Của Thương

VÕ HOÀNG

Bữa nay cúng cơm bà cụ.

Trời sâm sấp tối mà chị Mật vẫn chưa chịu đốt đèn cầy. Căn nhà tối om. Mấy đĩa đồ cúng bày sẵn trên bộ ngựa, ruồi bay vo ve trên đó, nhà lại im lặng, buồn thiu. Chị Mật cố nén một tiếng thở dài.

“Mấy bữa, nhắn chú sáu Nông ba bốn lần, ngang qua Sóc Xoài cho thằng nhỏ hay ngày cúng cơm, mà cũng không về…” Chị Mật chỉ dám hy vọng chút chút thôi chứ chắc gì thằng Còn xin về được. Vậy mà với một chút hy vọng đó, chị chờ nó hoài. Hồi chiều, vừa về tới đầu cầu nổi thôi, mà đã nghe nôn nao tưởng đâu gặp lại thằng em nửa năm nay đi biền biệt, ai dè nó vẫn chưa về.

Trời chiều lảng đảng, gió lạnh ngắt. Mọi hôm, giờ này chị thèm mặc áo lạnh, bữa nay mặc rồi cũng vậy. Chị có cảm tưởng cái áo càng ngày càng mỏng đi.

Năm ngoái, ý là bà con còn người này người nọ, không có thằng Còn, cũng thấy tủi thân quá đi. Thằng nhỏ đào kinh cách có ba bốn chục cây số mà xin về cũng không được. Rồi năm nay, đồ cúng toàn bo bo, khoai mì, lại ít xịt, đâu có dám mời ai. Nó mà lại không về nữa, buồn chịu gì nổi!

“Thiệt còn có hai chị em mà cũng như không!”

Chị Mật nhón chân nhìn về hướng chợ. Gần tối rồi, đã có người xuống bến ngồi sẵn chờ chuyến xe về Kiên Lương tài chót. Bên kia Tô Châu, quán cà phê quốc doanh đốt đèn sáng ra tới bờ sông. Cây cầu nổi bập bềnh theo từng con sóng chuyền từ ngoài cửa biển vào. Giờ này người ta qua lại lưa thưa. Chuyến xe chót về chưa?

Chị Mật nhớ quay quắt hình dáng nhỏ thó của thằng em trai bao nhiêu năm trời sống bên nhau. “Hồi sau này, nó ít nói và nhất là dễ nổi cáu, không phải chỉ với riêng chị, mà cả với bé cháu Thường. Lúc trước còn má, má luôn luôn khen rằng thằng này tính tình giống hệt ba, trầm mà dễ hoà đồng và giỏi chịu đựng. Nó đổi khác nhiều rồi!”

Ở cái tuổi còn nhẩy lò cò với nhau, thằng Còn là niềm vui duy nhất của chị Mật. Những buổi chiều lúc gia đình còn ở Ba Hòn, hai chị em ngồi hàng ba đánh thẻ. Hồi đó, thiệt vui làm sao!

“Chuyền chuyền một, một đôi.
Chuyền chuyền một, hai đôi.
Qua cầu, hầu thẻ, bẻ bàn, sang ngón, chọn tay…”

Thường thì hai chị em ít khi đôi co nhau phải nhờ tới má giải quyết. “Mà cái thằng đó, đã nói nó là cái thằng dễ làm hoà.”

Tưởng rằng hết chiến tranh rồi, cho dù có đang ở cảnh mồ côi, đang ở cảnh góa bụa, chị em đùm bọc nhau cũng qua ngày qua tháng. Dè đâu thằng nhỏ năm đầu còn lông nhông, năm sau đào kinh lai rai ít tháng tưởng cho xong việc, năm kế lại phải thi hành nghĩa vụ, không biết tới bao giờ thì thoát ra được.

Chị Mật ngẫm nghĩ mà thấy thương thằng em vô cùng tận. “Tội nghiệp nó còn khờ dại quá!”

Lúc chị Mật lấy chệt Tỷ, thằng Còn thôi học và xoay qua làm lơ xe, ít khi về nhà. Mà mỗi lần về là mua đủ thứ thập vật. Nó hay kề tai chị nói nhỏ: “Tóc mai đá đất bậu chê, nưng niu thằng chệt tư bề sọ không.” Chị mắng nó hỗn, và đòi mét anh Tỷ, nó trề môi:

“Chấp chị mét. Anh Tỷ không dám làm gì tui đâu. Thằng này cũng ngon lành lắm mà. Ôi chà, bận quần chẳng có dây lưng, bận áo nửa chừng, lửng dửng dái trâu. Chị thương anh chệt vì đâu?”

Những câu chọc ghẹo dẻo đeo này là má dạy nó, lúc anh Tỷ đang theo đuổi chị. Má chết mấy năm rồi, nó còn nhớ hoài. Thằng thiệt kỳ!

Vậy mà thằng nhỏ thương anh Tỷ không ngờ được. Cái ngày đem thây ảnh về cũng vừa lúc xe nó nằm tài ở Rạch Giá, nhắn một tiếng nó về liền và khóc suốt chặng đường xe. Tới nhà, nó thôi khóc và xoay qua trách mấy người lính đang có nhiệm vụ làm dàn chào:

“Tui không biết về quân sự mà điều cái đồn ở Ba So là cái đồn trước sau gì cũng bị đánh. Mấy cha chỉ huy dở sao mấy ông không can, giữ chi chỗ chết đó hoài.”

Bây giờ thì nó có đem cái lý luận về quân sự “không biết” này ra đôi co với những người cùng đơn vị không? Lần về kỳ trước, thằng nhỏ chỉ nhún vai: “Đi lính thời bình mất công thiệt, không khoái chút nào. Cho người ta ở nhà đi đánh cá sướng hơn.”

Nửa năm rồi, thằng Còn không về mặc dầu đơn vị đóng cách nhà có hai giờ đường xe. Chị Mật liếc về cái bộ ngựa. Con Thường đang cầm một đầu cái khăn rằn quay tít đuổi ruồi. Con nhỏ nhón gót hết cỡ cũng không cao hơn bộ ngựa được. Chị Mật rầy nó:

“Thôi đừng có tài khôn cô nhỏ. Quơ một hồi là bay hết mấy cái chưn đèn của người ta. Để đó.”

Con Thường ngừng tay, vò cái khăn rằn lại ôm vào bụng, nhăn nhó:

“Sao má không thắp nhang đi cho ruồi nó hết đậu?”

“Má chờ cậu Ba về mới thắp.”

“Cậu Ba đâu?”

“Cậu Ba chưa về.”

“Chừng nào cậu Ba về?”

“Ai biết.”

Chị Mật vừa liếc thấy một trong hai khúc khoai lang, trong túi áo của con Thường, nên nhăn mặt:

“Nữa rồi, sao con không ăn không ăn cho hết, chừa làm gì một củ khoai.”

Con Thường ngượng ngập, muốn nhét cả cái khăn rằn vô túi để che đi. Chị Mật ngồi xuống cạnh con:

“Má dặn cả chục lần rồi, sao con không nghe. Biểu ăn cho hết không được bỏ. Có đáng đánh đòn không?”

“Con ăn, con đâu có bỏ!”

“Ừ. Nó đâu có bỏ.” Chị Mật quay đi ngẫm nghĩ. Con nhỏ thiệt tình ngán ngược cái thứ khoai luộc này. Thường thì nó ăn hết nhưng thỉnh thoảng, chị thấy nó ngồi dựa cửa nhìn đăm đăm vào gói khoai không lộ vẻ gì cả. Một lát sau, tự con nhỏ gói mấy củ khoai lại rồi than đói bụng.

Kỳ! Nhưng làm sao bây giờ? Chị Mật biết rằng chính mình cũng thèm muốn một loại thức ăn thường nhật khác hơn thứ này. Đôi khi chị nghĩ đến một bữa cơm xa xôi nào đó ngày còn nhỏ, cơm nhão nhẹt mà phải ăn với cá bống kèo, vậy mà ngon ghê.

Hồi đó, má chị hay nói: “Cơm khô là cơm thảo, cơm nhão là cơm hà tiện. Nhà mình nghèo, nấu như vậy đỡ tốn hao hơn. Vậy là có phước lắm rồi đó con.”

Chị Mật thấy vui mà được nghĩ rằng má chị sống trọn vẹn cuộc đời ít nhất cũng để hưởng những cái phước đức khiêm tốn đó. Bữa cơm nhão, cá bống kèo đối với chị, bây giờ, là một kỷ niệm đã xa biệt ngàn.

Chị hiểu và ái ngại mỗi khi phải nhìn nỗi chán chường của con Thường. Lúc nó thôi phải ăn bột xoay là cũng vừa lúc loại thực phẩm này không còn bán nữa, và huê lợi của chị cũng không còn đủ để mua gạo mà ăn. Con nhỏ chỉ biết có khoai, lâu lâu thì bo bo. Nó không có được cái kỷ niệm vàng son của những bữa cơm có canh, có cá, cả nhà quây quần vui vẻ.

Bữa ăn của con nhỏ lâu nay, ở bất cứ đâu, chỉ là một gói lá xanh. Hồi này chị Mật phải đi vá lưới từ sáng sớm, tối mới về, và cấm con nhỏ không được ra khỏi nhà. Nó thích ngồi ở đầu bộ ngựa, mở gói ra gặm, gặm mệt thì ngã ra ngủ, ngủ đã, ngồi dậy gặm tiếp. Tới chiều làm gì cũng hết.

Sáng tới giờ, rán lắm, nó ăn hết một củ. “Sao chiều má về, má luộc thêm nhiều quá!” Nó thấy ớn lên tới óc. Nó liếc lên bộ ngựa, thè lưỡi:

“Bao nhiêu mà cậu Ba dám ăn hết lắm hả má!”

“Ừ, cậu Ba ăn nhiều, không phải như con đâu.”

“Con nhỏ, cậu Ba lớn. Cậu Ba đi lính rồi mà.”

Chị Mật đứng lên, lại nhìn về hướng chợ. Trời tối thiệt rồi. Chị kéo học tủ ra, khòm đầu xuống tìm diêm quẹt. Chị đi về phía kệ ván, rút lưỡi dao con chó cùn trong kẹt vách, khều cái tim đèn trứng vịt, xong chị bật diêm. Một thứ ánh sáng vàng mờ lan dần ra. Con Thường đặt chiếc khăn rằn lên bộ ngựa, chép miệng hỏi:

“Gần đi ngủ rồi sao cậu Ba chưa về vậy má?”

“Chắc cậu Ba đi chuyến chót.”

“Chuyến chót tới chưa má?”

“Ai biết, chắc chưa đâu.”

“Sao má biết chưa?”

“Ai biết.”

“Sao má nói chưa?”

“Ừ thôi! Đừng hỏi lăng nhăng.”

“Má chờ cậu Ba hoài sao?”

“Ừ, chờ hoài.”

Con nhỏ nghiêng nghiêng đầu:

“Cậu Ba không về đâu!”

“Bậy, sao con nói vậy?”

“Con sợ cậu Ba, cậu Ba ưa rầy con quá.”

Chị Mật phui đít ngồi xuống, đưa tay vò đầu con:

“Cậu Ba thương con, cậu Ba mới rầy con. Tại con không biết nên ghét cậu Ba.”

“Sao thương mà còn rầy?”

“Ai biết. Cậu Ba ẵm con hai ba năm trời chớ có ghét con đâu. Không được nói vậy, cậu Ba nghe buồn chết.”

Ba mất, rồi má mất. Không bao lâu anh Tỷ cũng mất, mất một tháng trước ngày “giải phóng” và con Thường được năm sáu tháng. Thằng Còn bỏ luôn nghề lơ xe về nhà, với cái ý tưởng mà thiệt tình cả hai chị em đều không muốn nói ra: “Về cho có chị có em, đùm bọc nhau trong thời buổi này.” Nhờ vậy, năm ngoái thằng nhỏ gánh luôn phần đào kinh của chị, mất hết mấy tháng trời, không than một tiếng.

“Cậu Ba thương con thiệt tình, mà cũng thương má nữa. Chút nữa cậu Ba về, thế nào cũng có mua đồ.”

“Mua cái gì má? Con khoái ổi xá lị.”

“Chắc cậu Ba mua ổi xá lị. Ở đó thiếu gì!”

Con Thường có vẻ vui, đi tới chỗ để cây đèn trứng vịt, kéo ghế đứng lên đó, với tay vặn cao lên một chút. Chị Mật quay nhìn nó, “thấy bộ dạng con nhỏ mà mắc tức cười. Quần thì cụt ngẳn, áo thì rộng rinh.” Chị lầm bầm:

“Đúng là con chệt!”

Rồi chị co hai chân lên, ngồi hẳn trên bộ ngựa, nhìm ngao ngán mấy dĩa đồ cúng. “Nó mà không về, bao nhiêu đây hai mẹ con ăn tới mốt cũng chưa hết!”

Ngoài sông, tiếng xe máy chạy xình xịch rồi lại có tiếng còi hụ. Chị Mật nghe mà thót ruột. “Ghe thực phẩm ở công trường xi măng về rồi, tức là chuyến xe tài chót ở Rạch Giá tới nãy giờ cả tiếng đồng hồ. Thằng Còn chắc không về thiệt!”

Con Thường rời khỏi ghế, nhẩy cò cò ra đằng trước. Bóng nó vừa khuất thì cũng vừa lúc nghe tiếng nó la lớn:

“Ông chú, ông chú Sáu…”

“Chú sáu Nông về, có thằng Còn không?” Chị Mật hấp tấp chạy ù ra cửa. Chị chưa kịp chào hỏi thì chú Sáu nói luôn:

“Chà! Hôm trước tao hỏi thăm không kỹ, nói với mày ba chớp ba nhoáng. Tao ghé chợ Sóc Xoài, hỏi thăm hai ba lần không ai biết ‘Đê ba mươi ba’ đóng ở đâu hết.”

Chị Mật lặng người. Hồi lâu, chị hỏi nhỏ:

“Vậy chú có hỏi cho biết tiểu đoàn thằng Còn đóng ở đâu không?”

“Không ai biết hết!”

Chú sáu Nông chà chà hai bàn chân lên khúc cây lót ngang cửa, tặc lưỡi nói tiếp:

“Tao có thấy, có lai rai lính địa phương, mà tụi này ở đâu bên Xà Tón qua, không ai ở Hà Tiên, Kiên Lương hết thì lấy gì mà hỏi thăm.”

Chị Mật nói cái giọng hơi hờn:

“Chú không hỏi được cái đơn vị đóng ở đây trước đổi đi đâu sao?”

“Mầy xuống đó mà hỏi!” Chú Sáu Nông lớn tiếng. “Cái con này! Mày hỏi lạng quạng người ta còng đầu mày liền chớ chơi sao. Chuyện nhà binh mà.”

Thấy ánh mắt chị Mật tối xầm mà xa vắng âm u quá, chú Sáu đâm thương hại:

“Thôi mầy! Thằng đó thì nhớ ngày cúng cơm bà già nó chớ. Không về được đúng ngày thì về trễ. Mai mốt nó về mà.”

“Chú nói. Tui muốn biết bây giờ nó ở đâu thôi. Còn ở xứ sở này thì thế nào cũng về.”

Con Thường lúc này kéo lệch xệch cái ghế đẩu lại bộ ngựa và bắt chân leo lên. Chú sáu Nông nói với nó:

“Coi chừng té à con. Mầy tính đốt đèn cùng ngoại mày đó hả?”

Chị Mật sấn lại, lôi con xuống, rồi quay qua chú sáu Nông:

“Thôi, chú cháu mình cúng cho rồi. Tui chờ hoài, mong cho có ai tới thì cúng. Một mình một thân mà cúng thì tủi lắm. Có chú đây, cũng đỡ.”

Thật ra thì chị chỉ chờ có mỗi thằng Còn. “Có hai chị em thôi, chờ ai bây giờ?” Chú sáu Nông rút một chân lên ghế, chép miệng:

“Ừ. Cũng hên là tao về kịp chớ đáng lẽ bữa nay là tao nằm đường rồi đó. Máy hư ở ngay khúc chùa Miên, sửa cả tiếng đồng hồ, tưởng đâu hết chạy.”

Con Thường không còn cái ghế nào, nó ngồi bẹp xuống đất, ngước mắt hỏi:

“Ông chú có thấy cậu Ba không?”

“Thấy đâu mà thấy?”

“Sao không thấy?”

“Ai mà biết. Thì tại không thấy!”

“Cậu Ba ở đâu?”

“Mày hỏi kỳ quá. Ông chú không thấy!”

“Cậu Ba đi đánh giặc phải không ông chú?”

“Ai biết.”

Chị Mật tựa cửa nhìn về hướng chợ. Trời tối om không thấy gì ngoài những ánh đèn chơm chớp. Chị đứng yên lặng thật lâu và quên khuấy đi mất nhang đèn đã sắp tàn. Chị không còn để ý đến câu chuyện đường xa chú sáu Nông đang say mê kể cho con Thường nghe. Cho đến khi tiếng ông vang vang:

“Chà, coi bộ hạ đèn được rồi à nghe. Nhang tàn gần hết rồi. Mầy đem ra sân cắm dưới chân bàn thờ ông Thiên đi Mật. Tao tắt đèn để dành mai mốt cúng quẩy gì, có mà xài.”

Chú sáu Nông dùng tay bóp mạnh vao ngọn đèn cầy đang cháy với cặp mắt thán phục của con Thường. Con nhỏ hối hả bê chưn đèn phía bên kia qua luôn:

“Ông chú hay quá, không nóng tay hả?”

“Không, ông chú quen rồi.”

“Quen gì?”

“Quen với lửa, quen cầm đồ nóng rồi.”

Chị Mật quay vô, hờ hững nhổ mấy cây nhang cắm trong lon gạo ra. Chị thẫn thờ thấy rõ. Chú Sáu Nông nói, như với chính mình:

“Cái con này! Nó làm như thằng kia đi không về là ở đâu rồi chắc!”

Chú cúi đầu suy nghĩ một chút, chép miệng tiếp, giọng nhỏ hơn:

“Mà thiệt tình không biết tin tức gì về thằng Còn hết.”

Chú theo chị Mật bước ra cửa. Ngoài trời tối, hai người ngó ra hai hướng khác nhau. Chị Mật vẫn như thói quen, nhìn qua chợ, còn chú sáu Nông nhìn ngược về mũi đèn. Xa hơn nữa, qua khỏi ngọn đồi đó là bên kia biên giới.

Chú lầm bầm:

“Bên kia biên giới. Biết đâu thằng Còn ở bên đó. Tội nghiệp.”

Chú quay lại. Chị Mật vẫn yên lặng nhìn về hướng chợ. Chị không biết đằng sau chị, chú Sáu lập lại trong bụng câu nói của chị hồi nãy: “Nó còn ở xứ này thì thế nào cũng về.”

Thiệt tình chú Sáu Nông chưa dám nghĩ tới chuyện thằng Còn không còn ở “xứ sở này” nữa, nhưng chú nghĩ tới hình ảnh một đạo quân xâm lăng, có thằng Còn trong đó cũng đủ phát ngán rồi. “Chắc gì nó còn về được!”

Chú bỏ mặc chị Mật ngoài sân, quay trở vô nhà đúng lúc con Thường móc túi lôi ra củ khoai và nhanh như chớp, bỏ vô trong mấy cái dĩa đã bày trên bộ ngựa.

Thấy chú vô, con nhỏ nhoẻn miệng cười bắt buộc chú cũng cười. Nhà lúc này còn độc nhất một cây đèn trứng vịt.


Trong Lòng Cách Mạng, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: