Góc Bể Bên Trời (6)

VÕ HOÀNG

Mọi chuyện xem như ổn, vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Bây giờ thì Thanh mới cảm thấy mệt mỏi và cần phải nghỉ. Anh nhờ Chí kiểm điểm lại lần chót số người trên ghe, ghi hết vào một danh sách, kể luôn các cái “nghề” có thể “xài” được trên đường từ đây đến Úc.

“Mầy phải để ý đến chuyện gạo và nước nghe Thanh, còn phần ‘an ninh trật tự’ để tao lo. Dưới này, thằng nào lạng quạng là… chết mẹ với tao.”

Thanh an tâm. Chí là một thứ người của giang hồ. Ở Việt Nam, suốt sáu năm lính, nó toàn sống ở quân trường và quân lao ngoại trừ những thời gian ngắn trốn chui nhủi trong các xó xỉnh tối tăm, chia sớt và sống bằng bánh mì, cơm đụng của các chủ chứa, các động hút, hoặc các nơi giải hàng ăn cắp. Đôi khi, Thanh khám phá ra một vài điều lạ trong con người nó. Cái thằng “bạt mạng cô hồn” như vậy mà nó nói đến chuyện tương lai xa vời một cách chí tình. Những tháng ngày lăn lộn với cuộc sống tưởng không có ngày mai đó, Thanh gặp nó lần đầu tại một bàn cờ tướng trong con hẽm nhỏ ở ngã tư Tin Lành, Rạch Giá. Nó hỏi thăm về đảo Phú Quốc và có ý định sẽ ra đó đăng vào lính địa phương “cho nó nhàn, chớ đ. mẹ, sống như vậy hoài chán quá rồi, không biết bị bắt lúc nào.”

Thanh nhớ có lần nó nói với giọng thật nhỏ: “Má tao còn ở Hà Tiên, có chồng khác, tao thì không ưa ‘thằng chả’ đang sống với bà, đòi đánh lộn rồi bỏ đi biệt mấy năm nay đâu có về.” Nó nói đến những mánh khóe hủy hoại thân thể để được giải ngũ mặc dù dượng ghẻ nó thừa tiền để lo cho nó làm lính ma. Sau đó, nó về đảo thật.

Nó yêu đảo và nhớ đảo đến độ vào trại tỵ nạn, Thanh phải bỏ mất nửa ngày xâm cho nó cái hình đảo Phú Quốc bằng nắm tay trước ngực. “Mầy ngu quá, xâm bằng sữa con so, khi mầy ra nắng cái hình xâm sẽ đỏ ửng và nổi lên.” Nó tìm ở đâu được một cái ly nhỏ loại cạo gió, năn nỉ vợ thằng Khôi suốt buổi sáng xin được ít sữa. Thanh xâm cho nó và chưa thấy cái hình xâm nổi lên bao giờ. Đảo Phú Quốc chìm ẩn trong lòng nó, mất dạng.

Bây giờ nhìn bộ dáng khom khom của nó, tay cầm bút tay cầm giấy, Thanh thấy buồn buồn.

Trời chiều đã làm dịu cơn nóng. Thanh an lòng nghe tiếng máy nổ đều và mạnh biểu lộ một nguồn sinh lực còn dài. Triều thay tay lái, vừa lắc mạnh địa bàn vừa càu nhàu:

“Còn mấy tiếng đồng hồ nữa mới có sao mọc, cầm cái này mỏi tay thấy mẹ. Phải chi có cái gì nhắm hướng.”

“Tao mới khám phá ra mặt trời chiều không xê dịch hướng nhiều lắm thành ra mầy có thể chạy theo nắng. Nhìn cái bóng cột ngoài trước kia, chạy làm sao để nó lọt vào giữa hai ‘dây công’ của hầm số một, giữ như vậy hoài. Trời còn nắng mà. Nhưng rán hôm nay thôi, mai mình qua tới hải phận Mã Lai sẽ chạy cập bờ khỏi cần nó nữa, chừng đó thì chạy đêm lại mất công hơn. Mầy biết bao nhiêu thằng dưới ghe lái được, Triều?”

“Nhiều. Mình có thể chia mỗi ca hai thằng, mà mầy ngủ đi, ngủ tới tối, tới tao ngủ.”

“Ừ, thế nào thì mai mình cũng qua khỏi Thái Lan. Nhớ nhắc thay nhớt nghe.”

Đằng sau cabine, mấy “bà” con gái bắt đầu cãi nhau về chỗ nằm. Ngay ngày đầu tiên, Thanh đã cảm thấy khó chịu về tình trạng nầy. Gì chớ chuyện đàn bà thì Thanh chịu, không có ý kiến, nếu có chăng nữa cũng không giải quyết được gì, anh biết vậy. Ngay cả trong những tình thế cấp bách, cần đến một giải pháp có vẻ “nặng ký,” anh vẫn mắc phải thói quen nhường các bà một bước.

Vợ thằng Phong, chị đàn bà có cái giọng nói “cao” nhất, máy chạy ầm ầm vẫn không làm át đi được. Chị có vẻ là “sếp” trong bốn người đàn bà có mặt dưới ghe. Ngoại trừ thằng Phong và bốn bà, không ai biết bốn bà xuống ghe từ lúc nào, rồi những khi lộn xộn về máy móc, mấy bà ra làm sao. Điều chắc chắn là mấy bà xuống từ trước và không chịu lên kể cả lúc ghe phải cập bến trở lại vì máy không nổ.

Thật ra, theo tụi Chí, Văn, Thanh gọi họ bằng “bà” chớ họ đâu đã ra vẻ bà. Ba trong bọn họ, tuổi vào khoảng hai hai, hai ba, người còn lại là một cô… con nít, tuổi đâu mười bốn. Điều mắc cười là chuyến này cô không những đi theo tiếng gọi của tự do, của viễn ảnh một cuộc sống thoải mái hơn, cô còn… dứt khoát tư tưởng “bỏ cha mẹ già ở lại Songkhla nuôi đàn em dại khờ bụng bự, để ra đi theo tiếng gọi của con tim.” Thằng Văn nói thế!

Thanh chỉ biết chuyện này vài tuần sau khi nhập trại và không ngờ nó mãnh liệt đến thế. Chuyện hơi lạ nhưng anh chịu, không tìm cách để giải thích.

Vợ thằng Phong gọi cô là “con thịt chó.” Hình như ai cũng có quyền gọi cô bằng tên đó và chưa bao giờ Thanh thấy cô phản đối. Ông bố cô là một thứ “nhà giải phẫu,” giải phẫu… chó. Ở trại, những con chó rảnh rỗi, những con chó không chịu sống thỉnh thoảng đến viếng và ủy lạo đồng bào tỵ nạn. Bất kể ngày đêm, người ta đều hân hoan chào mừng chúng, ai cũng quyết tâm bắt cho kỳ được. Và cuối cùng đến tay “ông thịt chó” sau hai ba phút ục ặc trong những tấm poncho dìm sâu dưới nước. “Cô thịt chó” và một lũ em thừa hưởng cái tên “thân thiện” của ông bố, và chấp nhận – không biết từ lúc nào – như một tự nhiên.

Cô hiền và không thích gây sự. Nhiều lần Thanh bắt gặp cô nghiêm mặt lại và nhìn ra đâu xa xa, mà có vẻ như không nhìn gì hết. Vợ thằng Phong bảo cô nằm về phía bên phải cabine, chỗ gần ống khói nhất, cô ngoan ngoãn đẩy cái bị quần áo về phía đó và ngồi bó gối nhìn ra xa. Cạnh đó là A Kiếu, cô gái Tàu Chợ Lớn miễn cưỡng nằm xuống sau một hồi đôi co, Thanh nghe được tiếng “xì” thật dài của cô.

“Chưa biết cô nầy… đi theo ai đấy?”

“Thằng Nghiêm!”

Thanh chỉ đoán mò mà không chắc lắm vì ngày trước, cô mấy lần tới lều ngồi hằng giờ và chỉ chịu “vuốt lại mái tóc” khi thằng Nghiêm về đến. A Kiếu biết chắc Nghiêm sẽ đi trong chuyến này mặc dầu Nghiêm không nói. Điều làm Thanh buồn cười là thằng Nghiêm suốt ngày cứ uống rượu nằm vùi và tỏ vẻ… không màng thế sự, nó thường bỏ đi trước những khi A Kiếu tới lều. “Thế nào rồi cũng có chuyện lu bu,” Thanh nghĩ vậy.

Tự nhiên, Thanh nhỏm dậy đưa mắt dáo dác cố ý tìm Nghiêm. Để làm gì thì anh chưa biết nhưng anh chợt mỉm cười vì thằng Nghiêm đang như một ông thần, ngồi chễm trệ trên một phuy dầu nằm ngang trước mũi, bất động ra cái vẻ suy nghĩ lung lắm. Sắp có chuyện thật! Không biết nó nghĩ gì từ chiều hôm qua tới giờ…

Hình như thằng Triều cũng đang nghĩ đến chuyện nầy, nó quay lại Thanh:

“Không ngủ được hả? Mầy coi thằng Nghiêm nó ‘dô ga’ kìa, hôm qua tới giờ nó có vẻ khờ hơn mọi khi.”

“Ừ!” “Nghiêm khờ” bây giờ khờ hơn nữa. A Khiếu chứng tỏ tình yêu lần này quyết liệt quá làm thằng khờ chới với.

Thanh quay qua sau: “Tao như thằng Nghiêm, chắc tao đành yêu A Kiếu.”

Rồi anh lớn giọng: “A Kiếu, phải không A Kiếu?”

Cô gái Tàu nhỏm dậy, ngơ ngác. Chắc chắn cô không hiểu gì nhưng cũng ỏn ẻn cười. Tự dưng, Thanh cảm thấy hối hận ngay lúc đó. Đùa như thế, trong hoàn cảnh như thế này có đúng lúc chăng? Dù sao, con người ta sống, phải sống thực với lòng mình chứ, anh thường quan niệm như vậy mà!

Thanh tiu nghỉu ngã vật xuống sàn ghe, định bụng sẽ cố giấc ngủ. Triều lơ đãng hát nho nhỏ, giọng hát đong đưa, tiếng mất tiếng còn. Như nhớ ra điều gì, Thanh bật dậy ngay:

“Chết mầy rồi, Triều. Mầy hay gì chưa?”

“…?”

“Cái bình hơi” nó đi theo mầy phải không? Hay là mầy dắt nó theo?”

Không biết chiều nay “mắc cái giống gì,” Thanh nghĩ bâng quơ đủ thứ chuyện – thật ra có một chuyện những cặp tình nhân với nhiều khúc mắc trong chuyến đi nầy – không ăn nhập gì đến mình. Triều cung tay đấm lên trời, cười thành tiếng:

“Tao định nói mầy câu đó. Nhưng chắc tao hỏi lại nó thì hay hơn.”

Đến lượt Thanh cười. “Cái bình hơi” đi với thằng em trai tên Thông. Cô ta mập và cao lớn, rõ là một thứ người khổng lồ. Mỗi lần chen nhau đi ngược chiều dọc theo hai bên cabine ghe, Thanh phải vất vả chuyển tay vịn để eo người ra xa dành chỗ cho cô đi. Nhưng cái nét quá đẫy đà của cô không phải là lý do chính để có cái tên quái gỡ nầy. Tội nghiệp, người con gái thật xấu – xấu đến độ thằng Chí cho là “ghê thấy mẹ,” thằng Văn, thằng Giàu, những thằng nhiều chuyện hơn đàn bà cho là “chị ông kẹ” – lại cưu mang vào thân một cục bướu to tướng trước cổ. Cục bướu khốn khổ đó cộng thêm cái thân hình tròn trịa đáng thương của cô được bọn con trai “ăn cơm nhà, thổi tù và hàng xóm” kim loại hóa, thành ra cái tên “bình hơi,” mặc dù cô tên Nhung, tên đẹp chớ phải chơi đâu!

“Hình như cô ta thương mầy thiệt đó Triều, mầy phải suy nghĩ cho kỹ.”

“Nghĩ cái con mẹ tao. Đừng làm tao teo.”

“Tao nói thiệt đó.”

“Thôi mầy,” Triều nạt ngang.

Ở trại, bọn con trai tụm năm tụm ba nhắc đến “cái bình hơi” chỉ để cười và một điều rất tự nhiên là ai cũng nghĩ rằng cô ta mà thương người nào, người đó vô phúc lắm. Thanh chưa nghe cô ta hát lần nào, chớ nghe tụi nó nói lại, cô ta hát thật hay, “vì… hơi dài.”

“Để ngày mai rảnh rỗi, tao hỏi giùm cho,” Thanh vừa cười vừa nói. “Thế nào cũng có một buổi họp khoáng đại giải quyết thắc mắc và phân chia công tác.”

“Ngồi dậy, Thanh,” Triều la lớn. “Có một chiếc tàu Thái Lan ở phía trong đi ngược chiều với mình.”

Thanh vừa nằm xuống đã phải bật dậy. Chiếc nầy có phần lớn hơn chiếc đã gặp lúc trưa. Nó vẫn ung dung đi theo hướng đã định không có vẻ gì chứng tỏ muốn quay mũi về VNKG 0042. Thanh mong nó không chú ý đến mình. Anh lớn tiếng hét hai ba thằng đằng trước đang đứng xôn xao chỉ trỏ. Trời sắp tối rồi, cố thêm một tiếng đồng hồ nữa là đêm, chạy an toàn hơn.

“Đừng thêm ga, Triều. Chắc chắn sẽ không chạy thoát nếu tụi nó muốn rượt mình. Mà mầy chạy ga lớn, ghe mình sẽ có khói, tụi nó càng chú ý hơn.”

“Nó biết ghe mình là ghe Việt Nam thì giá nào nó cũng rượt!”

“À!” Tự nhiên Thanh nhớ ra. “Nhớ rồi, quay ngang về 90 đi Triều. Nó nhìn sau lưng mình thì khó mà nhận dạng được.”

Triều quay nhanh không cần hỏi thêm. Mặt trời chiều còn một ít, sóng chỉ gợn nhẹ thành ra bên trong nhìn ra bị chói, may ghê. Thanh bước hẳn ra ngoài nhìn chong về chiếc ghe Thái, anh cảm thấy an tâm.

“Với khoảng cách nầy, tụi nó rượt ít nhất cũng gần một tiếng đồng hồ mới bắt kịp mình, thì trời tối cha nó rồi. Mình ẹo đi một chút là đánh lạc hướng được ngay, ghe mình còn ga mà…”

“Mầy đáng là ông nội tao, Thanh. Bây giờ thì tao đ. sợ nó nữa.”

“Vậy chớ hồi nãy mầy teo?”

“Teo chớ! Tụi nó có súng là bốc c.”

Mấy bà vẫn còn sợ, ngồi túa về một phía bàn tán xì xào, ngoại trừ “cô thịt chó.”

Thêm mười lăm phút nữa, tuy khoảng cách không xa hơn bao nhiêu nhưng cả bọn an lòng vì biết chắc tàu Thái Lan không đổi hướng.

“Mình về 170 được rồi Triều. Cứ để y 170 ga cũ, không cần đổi nữa. Chắc phải nói với Cường, Hòa nấu cơm để tối có mà ăn.”

“Ừ! Ăn mì khô hoài khát nước thấy mẹ. Rán hôm nay nữa, sáng mai mình sẽ tổ chức lại tất cả.”

Thanh trở vào cabine, lần này thì nhất định không nói thêm một lời nào nữa, chỉ nghe và cố ngủ. Trời bắt đầu hơi lạnh nên mấy bà đàng sau đang phân chia chăn đắp, lại thêm một màn xí xó nhau…


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: