Góc Bể Bên Trời (13)

VÕ HOÀNG

Gần ba mươi tiếng đồng hồ chạy ở 165, chắc tới tối thế nào cũng lọt vô vịnh Djakarta. Thanh định làm gì cũng phải đậu ngủ chờ tới sáng mới vô trong được, “không biết có cái gì ở trỏng!”

Khoảng năm giờ chiều thì mọi người cùng lúc nhìn thấy hai chấm đen mờ mờ ở hai bên mũi ghe. Thằng Triều bấm còi hụ vang vang, la lớn:

“Đ. mẹ, thằng Thanh hay thiệt. Đi ngay phóc vô vịnh, không chịch một mắt me.”

Thanh không dám lạc quan như nó mặc dầu anh vẫn tin là mình đi đúng. Buổi chiều, trời trong vắt mà ở trước mặt, một thứ sương mờ giăng tràn phủ dài sát nước chụp lên những dãy đất chập chùng không thấy gì khác nữa. Theo anh, đó là loại sương mù bốc lên từ một thành phố đông người.

Hồi trưa, nghe thằng Chí càu nhàu chuyện gì đó thì Thanh thức giấc. Hỏi ra mới hay thằng Nghiêm giao lái lại cho Minh Quảng Ngãi, nó dặn dò chạy theo 165. Thằng nhỏ nghe ba chớp ba nhoáng cứ để 185 mà chạy, tới chừng thẳng Chí hay được, chiếc ghe đã chạy như thế gần hai tiếng đồng hồ. Thanh dậy, hỏi lại cặn kẽ. “Hai tiếng đồng hồ tuy không bao xa, nhưng muốn chạy thật đúng hai tiếng đồng hồ thì quả là lạc hơi xa.” Anh tính lại đoạn đường lạc và đổi hướng.

Bây giờ là sáu bẩy giờ chiều. Vụng nước nằm lọt trong vịnh Djakarta êm phẳng mặt. Thỉnh thoảng, bọn Thanh thấy được vài cánh buồm ở xa xa.

“Kỳ há Thanh,” Triều nói. “Xứ này mỏ dầu hỏa tùm lum mà dân thì đi bằng buồm không.”

“Ờ. Dân Nam Dương nghèo, nghèo hơn Việt Nam mình nhiều. Mầy xem cho kỹ, chút nữa có bóng tối, nếu hai bên mũi đất đều có đèn chớp là mình đi đúng vô vịnh, xem kỹ cho chắc ăn.”

“Chắc rồi, chắc ăn rồi! Cả đảo Java có hai mũi đất này nhô ra cao nhất, mầy không thấy trên bản đồ sao?”

“Thấy, nhưng mầy lấy gì làm chắc? Hồi trưa chạy lạc mấy tiếng đồng hồ rồi.”

“Nghỉ lại hay vô luôn, Thanh?” Chí hỏi.

“Nghỉ! Cửa biển lạ tao không dám vô ban đêm.”

Đàng trước, có mấy thằng đã lo dọn chỗ nằm. Trời còn sáng mà tụi nó đã lo rồi.

“Bữa nay ngủ khỏe thôi. Tao chấp hết thảy, mưa gió, bão cũng được. Cứ xuống hầm máy là ngủ tới sáng.”

Thanh không tiếp lời Triều, mà anh thấy rõ như vậy. Đêm nay là đêm an bình nhất trong gần nửa đoạn đường đi. “Hôm nay là ngày 17, mình rời Songkhla như vậy là gần mười ngày. Phượng đã lên Bangkok chưa?”

Bọn Thanh bỏ neo ở một góc phía trái của cửa khẩu Djakarta. Ở đó, Thanh nghĩ, mình không làm cản trở lối ra vào của tàu bè mà không ai nhìn thấy mình. Vả lại, gió mùa ban đêm dù có thổi mạnh đến thế nào cũng phải nhường dãy núi nhỏ chạy dài từ tuốt bên trong ra tới mũi đèn.

Đêm. Trời càng tối càng thấy nhiều đèn. Thứ đèn giăng hàng của tàu buôn buổi chiều bị sương mù làm chìm lỉm hình dáng với dãy đất xám xịt, xa lạ. Thanh kéo tấm chăn leo lên nóc cabine, nằm nghiêng người nhìn ngược ra biển. Có vài cánh buồm xuôi thong thả dò đường vào cửa. Xứ sở này có vẻ an bình quá!

Thanh chợt nghĩ đến Songkhla. Giờ này là giờ người ta thăm viếng nhau và ngồi đấu láo. Mười ngày qua đã có thêm bao nhiêu chiếc ghe nhập trại? Và khoảnh đất nhỏ đã phải chứa thêm bao nhiêu con người trong đó?

Thanh thở nhè nhẹ. Anh dang thẳng hai cánh tay, nằm ngửa mặt nhìn lên trời. Cái lúc trời đất giao nhau này chỉ là cái lúc để làm con người ta moi móc những uẩn khúc bị che kín trong hồn ra sống với nó. Đối với Thanh, cái uẩn khúc kỳ lạ mà Thanh nghĩ rằng nó sẽ còn mãi trong con người anh là những cảnh tượng sống xem ra có vẻ gượng ép, giả tạo nhưng thật sự nó được sắp đặt trước hay ít nhất, nó cũng không có chút gì gượng ép, giả tạo khi con người ta bắt đầu nhập cuộc.

Anh nghĩ tới mình, anh nghĩ tới những người thân và cảm thấy ai cũng vậy, mọi người đều được Trời Phật đặc ân ban phát cho cái tính khí đáng giá, cái tính khí dễ dàng hòa nhập với tất cả mọi sự thay đổi một cách gần như tự nhiên.

Ở bên nhà, ở bên đảo, người ta cằn nhằn chút đỉnh về việc nhà nước nắm quyền quản lý hết tất cả ghe thuyền, mọi thu hoạch và di chuyển của dân đánh cá đều phải qua sự kiểm soát của nhà nước. Rồi không lâu, người ta xoay qua việc rẫy bái, tất cả mọi câu chuyện đều hướng về đó, tự nhiên như những người lính nói đến một trận đánh có mình tham dự và nói đến số lương mình sẽ lãnh được trong tháng tới, không một chút mánh lới trong câu chuyện. Thanh cố nghĩ rằng, người ta đã sống trong quá nhiều sự thay đổi, có thay đổi nữa thì thật sự cũng chỉ là những thay đổi… Nhưng cái uẩn khúc nằm trong đó chỉ có thấy được khi nào Thanh nghe nói tới, chính những con người dễ dàng hòa nhập với sự thay đổi đó, họ tự làm một việc thay đổi cho chính họ.

“Thì mình cũng vậy!” Nếu không vậy, sao có ngày hôm nay, một thân một mình nơi cái đất nước xa lạ này?

Ở trại, những ngày đầu mới tới, Thanh thích nhất được nghe bất cứ ai kể lại những diễn tiến trong chuyến đi của họ. “Ghe tui nhỏ xíu mà chứa tất cả trăm mạng, con nít nó khóc tùm lum, thằng công an lấy vàng xong rồi mà còn hăm he đủ thứ, rồi máy hư hết một bloc, tụi Thái Lan lùa hết mọi người ra đàng trước…” Mới đầu, anh còn góp ý và chủ tâm ghi nhớ những biến động có vẻ nặng ký nhất. Sau một dạo, hình như chỉ được một hay hai tuần lễ, anh tự dưng sợ phải nghe tiếp bởi vì kết cuộc nào cũng đi tới một cuộc sống kỳ cục mà anh và mọi người đang sống, mặc dầu người kể không bao giờ đề cập tới.

Ở đó, người ta cãi nhau và đánh đấm nhau chỉ vì chia chác cho nhau không hợp lý. Ở đó, người ta ngậm ngùi nhường nhịn nhau những thiếu thốn, người ta cam tâm lường gạt nhau bởi những người có khi cả đời chưa biết lường gạt bao giờ, và người ta bắt đầu thương yêu thứ mà trước kia, nó là những thứ đáng ghét.

Có một điều, cho tới bây giờ Thanh vẫn chưa dám cho mình là nghĩ đúng, con người ta sẽ mất nhau kể từ khi rời bỏ cuộc sống ở đó, cuộc sống của những con người thường xuyên bị mất mát, thứ này hay thứ khác. Thanh nhớ dập dồn những ngày tháng ở Songkhla. Có khi anh nghĩ, mình không nên rời khỏi nơi đó, tới bao giờ cũng được.

Đêm tối thật rồi. Sương lạnh phủ trùm VNKG 0042, đàng trước mấy thằng vừa choàng chăn vừa ngồi đấu láo. Dưới cabine có tiếng thằng Chí chưởi thề và vài tiếng cãi cọ. Nó phát giác hai gói thuốc lá của ai đó giấu dưới hầm máy, trong một xách tay Air Việt Nam. Hỏi, không thằng nào nhận. Cuối cùng, biết chắc chắn là xách tay của thằng Thông, nó nắm ngực thằng nhỏ, cho hai thoi vào mặt. “Cái bình hơi” thương em, thành ra gây gỗ. Thanh lắng nghe:

“Sao mới đầu hỏi, không chịu nhận?” Tiếng thằng Chí chậm rãi.

“Nó nhỏ, nó sợ. Anh còn đánh nó làm gì.”

“Tui nói cho chị nghe. Trên ghe này, đi đường lạ coi như sống chết có nhau. Chị không thấy chiều qua tới giờ có ai còn hút thuốc không. Nó giấu như vậy, chị cho là phải chắc!”

“Nó bậy, nó bậy tui công nhận. Mà đánh như vậy còn gì thằng nhỏ.” “Cái bình hơi” đã khóc thành tiếng.

Thẳng Chí gằn giọng:

“Nó có phước lắm nên tui chưa bẻ cái mặt nó ngược ra đằng sau, chị biết không. Gặp thằng Văn, nó đạp cho mà gãy cổ chớ không phải chỉ có hai thoi đâu.”

“Cái bình hơi” không nói nữa, chỉ khóa rấm rức. Thanh thấy thằng Chí làm đúng, nhưng hơi nặng tay. “Nói cho thằng nhỏ biết một lần chắc cũng đủ rồi.” Đàng trước nghe động, tụi kia lục tục kéo vô:

“Oánh thấy mẹ! Thằng nào?” Tiếng thằng Văn.

“Thôi đủ rồi,” Chí nói. “Thằng Thông, tao bắt được, nó còn nói xóc họng. Nó biểu thuốc này của cảnh sát Singapore cho nó. Đ. má!”

Mấy đứa kia im thim thít. Thanh tung chăn nhảy xuống, anh lo thằng Văn làm ẩu thêm nữa.

Vậy mà cũng không kịp. Văn nhảy phóc xuống hầm máy, chỗ thằng Thông đang ngồi ôm mặt nhăn nhó, anh nghe vài cái ịch đụi. Thanh thòng đầu xuống hầm hét:

“Thôi, Văn. Đ. má, sao lại đánh hoài vậy?”

“Cho nó chết mẹ luôn, anh Thanh. Thằng nào cũng vậy hết. Tui ghét nhứt thứ này.”

Ngừng một chút, nó buông thõng:

“Đ. mẹ. Xả láng mà còn thủ!”

“Tao tưởng chuyện như vậy thì tụi bây nói với nhau là đủ, làm gì tới đấm đá,” Thanh đứng lên.

Thằng Thông đứng gượng dậy, đi qua mặt Văn và leo lên cabine, một bên mặt sưng húp. “Cái bình hơi” vừa nhìn thấy thì khóc to hơn. Thằng Văn leo theo:

“Bà Nhung, bà dạy lại nó. Tui cho bà hay, không phải tui ghét gì nó, mà thằng nào cũng vậy hết. Kiểu đó mà sống với tui, tui đánh từ sáng tới tối, mệt thì nghỉ, hết mệt đánh tiếp.”

Tội nghiệp “cái bình hơi.” Cô biết lỗi của thằng em gây ra và cái lỗi này đụng chạm với hết cả mọi người trên ghe, thành ra xoay qua mắng thằng em:

“Mầy thấy không! Làm như vậy, người ta không đánh sao được?”

Ai cũng nín thinh. Hình như mọi người đều thông cảm với cái đau xót của cô. Thằng Chí buông nhẹ, sau một cái thở dài và vừa quay đi:

“Chớ gì nữa! Chơi như vậy thì chơi với nhau đâu có tới tết.”

Thanh nắm vai thằng Thông, kéo lại:

“Chị Nhung lấy muối đắp mặt cho nó.” Anh quay qua ngó thẳng mặt Thông: “Còn mầy, liệu mà sống chung với nhau cho có tình, gặp khổ người ta không bỏ. Cái điệu này, bạn bè không đánh mầy thì trời cũng đánh mầy, mầy biết không?”

Thằng Thông im lặng, chịu đựng. Thanh hét mấy thằng kia đi nằm. “Mai sáng còn nhiều việc phải làm.” Anh leo trở lên nóc cabine trong khi bên dưới, thằng Triều mở radio rà đài, một thứ nhạc xa lạ thoáng phát ra, bất chợt nghe được thì nghĩ ngay đến việc mình đang ở một nơi cũng xa lạ, quá xa lạ. Thanh quên luôn cả việc có lần thằng Văn giấu lại mấy gói thuốc lá.


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: