Góc Bể Bên Trời (16)

VÕ HOÀNG

“Đảo Paulo Kanglam là đảo này đây. Từ đây mà đi xuống tới con kênh cũng mất nửa ngày. Nếu mình không ghé ở Bali thì phải nghỉ máy ở đây.”

“Vô đây đi Thanh. Đừng ghé đảo lớn sợ gặp cảnh sát lôi thôi lắm.”

Thanh cũng nghĩ như Chí. Nước uống sắp cạn, cần phải lấy thêm mặc dầu nước đá vẫn còn đủ cho bọn anh đi tới Úc. Thanh bước vô cabine, quăng mạnh xấp bản đồ lên bục:

“Lòn qua mặt bên kia kiếm chỗ êm hơn đậu nghỉ máy ít tiếng đồng hồ, tối chạy tiếp.”

Triều không nói gì, chỉ bập bập điếu thuốc.

Ba giờ chiều mà trời không có nắng, lại còn lành lạnh. Thanh chồm người lấy cái áo khoác của Canh, rút hai chân co vào ngực, nhìn vào đảo.

“Trên này chắc có người ở. Đảo cũng lớn lắm, Triều hả?”

“Ừ.”

Thanh lay thằng Hòa đang quấn một cục to tướng trong góc sàn cabine, sát phòng lái:

“Dậy. Dậy. Vô lấy nước, Hòa.”

Thằng nhỏ ngóc dậy, ngó bâng quơ, vừa định kéo chăn trùm tiếp thì Thanh vò đầu, la tiếp:

“Dậy đi, dậy hết đi.”

Triều bớt ga, máy chạy chậm chậm tìm chỗ tốt bỏ neo. Bất chợt đàng trước thằng Minh Quảng Ngãi la lớn:

“Có người, trên đảo có người.”

Ba bốn người, mỗi người một chiếc xuồng bơi dọc theo bờ biển cát trắng, nhìn đúng chỗ là thấy rất rõ. Thanh bước ra ngoài sau khi nói với Triều:

“Để ga nhỏ nhỏ, đừng lớn lắm, chạy vô trong một chút đi.”

“Tụi này đi xuồng giống mọi quá, Thanh hén.”

Thằng Chí nói xong thì đi lần về phía sau, nó hét tụi kia soạn thùng nhựa sẵn sàng chút nữa lấy nước ngọt. Thanh vịn tay vào cái bè bên trái, cố nhìn cho rõ ở trong để đánh giá mức độ an toàn cho mình khi phải ghé vào đó. Suốt một dọc bãi cát trắng, có thêm vài chiếc xuồng được kéo, kê hờ hững, không thấy một mái nhà nào trên đó.

Có gì bên trong?

Đảo Kanglam lớn bằng hai hòn Xưởng, nhưng chắc cũng có người. Dân Nam Dương, trước Thanh học địa lý có biết, đông và kém văn minh. Có nhiều nơi chính phủ trung ương vẫn chưa kiểm soát được. “Không biết tụi này có cà răng căng tai và ăn thịt người hay không?”

Ba chiếc xuồng có người rẽ một vòng ngắn rồi bơi thẳng ra ghe. Lúc này, khoảng cách còn chừng hai trăm thước.

Nhựt, anh em bà con với thằng Minh Quảng Ngãi đi lần về phía Thanh, nói nhỏ:

“Tui nói tiếng Nam Dương được chút chút, để tui hỏi thăm tụi nó nghe anh Thanh!”

“Nhớ là mình chỉ chủ ý ghé lên lấy nước ngọt thôi nghe. Không ổn thì thôi, ghé đảo lớn cũng được.”

“Dạ, để tui hỏi thử.”

Mười mấy cái thùng nhựa sẵn sàng để dọc theo be. Thằng Chí cẩn thận móc những khúc cây vạt nhọn đầu ở hầm mũi lên, quăng cho mấy thằng đang đứng xớ rớ đằng trước. Tất cả im lặng.

Đàng sau cũng im tiếng mấy bà.

Tới gần hơn. Ba người dân Nam Dương không mặc áo, chỉ có một mảnh chăn quấn ngang bụng, không giống váy, cũng không giống xà rông của người Thái. Da tụi nó đen bóng như thoa mỡ.

“Hỏi tụi nó, đây là đâu, Nhựt?”

Thằng Nhựt làm loa tay nói líu lo như mọi trong các phim thám hiểm. Tụi kia đồng loạt ngưng chèo. Một trong ba thằng đáp lại.

“Nó nói là cái gì đó, tui không hiểu. Mà thấy tụi này có vẻ hiền lắm, anh Thanh à.”

“Ừ, hiền thì hiền, nhưng nói với tụi nó, mình cần nước uống thôi, vô lấy xong thì đi ngay.”

“Chắc được!”

Khi ba chiếc xuồng áp sát vào ghe, hai ba đứa ở Nam Dương lâu ngày khom người xuống nói xí xố xí xào, thằng Văn la to bằng tiếng Anh:

“Nước, nước.”

Nó cầm cái thùng nhựa đưa lên cao.

Thằng Nhựt quay lên:

“Tụi nó biết rồi, tụi nó chỉ ở đầu gành đàng kia có nước, mình chạy ghe về phía đó đi anh Thanh.”

Thanh nhìn về hướng tay thằng Nhựt và thằng Nam Dương cùng chỉ. Những gành đá không lớn mà dài nằm san sát trên mặt nước. Chung quanh, rong rêu và bọt biển nổi lều bều chứng tỏ không được an toàn lắm. Anh nói:

“Chắc mình chỉ đậu được ở đây thôi rồi đổ bộ về đó lấy nước. Chạy ghe qua đó nguy hiểm lắm.”

Thanh nghĩ lại mấy tháng trước lúc ghé lại hòn Gầm Ghì cho người dưới ghe lên bờ đã bị kê lên đá. Mối nguy lớn tới độ xuýt nữa anh, thằng Hòa và hai thằng nhỏ nữa bỏ xác ngoài khơi nếu không gặp ghe Thái Lan vớt kịp. Thật thì ghe chỉ bị dộp một ít dưới đáy, nhưng chạy đường trường thì cái nguy càng lúc càng lớn. May là bọn anh đi được suốt đêm và nửa ngày hôm sau nữa, tới được lằn đánh cá của tụi Thái Lan.

Còn bây giờ, “có bề gì, lo làm sao nổi.” Trong khi mình vẫn có thể làm được chuyện với một chút khó khăn hơn, mà an toàn.

“Anh Thanh, nó nói mình cho nó tấm lều vải, nó sẽ chở nước ra đây cho mình.”

“Đâu được!” Chí nói. “Lều vải để che mưa che nắng mà cho cái gì, mình có một cái thôi mà.”

Thằng Nhựt quay xuống phân bua với người Nam Dương, cả hai thằng đều có vẻ không được vui.

Thanh thấy vấn đề không phải ở chỗ đặt điều kiện này nọ để trao đổi mà ở chỗ anh biết được những người trên đảo không có ý xấu với bọn anh là tốt rồi. Anh nói với thằng Phong đang đứng gãi đùi bên cạnh:

“Lấy mấy cái áo, cái quần lính, đồ của Liên Hiệp Quốc cho, cái nào không xài đem ra cho tụi này, chắc tụi nó cũng khoái như thường. Tụi này nghèo quá.”

Phong quay đi một lát, nó ôm ra một đống đủ thứ quần áo lâu nay nằm lang thang trong hốc kẹt. Thằng Nhựt vớ ngay một cái có vẻ tốt nhất, cúi xuống.

Kết cuộc, những người Nam Dương bơi xuồng trở vô với những cái thùng nhựa và đống quần áo cũ. Tụi nó có vẻ hài lòng lắm.

Thằng “bộ đội” chợt la bai bải:

“Chết mẹ rồi, cái áo của tui!”

“Kệ!” Phong cười. “Đồ Việt Cộng để làm gì?”

“Kỷ niệm! Tui để dành, nhớ ông già tui.”

“Mẹ mầy, ông già mầy là Việt Cộng hả? Qua Úc, người ta cho mầy đồ ‘vét’ mà mặc, mặc chi mấy cái thứ đó. Cảnh sát Úc còng tay mầy.”

Thằng “bộ đội” nín khe.

“Chắc tụi này không phản phé đâu Thanh há. Tụi này hiền quá.”

“Tụi nó hiền thiệt. Thôi bây giờ tắt máy nghỉ một lát, nấu cơm ăn tối chạy tiếp.”

Hùng, Hồng, Nghiêm dở hầm số hai lôi lên mấy con cá bè khô xách về phía sau. Tiếng chẻ củi phá rách không khí im vắng của buổi trưa âm u ở đây. Cảnh vật chung quanh gần như bất động, trông sao mà buồn quá.

Nửa tiếng đồng hồ sau thì một loạt sáu bảy chiếc xuồng từ trong bãi cát bơi thẳng ra. Không thấy những cái thùng nhựa bên trên. Thằng Triều tặc lưỡi:

“Mẹ, mấy cái thùng đâu hết trơn rồi. Có chuyện gì nữa đây!”

Tới gần thì rõ ra rằng những cái thùng nhựa chứa đầy nước ngọt vặn cứng nắp được cột dọc theo hai bên xuồng chìm dưới nước. Tụi này cột thùng bằng một loại dây rừng mà ở Việt Nam không thấy có. Trên xuồng, ngoài mớ quần áo cũ lúc nãy, có thêm những trái bí rợ to tướng.

Thằng Nhựt chỉ trỏ mấy trái bí, nói cười huyên thuyên, hai ba thằng Nam Dương cùng cười.

Những trái bí được chuyền lên trước tiên rồi lần lượt những cái thùng nước. Thằng Chí trở ra với thêm một đống quần áo ôm trước bụng. Nó quăng xuống một chiếc xuồng gần nhất. Mấy người Nam Dương thoáng một chút ngạc nhiên.

Tình hình cởi mở và vui vẻ hơn khi thằng Nhựt cho hay, những người Nam Dương sẽ chở thêm bí và thịt ra cho. Hỏi thịt gì thì thằng Nhựt không biết.

Tám cái thùng nhựa nước ngọt được đổ vội vàng vào thùng chứa và quăng trở lại xuồng. Còn bao nhiêu thùng khác, cả bọn chuyền nhau đem xuống hầm sau lái. Phải chờ thêm một chuyến nữa.

“Bí này dẻo mà ngọt lắm đó!” tiếng “cái bình hơi.” “Cậu Hùng đưa đây tui chặt cho. Nhỏ nhỏ thôi…”

“Sao chị biết ngọt, biết dẻo?”

“Đó, coi cái màu của nó.”

“Hay quá ta!”

Đàng sau xôn xao nấu nướng. “Cô thịt chó” với A Kiếu khệ nệ bê nửa cái thùng phuy chắt bỏ nước vo gạo. Thằng Nghiêm đứng cạnh đó, chỉ nhìn chớ không chịu tiếp tay. Thanh cảm thấy mắc cười trong bụng.

Gần nửa tháng nay, ít khi thằng Nghiêm léo ra chỗ mấy bà trú đóng. Nó với A Kiếu hình như không nói chuyện với nhau tiếng nào. Câu chuyện tình hình như đã không còn hấp dẫn như lúc ở trại đối với A Kiếu. Mà chắc thằng Nghiêm cũng muốn như vậy.

Cái đêm cuối cùng ở Djakarta, thằng “bộ đội” trên bờ xuống, thỏ thẻ với Trường rằng nó thấy A Kiếu ngồi ăn chè đậu đen với thằng Hải mà “hai người có vẻ tình lắm.”

Trường rầy nó:

“Chuyện của người ta, mầy xía vô làm gì. Con nít con nôi, kệ người ta.”

“Thì tui thấy vậy, tui nói vậy, xía cái gì đâu?”

“Vậy là xía rồi đó,” Thanh cười góp chuyện.

“Anh Thanh, sao anh Nghiêm làm tỉnh hay quá vậy. Tui thấy, tui phục ảnh ghê.”

“Vậy chớ như mầy, mầy làm tỉnh không được sao?”

“Đâu được anh, người ta thương mình, mình không thương lại là có tội chớ sao.”

Thằng Trường trề môi:

“Mẹ mầy. Mầy sợ tội với “con thịt chó” chắc!”

Thằng “bộ đội” nín ngay. Nó không muốn ai nhắc “cô thịt chó” trước mặt nó.

Chuyện thằng Nghiêm, Thanh chỉ mong cho nó được như vậy, ít ra cũng đỡ lu bu hơn. Chẳng qua, một đằng thì thờ ơ đã đành, một đàng thì cần thiết có sự che chở trên bước đường xa lắc không chắc tới bến tới bờ… Vậy cũng xong!

A Kiếu còn ông già bà già và hai đứa em ở Songkhla và nghe đâu có người anh ở Gia Nã Đại bảo lãnh, còn đang lo cho đủ tiền vé phi cơ là điều kiện của phái đoàn Gia Nã Đại như thế. Gia đình cô ở trại cả năm rồi.

Cô không đẹp, nhưng thật thà và làm gì cũng làm chí tình. Những ngày đầu, Thanh để ý thấy cô vẫn còn liếc trộm thằng Nghiêm mà sắc mặt không lộ vẻ gì gọi là cay đắng lắm, cho tới khi một buổi sáng mờ thay lái, Thanh thấy Hải và cô ngồi nói chuyện thì thào ngoài sau, cạnh thùng nước uống.

Mà sao thằng Nghiêm biết chuyện, lại có vẻ “khờ” hơn trước? Thanh nghĩ không ra.

Vợ thằng Phong cằn nhằn nho nhỏ gì đó, có lẽ đứa nào lấy mất cái áo khoác lâu nay cô ta dùng làm gối kê đầu. Xong thì ngồi ôm gối nhìn ra biển, không để ý gì đến xung quanh.

Mấy chiếc xuồng lại trở ra, vẫn mang theo nước uống, bí rợ và có thêm mấy xâu thịt khô. Thằng Nhựt nhăn mặt hỏi mấy câu. Một thằng dưới xuồng nói một hơi rồi cúi người giả cách bơi hai tay, mặt úp xuống.

“À, con vít cỏ,” Triều la lớn.

“Phải rồi, vít cỏ!” Phong la theo.

Thằng Triều làm như rành lắm, nó bô bô:

“Xứ tui kêu là vít cỏ, có nơi kêu là con thịt. Nó giống như con đồi mồi, con ba ba, con rùa đó mà.”

Thằng Phong ngồi hẳn xuống, lật qua lật lại mấy xâu thịt, chép miệng:

“Thứ này mà nướng vàng vàng, có rượu thuốc là uống chết bỏ.”

“Ê, có hai loại ‘thịt’ nghe!” Triều nói, nó cúi xuống. “Thứ này là ‘thịt mỏng’ nè, ăn được. Còn ‘thịt dày’ thì độc lắm. Người ta kêu là ‘vít lửa’ mà. Nó ăn toàn rong độc và sứa lửa, mình ăn nhằm một cái, trào máu họng, chết tại mâm luôn chớ phải chơi đâu.”

Những điều này, Thanh biết. Anh có nghe nhiều người chết vì loại thịt này rồi. Thằng “bộ đội” thắc mắc:

“Vậy làm sao biết được?”

“Sao không! Thịt dày cái thớ thịt của nó lớn hơn, mà trên lưng ít hơn mười ba vẩy. Thứ nào nhiều hơn mười ba vẩy là ăn được.”

Thằng “bộ đội” có vẻ phục nên gục gặc đầu, nói thầm thì:

“Ờ, ờ, vít lửa, ăn trào máu họng.”

Đứa nào cũng châu đầu vào cố xem cho được mấy xâu thịt khô. Những người Nam Dương nói với nhau gì đó rồi lấy dầm đập đập nước cho văng vào nhau, cười hăng hắc. Thanh thấy vui lây với cảnh vật ở đây.

Hoàn cảnh nào, xứ sở nào cũng vậy. Hễ có tiếng cười là con người thấy vui. “Mà kỳ! Tiếng cười và tiếng khóc của bất cứ giống người nào cũng đều giống nhau.”


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: