghe Năm Thuật trả lời, con Nhu kéo dài giọng:

“Chú tiếc gì mấy ngày Tết, chú Năm ơi…”

Năm Thuật im lặng, trong bóng tối chú ngẫm nghĩ: “Biết nó đi, rán dạy cho nó đường quyền, nó không chịu học, thì thôi!” Rồi chú rán nằm thiệt im, làm bộ ngủ, nhứt định quên hết mọi chuyện.


(trích Nhân Văn, số 22, Xuân Giáp Tý, 1984)

Nhớ Võ Hoàng

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

Đáng lẽ, văn học hải ngoại đã có một tác giả độc đáo. Đó là Võ Hoàng.

Nhưng, anh không muốn vậy. Và định mệnh lẫn sự hẩm hiu của văn học thời loạn cũng chiều lòng anh. Võ Hoàng trở thành một kháng chiến quân đã hy sinh vào một ngày tháng Tám năm 1987. Tôi viết những giòng này để nhớ tới Võ Hoàng như một nhà văn và một người anh em…

Tôi gặp Võ Hoàng trước khi biết đến và gia nhập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, để rồi cùng anh tham gia tổ chức này. Gặp anh, tôi biết mù mờ rằng Võ Hoàng Oanh sinh năm 1952 tại Phú Quốc, gia nhập Hải Quân và bị tù cải tạo. Mù mờ vì anh em gặp nhau lúc đó thì có bao giờ hỏi han mấy chi tiết vớ vẩn về cuộc đời? Sau này mới biết rõ hơn và quý trọng nhau hơn. Qua Lý Khánh Hồng, tôi gặp Võ Hoàng khi mình mới từ bên Pháp đến Mỹ. Lúc đó, vào mùa Thu năm 1982, cùng với Tưởng Năng Tiến, Thượng Văn, Lôi Tam và Lý Khánh Hồng, Võ Hoàng thực hiện Tạp Chí và Cơ Sở Xuất Bản Nhân Văn. Thời đó, trong sự đổ vỡ chung của niềm tin lẫn nỗi hoang mang trên cõi tạm dung, Nhân Văn thực sự đã có những đóng góp không nhỏ về cả mặt văn học lẫn lý luận. Vào năm 1982, chúng tôi gặp nhau ở đó cùng một số văn hữu khác và tôi giật mình ở con người Võ Hoàng. Anh ít nói, thường có cái vẻ miễn cưỡng của người hiện diện ở một nơi không nên. Anh có cái vẻ miễn cưỡng của kẻ đã lỡ sống sót sau một thảm kịch lớn cho những người kia, những người không may đã khuất.

Nói về cái tên Oanh của anh, chúng tôi luận bàn về hai chữ chiến tranh và hòa bình. Tên anh không có cái nghĩa lãng mạn của một giống chim, mà là tiếng chuyển động ầm ầm. Của xe nhà vua như tôi nói đùa, hoặc, nói trong tiếng cười kín đáo của Võ Hoàng, tiếng chiến xa. Võ Hoàng là người kỳ tài trong số những người tôi đã được gặp. Viết ra điều mình đã nghĩ từ bao lâu nay, tôi lại thấy ngậm ngùi.

Anh viết Trong Lòng Cách Mạng để ghi lại kỷ niệm ở quê nhà, những điều mắt thấy, tai nghe (và cả tay làm) sau ngày 30 tháng Tư 75. Anh vượt biên năm 1978 đến Úc sau khi đã lao vào hoạt động mệnh danh “Phục Quốc” ở quê nhà. Tù cải tạo ra, anh đi rải truyền đơn cho tới khi bị truy lùng thì phải chạy. Đọc Trong Lòng Cách Mạng, người ta có thể lờ mờ đoán ra điều đó. Qua Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng viết về chuyến vượt biên ly kỳ của mình thì ít mà về thân phận lưu đày của chúng ta thì nhiều. Đọc tác phẩm, ta càng hiểu đứa con của Phú Quốc là tay đi biển thành thạo, và càng thấy ở Võ Hoàng những dấu hiệu của một tài năng lớn, mà có lẽ anh cũng chẳng biết, hoặc bất cần. Ở anh, chỉ thấy toát ra một sự cô đơn.

Hai tập truyện Măng Đầu Mùa và Đất Lạ viết cùng Tưởng Năng Tiến có thể phản ảnh những trăn trở đó của anh khi phải sống đời tỵ nạn. Thân ở đây mà hồn cứ như ở nơi đâu xa lắc. Gia đình anh vượt biên sau anh. Anh mừng vì đoàn tụ với gia đình nhưng vẫn bơ vơ vì chưa đoàn tụ với quê hương. Thấy gia đình tới nơi yên lành rồi thì Võ Hoàng thở ra nhẹ nhõm: Đã có thể lại lao vào cuộc khác, để trở về.

Võ Hoàng có lối viết của một nhà văn miền Nam, với cái nhìn sắc bén thâm trầm của người miền Trung. Hãy đọc lại cuốn truyện dài Góc Bể Bên Trời, hoặc truyện ngắn Khách Thập Phương trong tập truyện Đất Lạ, cái đoạn mô tả cảnh một vị sư rót ra ba chung trà xếp thành hình chữ “phẩm” để mời khách, thì ta sẽ thấy nét tinh tế đó trong văn Võ Hoàng. Lối viết với đầy đối thoại, cứ tưởng như rời rạc, nhát gừng, mà bên trong đầy ắp những suy tư chỉ chực trào ra ngoài, những cuồng nộ không thể nguôi ngoai và sẽ bùng ra thành hành động. Võ Hoàng thạo nghề sông nước, rất giỏi võ, khéo tay, có thể làm thợ nề thợ mộc như đã học từ bé. Anh vẽ thần sầu, làm thơ cũng hay mà viết nhạc cũng giỏi. Những anh em làm báo mà có Võ Hoàng bên cạnh là thấy nhẹ người. Anh có thể cưa đẽo nhà dưới làm kệ sách rất mỹ thuật, rồi lên nhà trên giúp cho tờ báo về mọi mặt. Nơi này cần cái vignette là anh ngoáy bút ra một cái, nơi kia cần “mi” lại cho chỉnh, thời đó chúng ta chưa dùng chữ lay-out, là cũng có Võ Hoàng. Thời đó nữa, chúng ta còn phải dùng cái máy “Varytyper” nặng như cái cùm, in bài ra giấy còn phải lấy bút bỏ dấu, Võ Hoàng bỏ dấu rất gọn. Anh ít nói, bập bập điếu thuốc sau cặp kính hấp háy, nhưng khi nói là có giọng duyên dáng mà không ác, và làm gì cũng có vẻ như sợ làm phiền người khác. Võ Hoàng là người cực kỳ tài hoa mà lúc nào cũng có vẻ vụng về, nếu ta không để ý thấy đôi mắt rất sáng của anh. Anh nói ít mà hiểu nhiều bên sau cái dáng quê kệch của người mới ra tỉnh. Anh chí tình và tận tụy với trách nhiệm, bất kể lớn nhỏ. Ông Hoàng Cơ Minh sau này trông cậy rất nhiều nơi anh là cũng phải.

Chúng tôi kết bạn với nhau như vậy, cho tới ngày Võ Hoàng gia nhập Mặt Trận và thôi gọi nhau là anh em mà là “chiến hữu.” Anh đã tìm được con đường muốn đi ngay từ khi bỏ nước ra đi. Đó là con đường về. Võ Hoàng trở thành “kháng chiến quân” khi đi vào chiến khu của Mặt Trận từ tháng Năm, năm 1984. Gặp lại anh sau đó, trong một vài lần hãn hữu và không khí kém vui của một sự rối loạn bên trong, tôi gặp một con người khác.

Bắc Phong có viết một bài thơ tặng Võ Hoàng, trong đó có câu mà chúng tôi nhớ mãi:

Đi, hành trang có niềm tin,
Quyển thơ Nguyễn Trãi và hình vợ con.

Sau này, rất lâu sau này, vào tháng Sáu năm 1989, khi đi tới tận cùng của chiến khu để tìm lại tông tích của anh, tôi gặp lại và đi lại con đường anh mô tả trong bài ca Thế Kỷ Này Là Thế Kỷ Của Chúng Ta mà anh sáng tác trong đó:

Cách mạng, đường dài,
Người đi như con nước miệt mài.
Đổ mồ hôi thành dòng,
Loang theo dấu chân thành những con đường làm nên kháng chiến,
Ta đi, ta đi, ta đi…

Con đường đó vô cùng gian nan, nguy hiểm, và đòi hỏi một ý chí sắt thép, mà đổ mồ hôi thành dòng mới chỉ là một phần rất nhỏ của những gian truân. Phần còn lại, trên đoạn đường Mặt Trận gọi là “Đông Tiến,” mới có những đòi hỏi khắc nghiệt hơn, kể cả đổ máu. Võ Hoàng đã hy sinh như vậy, trong một cuộc quần thảo bi thảm mà hào hùng ít ai có thể mường tượng ra.

Vào chiến khu của Mặt Trận, Võ Hoàng trở thành một người cộng sự thân tín của ông Hoàng Cơ Minh. Anh thoát xác đến anh em Nhân Văn và cả tôi, những anh em chí thiết khi anh chưa gia nhập Mặt Trận, cũng không ngờ nổi. Tinh thần kỷ luật nơi đó biến anh thành con người khác, bình thản, nhẫn nhục và lầm lỳ như một mũi tên chỉ chực bắn ra phía trước. Mũi tên bay đi không nhờ lực đẩy ở đằng sau, mà vì sức hút của mục tiêu ở đàng trước, một mục tiêu mà mọi người chúng ta đều mơ ước.

Khi Võ Hoàng viết một lá thư kêu gọi các văn hữu cùng tham gia vào việc đấu tranh, rất nhiều anh em ngoài này không hiểu được tâm tư và ý chí đó của anh, nên có thể thấy ngỡ ngàng, có khi khó chịu. Anh sắt thép quá, trông chờ nhiều quá, chỉ vì đòi hỏi quá nhiều ở chính anh. Và cái đòi hỏi sau cùng, là sự hy sinh tuyệt đối nhất, anh cũng không từ nan. Nếu có đọc lại hoặc nhớ lại lời kêu gọi đó của Võ Hoàng, vào mùa Thu năm 1984, và biết rằng anh sẽ hy sinh đúng ba năm sau, chúng ta sẽ thông cảm với anh hơn, và thương tiếc nhiều hơn. Hình như tôi đang viết những dòng này để kêu gọi sự thông cảm đó.

Nếu như Võ Hoàng còn sống, và trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước, chắc chắn anh vẫn tiếp tục đấu tranh, nhưng với những phương tiện mới trong một phương thức mới, một phương thức đòi hỏi sự sáng tạo, linh động và tính kiên nhẫn lẫn bao dung mà anh có thừa. Và văn học hải ngoại chắc chắn vẫn có Võ Hoàng.

Nếu đất nước ta thanh bình, điều chưa hề có từ bao lâu nay rồi, một con người tài hoa và lý tưởng như Võ Hoàng có lẽ đã cống hiến rất nhiều cho văn học và nghệ thuật nước nhà. Với sức làm việc kinh hồn và óc nhận xét tinh tế cùng khả năng diễn tả rất đa diện, Võ Hoàng đã có thể là một nhà văn có ảnh hưởng trong chúng ta ở nơi đây. Anh mất quá sớm, khi mới 35 tuổi, vào lúc sung sức nhất, sáng tạo nhất, để lại một sự tiếc thương khó nguôi ngoai trong bằng hữu, và một tiếng thở dài bất tận trong chúng ta, về hai chữ vận nước.

Chúng ta hao phí quá nhiều người tài giỏi như vậy, trong bao nhiêu năm trời, trên cả hai miền đất nước, ra tới bên ngoài này… Nghĩ vậy, làm sao mình không khỏi nghiến răng phẫn hận?


Võ Hoàng, nhà văn: Kẻ dám sống trước nhân vật

LÊ THỊ HUỆ

Võ Hoàng (1952-1987)

Đi đi anh
nào phải chúng ta là kẻ ra đi một mình
sa trường đã ngập lụt
máu và nước mắt
triệu triệu tiếng chân người đồng hành
hoặc tất cả chúng ta cùng sống
hoặc tất cả chúng ta cùng chết
Đi đi anh
có em sẽ chờ anh nơi bờ đê
muà gió lên rơm rạ nở đầy trời
mảnh đất đã thấm đẫm oan khiên
vẫn thơm mùi lúa khoai mới gặt
em sẽ vốc lấy một nhúm và buộc chặt
vào bâu áo
làm bùa chú tặng anh
có anh linh của người nằm xuống
có bóng hình của kẻ đang sống
chỉ còn niềm tin này
là bùa hộ mệnh của đôi ta
những lân tinh hào sảng của nó
sẽ thổi hết đài đài búa liềm
sẽ bẻ cong quặp hết những gọng súng
thắt nơ đỏ
chúng ta phải tin và phải tin
vào mặt đất
đầy bùa phép của chính nó
thổi dạt hết thảm họa này
kế tiếp thảm họa nọ

Lúc đó, tôi vào độ tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi mà tri thức và cảm tình đòi hỏi phải được phát biểu một cách độc lập. Cái tuổi đủ chững chạc để lên tiếng về một lập trường của đời sống mình. Cái tuổi khoẻ mạnh nhất để suy xét ta và tha nhân cuộc đời nên hổ trợ nhau như thế nào đặng còn chung vốn làm ăn những năm tháng trước mặt. Nói tóm lại những năm đầu ba mươi là những năm những chàng và những nàng tuổi trẻ mới thực sự dấn thân hành động trong cái ý thức sáng tỏ có chọn lựa nhất. Tôi đã gặp Võ Hoàng trong những năm đầu tuổi ba mươi xuân sắc ấy

Thật sự chúng tôi chạm mặt và nhìn sâu vào mắt nhau chỉ một lần. Đó là lần ở tiệm in của Vũ Tiến Thủy góc đường The Amaden lộng gió. Tôi nhớ tối hôm ấy tôi đến trao cho Vũ Tiến Thủy tâp truyện ngắn Bụi Hồng để anh ấy đưa lên bàn in.

Cuộc gặp gỡ ẩy xảy ra trong một buổi tối hoàng hôn ngày hè êm dịu ở San Jose. Tôi mặc một chiếc váy hái hoa mỏng manh phất phơ, trang điểm điệu nghệ nhởn nhơ xuân thì, lái xe một mình đến địa chỉ của một nhà in nho nhỏ rất văn nghệ Việt Nam dưới phố San Jose.

Khi tôi mở cái cánh cửa thì thấy một bầy mấy tên đàn ông đứng lô nhô sau cái quầy gỗ theo nhòm tôi từ từ đi vào. Nhìn lên cái đám đàn ông xôn xao ong bướm đó, tôi đụng cái cốp ngay khuôn mặt đáng yêu của một cố nhân của tôi. Tôi không ngờ là kể từ ngày tôi rời bỏ New York có mấy tháng chung sống thơ mộng về lại San Jose, cố nhân cũng bỏ lớp bỏ trường Columbia đi lang bạt Cali, Hawaii năn nỉ mấy tôi cũng nhất định không ngoảnh mặt lại. Vậy mà giờ đây bất ngờ gặp hắn tại nơi này. Chỉ nhìn thấy cố nhân tối hôm ấy không, cũng đã đủ làm cho lòng tôi giao động. Nhưng tôi cũng rán nhìn lên điểm mặt ngoài hắn ra còn những ai. Tôi chỉ nhớ ngoài anh Thủy ra có ba tên nữa. Tên cao lồng ngồng không thể lẫn vào đâu được là Tưởng Năng Tiến. Tên thứ hai thì đã có lần đi uống cà phê chung là Hoàng Phủ Cương. Còn tên thứ ba thì tôi biết tỏng đấy là Võ Hoàng.

Dĩ nhiên cố nhân của tôi thì cười mỉm rạng ngời vì biết trước sau gì cũng sẽ bắt chẹt được tôi sau khi tôi công tác với ông chủ nhà in về quyển sách. Con người chào hỏi tôi vồn vã nhất lúc đó là Tưởng Năng Tiến. Rất ư là lịch sự và nhẹ nhàng, Tưởng Năng Tiến một chị Huệ hai chị Huệ ngọt ơi là ngọt. Đó là cái cảm tưởng lần đầu tiên tôi gặp Tưởng Năng Tiến. Y nhìn thì biết mình làm sao là chị Hai của y được. Nhưng Tưởng Năng Tiến có cái khí hậu trò chuyện khéo léo nghệ thuật thiệt là trớ trêu với tướng mạo ngang tàng và một giọng văn sòng phẳng sắc sảo chinh phục độc giả. Đúng là điển hình một thứ đàn ông văn nghệ sĩ có nhiều bẫy ngầm.

Và trong cái buổi tối đáng nhớ ấy tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Võ Hoàng mỗi lúc nhìn qua vai những người bạn trai trẻ ấy để thăm hỏi tôi. Suốt khoảng ba mươi phút tối mùa hè đáng nhớ đó, Võ Hoàng im lặng từ đầu đến cuối. Anh nhìn tôi rất vui, rất thân mật, rất mừng rỡ, nhưng tuyệt nhiên anh im lặng giữa những câu chòng ghẹo cười đùa nhẹ nhàng của đám đàn ông con trai xôn xao với một đứa con gái rập rượng.

Sự im lặng và tia mắt nhìn rất vui mừng thân mật của Võ Hoàng dành cho tôi tối hôm ấy là điều gì rất mạnh mẽ mà tôi không bao giờ quên được. Tôi không bao giờ quên ánh mắt như chợt loé lên một gửi trao dường như đã là một thoả thuận ngầm, chúng ta sẽ cùng chiến đấu nhé. Điều này là một xác tín đã trở lại với tôi trong một chiều sau đó, khi ngồi với cố nhân ở một quán nước, hắn đã nhẹ nhàng báo cho tôi hay hắn đang ở trong cùng một tổ chức với Võ Hoàng. Và sau đó trong một tờ báo rất đầu tiên của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam của tướng Hoàng Cơ Minh, lúc Lê Thiệp còn làm chủ báo Kháng Chiến, tôi đã ký tên khác viết một tâm bút “Thư Gửi Người Đi” cảm động lắm đi lận

Trong tập truyện Bụi Hồng tôi giao cho nhà in của Vũ Tiến Thủy tối hôm ấy, có chuyện ngắn “Cơn Sốt” của tôi. Chuyện đã được đăng trước đấy trên báo Văn của ông Mai Thảo vào năm 1981. Chuyện ngắn lấy bối cảnh cơn ốm nhớ thương đất nước của một cặp tình nhân trẻ ở khung trời náo nhiệt New York. Đoạn cuối của chuyện mô tả người tình nam ám ảnh bởi một công cuộc giải phóng đất nước, cách mạng quốc gia đã đặt lên môi người tình nữ một nụ hôn nồng nàn hứa hẹn

Cho đến khuya khi Ngữ tỉnh dậy, chàng trở người sang và gặp nàng đang nằm cạnh.
– Anh biết em đã nằm cạnh anh rất lâu.
Mồ hôi toát ra ướt đẫm trán chàng và nhỏ từng giọt xuống ngực nàng. Ngữ hất tung đống chăn cuộn trên mình. Tấm biểu ngữ rơi xuống đất.
Thoa trăn trở.
– Em nhớ nhà quá.
Ngữ đặt lên môi nàng một nụ hôn, nụ hôn nóng của hai bờ môi ốm sốt.
– Anh sẽ đi. Mai mốt anh sẽ đưa em về – chàng nói.

Thuở ấy Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đang là một đôi văn sáng như sao trên vòm trời văn học hải ngoại. Tập chuyện Măng Đầu Mùa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng là một ngọn hải đăng trong đám những nhà văn trẻ hải ngoại đầu thập niên 1980. Không biết ở đâu ra mà có một đôi bạn văn sáng sủa như vậy. Tự nhiên xuất hiện đôi song ca có một lối viết hết sức thân mật với đời sống. Đó là cách viết rất văn chương di truyền lớn lên trong nước Việt Nam Cộng Hoà của hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyên Văn Thiệu. Cách viết của những con người yêu văn chương, phơi phới tình người, và rất hào sảng cho văn chương và đời sống những tiếng nói róc rách trong tác phẩm. Cái cõi văn chương rất thoải mái chia sớt tận tình với đời đó không thể nào kiếm thấy ở những con người lớn lên ngoài Miền Bắc áp bức nghẹt cầu nghẹt đường đời Cộng Sản của Bác Hồ Chí Minh và bác Lê Duẩn. Lật những trang chữ của Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đọc sẽ thấy khác những trang viết của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Huy Thiệp. Chữ nghĩa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng chân hơn, sáng hơn, tự tin hơn, gần với con người quanh ta hơn. Trong khi chữ nghĩa của Nguyễn Huy Thiệp và Trần Đăng Khoa mánh hơn, đểu hơn, vẹo hơn, để luồn lèn lớn lên trong một xã hội mà cứ bốn người là có một anh công an dòm ngó. Hai cõi tác phẩm xiển dương hai thế sống khác từ nhừng xã hội mà hắn được nuôi dưỡng. Tuyên dương cõi này mà bỏ lơ cõi khác là hội chứng chậm tiến của hành trình tiêu hoá những tác phẩm.

Cái điều sáng tỏ của Võ Hoàng nhà văn vào thời điểm đó chính là thái độ chọn lựa. Võ Hoàng không chỉ viết. Võ Hoàng dám hiện thực điều chàng viết bằng hành động.

Sau một trận lột xác và lột hồn vì cơn địa chấn bị vứt ra khỏi quê hương, là một kẻ mẫn cảm, thông minh, tràn đầy nghị lực, có tất cả thời gian của tuổi trẻ vào thời điểm sau 1975 ấy, Võ Hoàng dám xông xáo đi tìm một phương hướng giải quyết những thôi thúc trong người. Cái thôi thúc lãng mạn phục vụ quê hương có thể là thừa kế của người quân nhân lính thủy Võ Hoàng Oanh của mấy năm binh nghiệp trước đó, nhưng cái bi kịch hùng tráng của Võ Hoàng ở đây chính là chính hành động lựa chọn sứ mệnh chiến đấu để chứng nghiệm đời sống thay vì tưởng tượng đời sống qua ngòi bút .

Cái chân dung mà tôi không thể nào không bị khích động, là lúc ấy Võ Hoàng đang ở vào một vị trí ăn ảnh đời người nhất. Võ Hoàng có tuổi trẻ, y chỉ là tên đàn ông vừa ngoài ba mươi. Võ Hoàng có tự do, y vừa mới đến xứ sở Hoa Kỳ nơi mà Nữ Thần Tự Do đã ban tặng cho y một quyền tự do sống hoàn toàn thảnh thơi theo bất cứ cách thế nào y muốn nhất. Võ Hoàng có mái ấm, vợ con vừa sang đoàn tụ. Võ Hoàng có danh vọng, y vừa mới là nhà văn nổi tiếng. Một trang thanh niên tài hoa hiểu ra mình đang ở vào một vị thế có hào sảng tư trang của cải căn cước tuổi trẻ, sinh lực, tài năng nhất. Thế mà trong cái huy hoàng của thời thế tuổi trẻ rực rỡ ấy, y đã chọn một con đường chiến đấu cho một siêu hình niềm tin vào danh tự có tên gọi là Quê Hương.

Nỗi đau bị bứng vứt ra khỏi quê hương như một thứ nha phiến làm cho giấc mơ trở về quê hương là một mời gọi vô cùng hấp dẫn. Tình yêu quê hương là một nguồn sống còn mãnh liệt hơn cả chính tình yêu. Nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz trong chuyện dài Sugar Street đã viết một câu bất hũ: “Perhaps patriotism, like love, is a force to which we surrender, whether or not we believe in it.” Mặt đất này đã thấm đẫm những giòng máu nuôi danh tự Quê Hương. Ngày đó chúng tôi ra đi từ những địa danh Rạch Giá, Vũng Tàu, Nha Trang, Hà Tiên. Điểm xuất phát trở thành điểm trở về. Chúng tôi cũng chỉ là những đứa con mọn của một thứ mặt đất tham lam luôn luôn đòi chúng tôi trở về phục vụ nó. Mặt đất hay Quê Hương như một bà mẹ khắc nghiệt không muốn bứt rời đứa con của bà. Võ Hoàng ra đi từ Phú Quốc, chắc là chàng cũng bị cái tiếng gọi của bà mẹ Phú Quốc kêu riết nên chàng mới tìm đường trở về.

Con đường trở về bằng ngôn ngữ Phú Quốc của một nhà văn Võ Hoàng hình như chưa đủ. Những sáng tác của Võ Hoàng trong mấy năm ngắn ngủi lìa xứ, 1979-1984, là những chuyện tràn đầy tính chất Nam Bộ. Giọng văn Nam Kỳ là một nét đặc sắc của văn chương Việt Nam khởi đi từ những cái tên như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An… Với tôi, chỉ trong vài truyện ngắn đầu tay, Võ Hoàng đã lấp lánh một tài năng lớn của văn chương Nam Kỳ. Lối dựng chuyện của anh không thừa thãi lấy chữ đè chuyện. Văn vẻ của Võ Hoàng rất tươi rói như vừa mới vốc ra từ Phú Quốc. Đọc chuyện của Võ Hoàng cứ như thấy những con người Nam Kỳ dẻo miệng của anh đang gõ gàng trước mặt mình.

Thế nhưng cõi viết không thôi hình như không đủ chỗ để dung chứa sức sống tràn trề của một đứa con trai yêu của quê hương là Võ Hoàng Oanh. Cho nên chàng thanh niên tên là Võ Hoàng Oanh đã vứt bỏ danh vọng đang lên của nhà văn trẻ Võ Hoàng, ném trả cho xứ người lạ hoắc chút tài sản văn chương mà chàng vừa cắm dùi được . Chàng chọn lựa phiêu lưu vào lịch sử, thách thức lịch sử, với ước muốn giành lại và chiến đấu cho quê hương mà người ta đã chiếm đoạt mất của chàng.

Có thể nói đứa con yêu của tổ quốc Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa vai trò kẻ chiến đấu để thí nghiệm con người văn chương tên là Võ Hoàng. Võ Hoàng Oanh đã ra sa trường chiến đấu dũng cảm với mặt trận đất đá súng đạn và kẻ thù ở Nam Lào vào cái lúc mà tên tuổi nhà văn Võ Hoàng đang lên cao rực rỡ nhất. Sự chiến đấu bằng võ lực là một cách chiến đấu chẳng đặng đừng vào thời điểm ấy. Lúc mà khối Cộng Sản còn chắc nịch như một thứ đế quốc không ai xuyên phá được. Sự chọn lựa con đi sang Lào để về chiếm lại quê hương vào bối cảnh đó là một hình ảnh đẹp tuyệt vời trong lòng mọi người Việt lưu vong. Võ Hoàng Oanh con chim trống cũng chỉ muốn khoe đôi cánh vạm vỡ của mình để biểu dương sự chiến đấu bảo vệ lấy quê hương của nhiều người đang bị bọ hung, chuột, dán, bọ chét hút máu. Một nhóm đàn ông con trai đã đi làm anh hùng lịch sử. Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Trần Thiện Khải, Lê Hồng… là những anh hùng của chúng tôi vào thời điểm đấy. Nhất là trước đấy đã có vị anh hùng trí thức dấn thân như sinh viên Trần Văn Bá đã cũng xuống xuồng đi về phía Quê Hương và đã gục ngã. Cái chết của Trần Văn Bá (Đường Trần Văn Bá – thơ Lê Thị Huệ) đã càng bồi đắp cái hình tượng cái chết nào của những đứa con của Quê Hương cũng đều là những cái chết đẹp và hiển hách hơn cái chết bệnh tật già lụm khụm nơi quê người. Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa theo con đường xuống xuồng chèo về phía Quê Hương dù biết là phía trước mình có người anh sinh viên trí thức Trần Văn Bá vừa ngã gục. Một thái độ chọn lựa hết sức ngạo mạn, lãng mạn, phiêu lưu, thách đố chỉ xảy ra cho những con người dám sống theo tính cách huyền thoại trên bia đá, trong lịch sử, trong truyện và trong kịch. Con người nhỏ nhẻ im im, nghiêng nghiêng nụ mỉm cười thân mật ấy lại chọn lựa một cách chiến đấu bão bùng khốc liệt

“Hoặc tất cả chúng ta cùng sống hoặc tất cả chúng ta cùng chết” (thơ Lê Thị Huệ) thì đúng là con người nhà văn Võ Hoàng đã muốn bảo vệ, đã muốn chiến đấu dùm cho những nhân vật huyền thoại. Cái dũng của con người nhà văn Võ Hoàng là muốn chứng minh và chiến đấu điều mình tin bằng chính hành động chèo xuồng đi về phía Quê Hương trước khi cầm bút mô tả lại sự việc. Cái hách của nhà văn Võ Hoàng là trước khi y vung bút múa cho đời một điệu văn thì y đã dám thử nghiệm bằng chính con người và cuộc đời y trước. Thật là khác xa với những tay sống thì không dám sống nhưng chỉ mơ ước vẽ vời rồi để cho kẻ lạ sống dùm hoặc mời gọi người khác sống theo sự tưởng tượng của tác phẩm bày ra. Với tất cả những nét đặc biệt nêu trên, con người này đã thiết lập được một huyền thoại cao ngạo, quyến rũ, tài hoa của riêng danh tiếng Võ Hoàng.

Lê Thị Huệ
Đêm 10/8/2001


http://www.gio-o.com/

Tâm Khúc Một Nhà Văn

NGUYỄN XUÂN THIỆP

Nhà Văn Võ Hoàng

… lúc đó. đêm nguyệt tận. cuối cùng cho một khúc ca
ngồi bên đống lửa
đọc lại những tờ bản thảo
đâu nắng vàng dưới trời yên bái
và mưa nhã nam
những đầm bông súng. hồng tay em. hàng thùy
dương sóng xa. biển và đất nước
người du sĩ bật đứt dây đàn
máu chảy. trên những thành phố…
(thơ Nguyễn Xuân Thiệp)

Vừa qua, các trang web đồng loạt loan tin người tù 33 năm dưới chế độ Cộng Sản đã ra khỏi trại giam lúc 4 giờ sáng ngày 12 tháng 7 năm 2010. Người tù đó là Trương Văn Sương. Anh được xem là người tù có thời gian bị giam giữ lâu nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ sau 1975. Trương Văn Sương sinh năm 1943, quê ở Mỹ Tú tỉnh Ba Xuyên tức là Sóc Trăng ngày nay. Sau năm 1975, vì là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, anh bị đưa đi cải tạo tổng cộng 6 năm từ 1975 đến 1981 tại Quảng Bình. Sau khi ra trại, anh vượt biên sang Thái và ngay sau đó tham gia tổ chức kháng chiến của Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy để xâm nhập vào Việt Nam nhằm tìm cách gây dựng những cơ sở đấu tranh vũ trang ở trong nước chống lại Cộng Sản Hà Nội. Anh cùng với mọi người tham gia đều bị bắt khi vừa đăt chân lên đất Việt. Đó là vào khoảng năm 1977-1978. Nhiều người trong nhóm đã bị kết án tử hình như Trần Văn Bá, Trần Thái Bạch, Lê Quốc Quân, riêng Trương Văn Sương bị kết án chung thân với tội danh “gián điệp.”

Sáu năm sau khi Trương Văn Sương bị bắt, một người trẻ tuổi khác – một nhà văn nhiều hứa hẹn dấn bước lên đường tìm về Việt Nam tiếp tục cuộc chiến đấu. Đó là Võ Hoàng. Anh ngã gục dưới trời Hạ Lào, để lại vợ trẻ và ba người con. Chúng ta kính trọng và cảm thương anh biết bao. Không. Anh không bao giờ chết. Trong lòng tôi. Trong lòng bạn. Trong lòng mọi người ở đây.

Sau phần tiểu sử Võ Hoàng ghi dưới, chúng tôi sẽ lần lượt trích đăng những tâm khúc của nhiều cây bút viết cho anh. Tài liệu lấy từ website Nhân Văn và do nhà văn Tưởng Năng Tiến cung cấp, được đăng trên Phố Văn số 12 tháng 9, 2001.

Tên thật Võ Hoàng Oanh. Sinh 1952 ở Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

1974: Gia nhập Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.
1975-1976: Tù cải tạo.
1978: Vượt biển, đến Úc.
1979: Định cư ở Hoa Kỳ.
1980-1981: Cộng tác viên báo Đại Dân Tộc của Hà Túc Đạo và tạp chí Việt Nam của Vũ Thế Ngọc.
1982: Cùng với Tưởng Năng Tiến, Thượng Văn, Lý Khánh Hồng chủ trương tạp chí Nhân Văn ở San Jose.
1983: Gia nhập Mặt Trận ông Hoàng Cơ Minh.
1984: Về Thái Lan, Đông Dương.
1984-1987: Uỷ viên chính trị cấp Kháng Đoàn.
1986: Tổng Thư Ký Hội Văn Nghệ Kháng Chiến.
Mất ngày 28 tháng Tám 1987, tại rừng núi Nam Lào.

Tác phẩm:

Măng Đầu Mùa, truyện ngắn, cùng viết với Tưởng Năng Tiến, Nhân Văn xuất bản 1982.
Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn, Nhân Văn xuất bản 1983.
Góc Bể Chân Trời, truyện dài, Nhân Văn xuất bản 1983.
Đất Lạ, truyện ngắn, cùng viết với Tưởng Năng Tiến, Hương Quê xuất bản 1984.

Trong buổi lễ tưởng niệm tổ chức tại San Jose, ngày 26 tháng 8, 2001, con trai út của nhà văn Võ Hoàng là Võ Hoàng Nguyên Kha phát biểu: “Thưa các bác, chúng con đã xa cha khi còn nhỏ, chưa được nhìn rõ mặt cha một lần. Khi lớn lên, chúng con hỏi mẹ rằng cha đi đâu mà không thấy về.” Chị Đỗ Kim Hương, vợ Võ Hoàng, cảm động nhắc lại: “Vào năm 1984, anh ngỏ lời cùng tôi về quyết định dấn thân vào đại cuộc đấu tranh. Tôi vô cùng đau buồn thương tiếc số phận ngắn ngủi của anh, nỡ ra đi khi đàn con thơ dại đang cần sự dạy dỗ của anh.” Nhưng chị nói: “Tôi hãnh diện…” Nhà báo Lâm Văn Sang, khi thuật lại những việc trên, đã viết: “Tôi biết người đàn bà đó, tuy không biết rõ như tôi biết Võ Hoàng. Bà cũng đã chiến đấu trong tư thế của mình, một mình, trên một đất nước xa lạ, thay chồng nuôi ba người con nên người. Kha năm nay đã vào đại học.”


Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau

VÕ HOÀNG

Bạn tôi,

Để ráng mà viết những lời thật êm dịu, thâm tình, cũng chưa biết sẽ được như ý hay không.

Trước hết, xin được khỏi nhắc lại những câu chúc lành lẩm cẩm, nghe nhà quê. Chỉ nghe một điều, bạn tôi chịu khó đọc, mà thương cho người đi, cầm chắc cuộc sống rồi đây sẽ rất gian khổ.

Để coi, có những người bạn đã từng một thời mặc quần đùi lon ton đánh đáo, chạy u. Lớn hơn một chút, lúc mà giọng nói đổi thành ồ ồ, lấm lét chia nhau những hơi thuốc hút lén, rồi nói về chuyện cô này, cô nọ. Cũng có khi uống cà phê ngồi đồng mà mặt vẫn cứ nghinh nghinh. Đi lính, lâu lâu gặp nhau xứ người không nhậu tới ói mửa là bị chê là chơi xấu, chơi dở. Việt cộng ra, qua những ngày mặt xanh như tàu lá, đứa vô trại cải tạo tới chừng thả ra thì tướng đi lựng khựng, lưng cứ lom khom; đứa lặng lẽ ăn cắp hông-đa ở nhà đem bám lấy tiền mua vé xe đò, nói là vô núi Dài, Bà Đen, vô bưng; đứa thì nhơn nhơn la cà đầu đường xó chợ, đùng một cái phóng xuống ghe đi tuốt…

Còn lại với vài thằng, rủ nhau làm đủ thứ nghề. Từ cu li bến tàu cho tới vô rừng đốn củi, xuống biển mò nghêu. Tới lúc biết rằng cần phải vô bưng mà sống cho đỡ quê thì hết đường. Ngồi quán cà phê, tụi nó nghi. Lên đồi đốt than tính chuyện làm cách mạng. Đọc Ngục Trung Thư thấy lo, rồi coi Milovan Djilas mà giận. Thằng thi rớt phần hai mà đòi viết cương lĩnh, đứa học ban B, mà thảo truyền đơn, hiệu triệu. Vừa run vừa rải. Có đứa chỉ kịp quăng nguyên một bó, ngủ một giấc thức dậy mà tim còn đập, uống gần một xị mà mặt còn xanh.

Bây giờ thì thằng nào còn ở lại, thằng nào ra được ngoài?

Một mùa hè, đi xuyên tiểu bang tìm tới một thằng cũng mới qua được hơn năm. Than rằng “Mệt quá, làm không được bao nhiêu lương mà tháng nào cũng trả biu hết sạch.” Hỏi thì nói “Tiền nhà đã đành, lại còn tiền xe, tiền cái máy hát, cái máy chiếu phim, tiền bộ ghế… Mệt muốn chết.” Mình nghe cũng mệt giùm. Nhắc chuyện cũ, cười, “Thiệt hồi đó mình không biết làm gì, mới làm bậy bạ, không bị bắt cũng may… Mà thôi, bỏ qua đi.” Thì bỏ qua. Thằng này số nó ít khổ!

Mùa kế tìm tới thằng khác. Có vợ. Hai vợ chồng nó là bạn của mình hết mà! Tụi nó mua nhà ở một khu ngoại ô khang trang quá chừng! Vô nhà, con vợ đương hút bụi, phải chọt cởi giày. Thằng chồng mời uống nước. Nước là bia. Ba tiếng đồng hồ nói chuyện trong sở với sự phụ họa của con vợ, nghe không biết trời đất gì hết. “Tụi tao làm chung sở mà, cũng may, đỡ tốn tiền xăng vì làm cùng một ca. Hồi trước thì khác, sau này tao xì cho thằng súp-vai-dơ nửa tháng lương, mới đổi ca được đó chớ.” Mình nghe, mình dội.

Muốn nói lại chuyện cũ với nó để hỏi, thấy thế nào về việc người mình bên này đấu tranh, thằng chồng lòn tay lôi ra một đống những tờ báo, lật lướt lướt. “Tổ chức, hội đoàn tụi nó đánh nhau tùm lum hết, mày không thấy sao? Mình có muốn nhảy vô, cũng không biết phải vô đâu, thì thôi. Cho em xin hai chữ. Thân mình, còn lo chưa xong…”

Con vợ mời ăn cơm, than rằng, “Hồi này hơi kẹt, suốt hai ba tháng nay chỉ ăn toàn gà.”

Mình về, biết rằng đêm đó sẽ phải buồn ghê lắm. Suốt chặng đường, nghĩ tới mấy thằng ăn cắp xe nhà bán rồi đi bưng, không biết hồi này tụi nó ra làm sao. Rồi lại nghĩ tới hai vợ chồng thằng này, đêm trước của ngày đám cưới, thằng chồng ngồi chồm hổm ủi truyền đơn, con vợ ngồi bếp, cầm cây kéo lụt nhách cắt từng tờ ra làm tư, sấp lại, chia ra mỗi bó năm chục, “một tuần nữa tối trời, mình rải…”

Thiệt, phải chi tụi nó chết trên biển lúc vượt biên, chắc bây giờ mình thương tụi nó nhiều ghê lắm. Giờ, đã không thương được một chút, còn thấy ghét…

Một thằng ở Tây viết thư, “Bên này tụi nó chơi nhau sát ván, toàn phe ta đánh phe mình, có nghe lúc này mày ở trong Mặt Trận, thì ráng đi. Tao thì tao chán lắm, tao chán hết thảy. Hình như ở bên đó sắp có Đại Hội. Hội Ái Hữu Võ Bị, mày gói cho tao ít tài liệu để biết, tao liên lạc với họ… Chán thì có chán, cũng phải có chút này chút nọ để giữ tinh thần chứ, phải không?” Biết là “không,” nhưng không muốn trả lời.

Gần tới ngày mình đi, còn gặp thằng “lỗ tai lừa.” Ba năm ấm ức trong lò “cải tạo,” nó thấy nói nhiều thứ, kể cả cái thứ căm thù cộng sản. Tưởng rằng dưới sự dòm ngó, nó làm cảnh như vậy, mà qua được bên này, mới biết nó thay đổi thật sự. Làm ăn rất chi là cần cù, lo lắng từng chút trong cuộc sống. Từ những giờ làm thêm ngày cuối tuần, lơi dần những buổi họp mặt có chút chất đấu tranh, tới những đêm làm giờ phụ trội cũng còn cằn nhằn “không biết bao giờ lo đủ cho thằng em có tiền vượt biên bán chánh thức. Bên đó, nó khổ tội nghiệp…”

Đâu còn biết gì thêm nữa để nói. Bạn mình, ai cũng đang trong những ngày tháng “vì không biết phải làm gì, mới bày trò chống lại Việt cộng, bên này có nhiều thứ để làm quá mà! Thời giờ dư ở đâu mà chống Việt cộng. Ghét cộng, chuyện này khó và cực quá Mình trốn cộng mình đi qua bên này, lo làm ăn đi… kệ cộng!”

Hình như trong những thằng bạn mình vô bưng hồi đó, có đứa suốt năm năm tuổi lính, đào ngũ sáu lần. Vậy mà trong lúc cả triệu quân rã ngũ, nó mới biết thân biết phận, bắt đầu tập tành nhập cuộc, phải không cà?

Có nghe, ăn bám nhà nước trong thời bình và đào ngũ trong thời chiến là không tốt, mà hung hăng dữ tợn trong thời chiến và đào ngũ trong thời bình cũng không tốt. Vậy thời nay là thời gì và làm thế nào để trước hết mình được nghĩ mình là người tốt, bạn mình?

Khổ ghê!

Có những người bạn quen nhau thời lính tráng, qua bên này gặp lại trong mấy lúc biểu tình, lễ lộc, chửi rủa, hô hào. Kéo vô quán nhắc chuyện cũ lai rai, chia với nhau một chút cái sầu xa xứ tuy rằng thằng nào cũng có.

Hồi mấy năm nay làm được những gì, nói từ chuyện học tới chuyện làm, từ chuyện xe tới chuyện nhạc…

Không, muốn hỏi tới chuyện sinh hoạt đóng góp với người ta làm cái việc đánh nhau với Việt cộng kia. “Việt cộng nào ở đây? Muốn đánh thì trở về bên đó mà đánh. Mà đánh ra làm sao? Hồi trước mình một triệu quân, còn thua… không thấy sao?

Thấy.

“Mình là thằng lính, chỉ có biết đánh nhau. Bây giờ hết đất. Mấy năm nay, cũng hên là không dính dáng gì tới mấy cái sinh hoạt gọi là sinh hoạt chính trị hết… Mỹ nó giúp còn họa may. Đằng này… mới nghĩ tới đã thấy ghê rồi…”

Thiệt là giận. Thằng nào cũng quên một điều, không ai có thể ngu si rủ một đứa đui đi coi chiếu bóng hết.

Kể cho nó nghe chuyện “devant la loi” một anh nhà quê nhứt định ngồi trước cửa xin ăn, người gác cửa chút chút lại nói “Chờ một lát, chờ một lát.” Như vậy, không biết chờ tới bao nhiêu lâu, tên ăn mày già, rồi kiệt sức, muốn bỏ đi chỗ khác, đi không nỗi. Gần chết, thấy người gác dợm đóng cửa lại mới hỏi, “Cánh cửa ông mở bao nhiêu lâu nay, sao bây giờ lại đóng? Đáp, “Cánh cửa này có là vì có mày, bây giờ mày chết thì tao đóng cánh cửa này lại và tao đi làm chuyện khác. Cửa này đóng luôn, không bao giờ mở nữa…”

Nó nghe, nó giận. Nó nói mình chọc quê nó!

Kỳ ghê!

Có những người bạn gặp nhau và quen nhau trên xứ người. Hơn nữa, gặp nhau và quen nhau trong sinh hoạt. Rủ nhau cùng vô một tổ chức làm việc, đồng ý trên quan điểm bỏ hết những chuyện cũ, bỏ qua những cái chướng tai gai mắt có thể gặp phải. Cái nhục Cối Kê thời này nhứt định phải được rửa sạch.

Nói với nhau, “Ừ, lãnh đạo hồi trước đó, cho nên mới có cái chuyện dân mình tan nát. Xưa Hạng Võ thua trận Cai Hạ, về tới Đồng Thanh nhứt định không chịu qua sông Giang Đông, vì nghĩ rằng lúc đi, đi với tám ngàn quân, mà về, về có một mình. Tự vận. Đời này, nước mình mấy chục Tướng, lúc ở, ở với một triệu quân, lúc đi, đi một mình Vậy mà cũng đành đi. Nhứt định phải đi cho được còn gạt người ta để đi, lạy người ta để đi… Nghe có Tướng tự vận, lấy làm khi dễ: khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có biết (như moa) mới là sống, dù là sống nhục.”

Bây giờ tới chuyện của mình làm. Làm đi!

Tới lúc làm, ngó qua ngó lại, toàn thứ người da vàng mất nước, không có một thằng mũi lõ mắt xanh, khớp. Kiếm đủ thứ chuyện. “Tại mày không biết, chứ hồi trước, ngay từ ngày đầu tiên ra đơn vị, dưới tay đã có ngay mấy chục thằng, có đâu như vậy. Tới cái chuyện le lưỡi dán tem gởi bản tin hàng tháng cũng bắt tao làm nữa sao? Dân này là dân tác chiến ngoại hạng, đấu tranh mà không có súng thì nói làm mẹ gì?”

Còn phân bì nữa. “Mấy thằng đầu sỏ, lúc đi, ôm theo không biết bao nhiêu là tiền của. Bộ tụi nó qua bên này tụi nó què hay sao mà không thấy xuất hiện, bộ tụi nó điếc hay sao mà không nghe người ta kêu gào, bộ tụi nó đui hay sao mà không thấy người ta tranh đấu trong tình cảnh này, bộ tụi nó câm hay sao mà không lên tiếng gì hết…?”

Nó nói vậy chứ nó cũng ráng làm. Nó hy vọng rồi đây những ông chỉ huy của nó hồi tâm, bỏ qua mọi điều, lăn sả vô công việc đấu tranh.

Thời gian ít lâu, mới biết là lầm.

Biết là lầm, theo nó, vì làm công việc đấu tranh hoài không thấy con ma Mỹ nào giúp hết, mà càng lúc, công việc càng đòi hỏi nhiều thì giờ, trong khi nó chỉ có một ngày tám tiếng.

Biết là lầm, theo nó, mấy ông chỉ huy đã không giúp gì hết mà còn kiếm chuyện phá.

Mới đầu, nó giận mấy ông, sau, nó giận nó. Rồi tới lúc nó giận luôn công việc nó đang làm. Nhưng nó chưa dám giận tụi Mỹ sao lâu quá không giúp.

Nó nghe mấy ông chỉ huy sắp sửa hội họp với nhau, đeo lại lon lá cũ mà diễu tụi Mỹ, cho Mỹ sợ. Nó nghĩ, không chừng Mỹ nó sợ, nó phục, nó giúp, không chừng! Bèn làm bộ giãy nẩy, đi ra. “Chơi với tụi kia, có khi vui hơn, có khi có súng, đánh đấm mới đã.”

Nó quên một điều, đánh nhau với kẻ thù, kẻ thù dữ tợn, hung hãn, tàn bạo, mình đánh mới oai, mới hách. Kẻ thù có quân đông, mình mới cần phải thị uy. Bên này, kẻ thù có to lắm cũng cỡ những thằng mang dép râu bằng vỏ xe, viết thư nặc danh trật chính tả. Thứ này, hồi trước, anh em Dân Vệ dư sức chơi rồi, cần gì tới lon, lá.

Hình như cũng có một lần hai đứa phàn nàn về việc tại làm sao có những người qua tới bên này thì có khuynh hướng thêm vào tên mình bằng tên mấy thằng Mỹ. Hỏi, có phải là để cho Mỹ nó dễ kêu, lỡ có chuyện gì nó kêu còn dạ kịp? Đáp, “Cái đó đâu có thành vấn đề, nói tới làm chi. Giả tỷ những người này mà Mỹ không nhận vô lúc đi tỵ nạn, cứ tống cổ qua Kampuchia, thì rồi cũng lại có chuyện thêm tên Kampuchia vô tên của mình, cho Kampuchia nó dễ kêu vậy thôi. Cà-Chơm Nguyễn, Xà-Bây Trần chẳng hạn. Đâu có thành vấn đề…”

Rồi ra với những người chỉ huy cũ, lâu mà cũng không thấy sơ múi được gì, nó cũng dám nản.

Mấy năm, gặp lại ngoài phố. Cười thiệt tươi, “Ê, không đến nỗi tao thêm tên Mỹ chứ thiệt tình, nói mày đừng buồn, cố làm cho lắm rồi cũng không đi tới đâu đâu. Trước, tao từng nói với mày là mình có một triệu quân mình còn thua mà. Chắc phải an cư lạc nghiệp thôi…”

Nó không biết, mình chuẩn bị đánh với Việt cộng bằng mấy chục triệu quân và mình nắm trong tay chính nghĩa thật sự, cái chính nghĩa mà hồi trước, Việt cộng dùng làm chiêu bài.

Kể cho nó nghe chuyện đời Tấn bên Tàu, có người mê chơi vô rừng, lạc tới một chỗ đông đúc, đời sống an nhàn, vô cùng vui sướng. Hỏi ra mới hay cả ngàn năm trước những người này vì tránh chế độ bạo ngược của nhà Tần nên tìm đến đây dựng nhà.

Nó nghe, hỏi thì có gì lạ đâu? Bày đặt chuyện kể tiếp: Người đi lạc mới hỏi, “Lúc đầu trong này chắc hoang vu lắm, chưa bao giờ có người lui tới phải không?” Đáp, “Phải, hoang vu lắm bằng chứng là bọn công an mật vụ nhà Tần kiếm không ra mà! Lúc chúng tôi vào đây, cũng may là trời thương, cây trái đầy rừng, thú vật cũng nhiều, nhất là khỉ.” Hỏi, “Như vậy hẳn là trong này nhiều chuối?” Đáp, “Đúng, nhiều chuối. Khỉ nó thích ăn chuối lắm, nhưng chúng tôi là xếp của tụi nó, chúng tôi không ăn chuối.”

Nó nghe, nó nhứt định giận mình. Buồn ghê!

Có những người bạn, ngày tiễn nhau đi, mắt sáng quắc.

Bây giờ, có muốn nói gì cũng bằng thừa.

Mình có ý nghĩ, chắc phải dứt khoát cắt đứt liên hệ với những người lừng khừng, thụ động. Thời nay là thời loạn mà! Sống, không còn biết ơn, biết nghĩa của bao nhiêu đời mình vay mượn bằng máu, thì nên lánh xa, phải rồi.

Tới một địa bàn khác, mình nghĩ tới những đôi mắt sáng quắc tiễn đưa với bao nhiêu lời hứa hẹn ác liệt, chắc làm việc không biết mệt. Có còn muốn nói nữa chỉ có thể nói với những người này, mình gọi họ là chiến hữu, lâu rồi.

Mà còn những thằng bạn, ngày nào lặng lẽ bỏ vô bưng. Hồi này ra sao rồi? Gặp nhau, chắc nhiều chuyện để nói lắm.

Mới chớm nghĩ, mà thấy vui ghê!


Trong Lòng Cách Mạng (Tựa)

Biến cố 1975 đã khiến văn chương phải nhìn lại mình, phải lên tiếng nói. Không phải vì những bản án suồng sã của kẻ thù buộc văn chương phải nhìn lại mình mà vì trách nhiệm cần cảnh tỉnh. Không phải vì những đàn áp nghiệt ngã của kẻ thù buộc văn chương phải lên tiếng nói mà vì sự thật cần thốt nên lời.

Có người cho rằng văn chương hiện nay của chúng ta đang là văn chương thời thế. Người ta mặc nhiên thừa nhận rằng đã có lúc văn chương không-là-thời thế. Cái thứ văn chương đứng ngoài (đứng trên?) thời thế đã từng xoay lưng, làm lạ với trách nhiệm của văn chương phải chăng là văn chương đích thực, hay chỉ là sự vong thân của văn chương?

Ở giữa vòng vây của kẻ thù trong khi văn chương nhận lãnh trách nhiệm và lên tiếng cho sự thật thì ở chốn tự do người ta lại than thở cho tình trạng mất tự do của văn chương (?), người ta tìm cách phóng bút qui ẩn, hoặc người ta cố gắng dựng lại “cõi thiên đường đã mất” với ít nhiều miễn cưỡng.

Cũng may, đó chỉ là tâm bệnh của một số người không còn đất sống. Cũng may ở xứ người vẫn còn nhiều kẻ có lòng với văn chương, còn có Võ Hoàng. Tác phẩm của họ – ở đây là tập hợp tám truyện ngắn – không cần phải được (cái thói) xưng tụng (lẫn nhau), tô điểm bằng những mầu sắc lố lăng, giả tạo, vẫn đầy đủ sức sống mãnh liệt của một dân tộc. Tám mẩu chuyện dẫn người đọc vào một thế giới rất Việt Nam, cùng quẫn sau 1975 trong vòng vây bạo lực từ cuộc đổi đời bi thảm.

Trong Lòng Cách Mạng đã xác định một điều: Ở đâu đó trong từng nhân vật, cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục bằng cách thế riêng của mỗi người. Đó có phải là chủ đích của tác giả và là điều đáng kể nhất bây giờ?

Muà Hạ 1983
Cơ Sở Xuất Bản NHÂN VĂN


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.