Góc Bể Bên Trời (18)

VÕ HOÀNG

Mười một giờ sáng hôm sau thì bọn Thanh đi lọt vào con nước giữa hai hòn đảo Bali và Lombok. Con nước nằm ở khoảng kinh tuyến 116 về hướng đông và xuyên thẳng xuống Ấn Độ Dương đúng 180 độ.

Bắt đầu từ khi máy nổ buổi sáng sớm, không khí trong lành cộng với vẻ tấp nập của con đường hàng hải quốc tế làm cho Thanh thấy ấm cúng.

Hàng loạt những con tàu buôn xuôi ngược với đủ thứ quốc tịch. Thường thì họ nhìn bọn anh với cặp mắt là lạ, có khi họ cho tàu đi gần sát và bóp còi inh ỏi. Bên này, thằng Triều cũng không chịu thua, nó bóp còi trả lễ.

“Chiều tối là mình lọt xuống Ấn Độ Dương rồi nghe Triều. Chặng cuối đó, mà nguy nhất đó.”

“Sóng lớn không?”

“Ai biết. Nhưng chắc chắn là phải khá hơn bất cứ tháng nào trong năm. May cho mình lắm chớ không phải chơi đâu. Hồi đi, thật tình tao không nghĩ tới đoạn này. Mình tưởng nó cứ là biển như các biển khác.”

“Vậy thì khác cái gì?”

“Khác nhiều. Biển lớn khác nhiều. Mầy không thấy từ mặt nước lên cao tới gần phân nửa các dãy núi không có cây mọc sao? Sóng đánh quá mạnh thì cây cối nào chịu cho nổi. Mà đó là chỉ ở trong kinh này thôi. Mình lọt ra mặt nam của đảo này thì biết.”

Thằng Triều im lặng, suy nghĩ. Thanh tiếp:

“Sóng biển lớn thường thường thì không ảnh hưởng của gió mùa theo vùng nào cả. Nó quanh năm biển động. Nhưng mà không sao đâu, liên tiếp mấy ngày nay gió về hướng nam không hà. Ra tới đó, sóng có lớn cỡ nào cũng không thể bỏ vòi được. Ghe mình nhỏ thì chỉ sợ sóng bỏ vòi thôi, còn sóng lượn bằng cái núi cũng chấp.”

“Chà, chừng đó giống như là sãi ngựa, lên cao chót vót rồi xuống ào ào, sướng à.”

“Ừ. Tao cam đoan là mình sẽ không gặp rắc rối về sóng gió.”

“Chỉ cần máy không hư là yên chuyện,” thằng Chí góp ý. “Mà chắc không hư đâu.”

“Mầy chắc không? Phải hỏi lại thằng Trường, thằng Phong. Tụi nó là tài cải, tụi nó có quyền trả lời.”

“Đừng nói vậy chớ Triều. Chuyện hên xui ai biết được. Mà tao thì nghĩ vậy thôi. Tao tin là tao sẽ không chết ở tuổi này. Thầy bói nói mà.”

Thanh ngắt lời Chí:

“Mầy cũng tin dị đoan à?”

“Tin chút chút. Mầy không thấy có lần tao thắp nhang đó sao. Mình có lòng thành tốt hơn chớ!”

“Cái thằng không sợ người mà cũng biết sợ thần thánh. Làm như nó hiền đức lắm.” Thanh cười:

“Lúc nào mầy sợ chết, mầy mới vái ông bà phải không?”

Thằng Chí nghe nói thì nín. Triều cười lớn:

“Chớ gì nữa! Qua tai nạn thì nó quên hết trời phật, vái bao nhiêu bỏ luôn…”

“Giỡn mầy,” Chí cãi. “Tao công nhận tai qua nạn khỏi rồi thì ít khi tao nghĩ tới trời phật, nhưng đã vái cái gì là phải cúng cái đó. Uy tín mà!”

“Cái bình hơi” là gái, lại là gái xấu ỉnh, đêm qua nói tới chữ tín, bây giờ đến phiên thằng ba đá này nói tới uy tín. Thanh không nghĩ nhiều cũng biết được cả hai người đều nói thật lòng và anh tin ở lời nói của cả hai.

Thằng Chí cười, nói tiếp:

“Mầy còn nhớ thằng cha Ba Khước ngoài đầu Cồn không Thanh. Tụi tao đặt chả là cha Ba Gà.”

“Bị cá ba gà đâm phải không?”

“Không, mắc cười hơn.”

Triều xen lời hỏi với giọng ngạc nhiên:

“Cá ba gà gì?”

“Mầy biết cái mẹ gì con cá đó. Xứ mầy, chắc kêu là cá phướn đó. Ở Phú Quốc kêu là cá ba gà. Có người bị đâm, khóc mấy ngày mấy đêm, phải vái cúng ba con gà mới hết nhức.”

“Phải con cá nhỏ bằng hai ngón tay mà đẹp hơn cá lia thia Tàu nữa phải không?”

Thanh đáp ngay:

“Đó đó, nó đó. Đẹp lắm, hình như nó đẹp nhứt trong những con cá biển mà tao từng thấy. Nhỏ như vậy mà đâm một cái, thằng lì cỡ nào cũng la trời mấy ngày.”

“Rồi, tao biết rồi. Mà vái ba con gà có hết nhức không?”

“Ai biết đâu, tao nghe nói vậy thôi.”

“Còn chuyện cha Khước cha khẹo gì đó thì sao?”

Chí im lặng một lát, kể chầm chậm:

“Thì cũng là chuyện gặp điều lo sợ thì vái van vậy mà. Chả đi lưới ông Non ở ngoài cồn. Bữa đó gặp một mẻ cá bạc má lớn quá mà ông Non hồi nào tới giờ mang tiếng là đánh cá dở ẹc. Chả thấy mẻ cá quá lớn thì vái, vái thầm thôi, đánh trọn mẻ cá này cúng một con gà. Tới chừng bỏ lưới xuống, khấu ngáng lại rồi, thấy cá nó đóng quá, chìm hết phao, chìm mất luôn, bẩy tám người trục không lên, chả lại vái thầm là trục lên hết được cúng con gà nữa. Tụi bây biết không, đánh lưới xuống nước rồi, chín mười tiếng đồng hồ sau mới lấy hết lên được, cá nó muốn sình hết trơn. Từ đó mà chạy về cửa mấy tiếng đồng hồ nữa, còn mẹ gì, bán cho ai. Rồi tới cửa, ghe khẩm quá, lại sóng lớn, cha Khước vái nữa, vái là vô cửa bình yên cúng con gà nữa. Về tới cồn, cá sình rồi cũng phải tuôn lưới xuống nước cho rục đầu đặng mà rũ bỏ. Mặt chả buồn xo. Ông Non hỏi, chả nói là chả vái tổng cộng ba lần ba con gà mà không được đồng nào mẻ cá này. Tụi tao nghe, tụi tao cười từ đầu hôm cho tới sáng, ngủ thức dậy thì cười tiếp. Từ đó, ở dưới ghe, ai cũng kêu chả là cha Ba Gà.”

“Mà chả có cúng không?” Thanh hỏi.

“Cúng. Một hơi ba con gà, dưới ghe nhậu đã hết.”

“Ừ, phải cúng chớ!”

Triều tặc lưỡi:

“Đúng rồi, sống nghề biển đã không thể giỡn mặt với ông bà được. Coi vậy mà linh lắm.”

Chuyện có vậy mà đàng sau, tiếng cười A Kiếu vang vang lên. Tiếng thằng Chí kể chuyện bay theo gió lọt ra sau, mấy người con gái nghe chắc kỹ.

Không khí dưới ghe bữa nay vui hơn tất cả bữa nào hết. Trong cabine cả chục thằng nói chuyện huyên thuyên. Các câu chuyện mới đầu xoay quanh vụ ba con gà rồi dần dần chia ra hai ba tốp, đứa đứng đứa ngồi.

Thằng Hoà, thằng Văn xúm nhau xem xấp bản đồ Thanh bày ra trên tấm ván cạnh cái hải bàn, xì xào. Thanh bước ra ngoài. Gió heo thổi nhè nhẹ về phía trái ghe, lá cờ S.O.S. không biết rút dây hồi nào bay vật vờ. Thanh quay vô trong, nói trổng:

“Đứa nào ra lấy dây cột lá cờ lại. Mình đi đường trường đâu có cần phải trương lên.”

“Đi đường này khỏe hơn đi đường trong không Thanh?”

“Tao chắc là khỏe hơn.”

“Đường trong nhiều đá ngầm phải không?”

“Ừ, nhiều đá ngầm mà mình phải để ý nhiều thứ quá. Chẳng hạn như những hòn đảo nhỏ lớn chi chít, rồi sóng gió bất thường, mấy cái giáp nước tùm lum, nguy hiểm lắm. Mà đi lâu…”

Thằng Trường xoa xoa tay:

“Hai ngày nữa là phải thay nhớt nghe Thanh.”

“Ừ, hai ngày nữa, cao tay thì mình chỉ đi tới hòn đảo Lahaluta ở ngoài khơi Sumba. Ở đó, đậu núp trong sóng thay nhớt, nghỉ máy rồi trực chỉ tới Úc.”

Tụi kia nghe nói về đoạn đường cuối bằng giọng tỉnh táo và tự tin của Thanh, mặt đứa nào đứa nấy mừng lộ ra mặt.

Thằng Văn lần tay trên bản đồ, lầm bầm:

“Để coi… Lombok, rồi tới Sumbawa, rồi tới Sumba. Hòn đảo Lahuluta ở đây. Chà, sát một bên Úc. Đã thiệt.”

Hai ba đứa lại châu đầu xuống.

Thanh hỏi Trường:

“Chặng cuối mình phải đi tới gần bốn ngày. Không thay nhớt chắc được chớ gì?”

“Kẹt thì phải như vậy. Nếu không sóng lớn quá thì mình thả trôi mấy tiếng đồng hồ thay nhớt cũng được.”

“Không được. Ra tới đó mầy sẽ thấy nước nó chảy cỡ nào. Mấy tiếng đồng hồ nó trôi mấy trăm hải lý, làm sao mầy biết mầy ở đâu. Tới Úc được mà lọt vô đám sa mạc thì bỏ xác.”

“Neo không được sao Thanh?” Triều hỏi.

“Đó, ở trong lòng đảo Bali chỉ là màu xanh trắng mà xài hết bốn đường dây neo, neo mới tới. Ra khỏi con kinh này, màu xanh đậm. Tới khoảng hòn đảo Lahaluta thì xanh đậm đen. Mầy quăng neo chưa chìm tới đáy thì ghe mầy trôi biệt ngàn rồi.”

Thằng Văn lại lầm bầm:

“Để coi, đảo Lahaluta… ra một chút. Nước sâu mười tám ngàn. Mười tám ngàn gì vậy anh Thanh?”

“Bộ. Mười tám ngàn bộ tính ra gần sáu cây số. Sáu ngàn thước thì neo nào cho tới?”

“Teo thiệt. Cái này mà lọt xuống, chìm chưa tới đáy là sình nổi trở lên.”

“Bây giờ còn khoảng hai tiếng đồng hồ nữa là ra biển lớn. Kêu tụi nó nấu cơm ăn cho no, ra đó sóng lớn khó nấu lắm đó.”

Thằng Triều la lớn:

“Ê Thanh, cái tàu này nãy giờ tụi nó chạy cặp sát mình hoài, tao hụ còi mầy ra đàng trước phất áo kêu nó cho ghé lại mình xin đồ.”

“Thôi, mình có thiếu gì nữa đâu mà xin.”

“Thì kệ, đồ khô để dành lỡ có bề gì.”

Thật tình thì cũng không lấy làm chắc là mình sẽ không có bề gì. Tuy nhiên, theo Thanh, phải cặp một chiếc tàu để xin xỏ thứ này thứ kia chẳng qua ở những lúc anh không thể không xin.

Bắt đầu chặng đường này, ngay từ buổi chiều ra cửa Djakarta, Thanh tự nhủ, đoạn này mình có thể tự túc và tự giải quyết hết thảy mọi vấn đề. Cái tự ái mỗi lúc mỗi lớn sau những lần ghé tàu đã làm cho anh cảm thấy ái ngại mỗi khi nghĩ tới chuyện phải ghé lại chỗ này, phải ghé lại tàu kia…

Thằng Triều hụ còi. Đằng trước mấy thằng cởi áo quơ lia lịa, có đứa làm loa tay hú như Tarzan kêu voi. Năm bảy thằng thủy thủ nãy giờ đứng tựa bao lơn nói gì đó, chỉ chỉ chỏ chỏ qua bên này nhốn nháo.

Thằng Triều cho ghe chạy cặp gần hơn. “Ở trong kinh, tụi nó chạy tà tà quá. Mình chạy cỡ này có khi còn nhanh hơn nó.”

“Cây cờ chánh của nó cột ở đâu Thanh?”

“Ai biết đâu, nhưng phòng lái nó vẽ lá cờ lớn vòng qua tới bên kia đó.”

“Sao lại chữ thập màu xanh há!”

“Ừ, tụi Hy Lạp mà.”

Tàu Hy Lạp vẫn không đổi tốc độ. Khi thằng Triều cho ghe chạy gần lại, chiếc ghe nhẩy trườn lên những lượn sóng do tàu gây ra, bọt nước phủ tràn ra tới sau cabine. Thanh hét nhỏ:

“Thôi Triều. Tàu nó chạy mà gần làm sao được. Sóng đập ướt nhẹp hết.”

Cùng lúc, bên tàu mấy thằng thủy thủ động tay ném vài thứ qua ghe. Gần hết những thứ này lọt dưới nước. Đàng trước có thằng la:

“Nó cho đồ.”

Vài giây sau, lại có thằng la, nhỏ hơn:

“Đ. má nó. Nó liệng cam thúi.”

“Cam thúi.”

“Nó liệng, chớ không phải cho.”

Thanh lặng người. Anh bước hẳn ra ngoài, sau khi trườn mình hất tay thằng Triều và đẩy vô lăng về trái. Từ đó ra tới nắp hầm số hai có mấy bước, anh nghĩ thật nhanh và thầm mong đó là những trái cam tốt vì sức liệng và sức rơi, bị dập. “Để khỏi thấy xót xa, hay đúng hơn, để bớt thấy xót xa…”

Nhưng được vài bước, anh dừng lại, hét:

“Đ. má. Quăng bỏ hết. Quăng hết!”

Tụi kia chưa kịp ngơ ngác, Thanh nhỏ giọng lại:

“Không phải cam thúi đâu, xa quá mà, nó liệng qua dập hết. Không thằng nào ăn hết. Bỏ đi.”

Rồi anh quay trở vô, nghe đầu óc nặng chịch. “Cho dù thế nào, mình vẫn cảm thấy đau. Cố tránh không dám nhìn tận mắt những trái cam, cố nghĩ thật tốt lành về những trái cam mà cũng không ổn được. Đúng ra, nó cho mình cũng không nên cho bằng cách đó. Có lẽ tại vì nãy giờ, lá cờ S.O.S. bay vật vờ, tụi nó thấy tụi nó ghét.”

Thanh kéo hộc tủ lấy gói thuốc. Anh cầm ở tay mà cúi đầu suy nghĩ. “Thật ra cái thân phận mình chỉ có đồng bào mình hiểu với nhau. Thế giới này nhiều người vô tình quá.” Anh nhớ lại hình ảnh cô Linda, mục sư gì đó ở Songkhla, rồi viên Đại úy người Nam Dương, cố tìm một chút an ủi.

Thằng Văn trở vô cabine, một nửa người ướt sũng nước, nó nhăn nhăn:

“Cam thúi thiệt, anh Thanh à. Mẹ nó.”

“Ừ. Thay áo đi. Tiếp tụi nó nấu cơm nhanh, ăn cho kịp ra biển lớn…”


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: