Góc Bể Bên Trời (11)

VÕ HOÀNG

3 giờ sáng ngày 15 tháng 3, VNKG 0042 gặp một trận bão khủng khiếp giữa biển khơi. Từ đó đi tới cửa khẩu tỉnh Banju Asink, nơi có thể núp sóng được tới mười tiếng đồng hồ.

Hai mươi bốn giờ kể từ đêm qua gặp mưa lớn, mặc dầu sóng không to, Thanh đã tưởng mình thoát ra được vùng khí hậu kỳ lạ bị bao che bởi các hòn đảo nhỏ chi chít. Vậy mà bây giờ phải thực sự đương đầu với trận bão này. Thì ra ở biển lớn, hai mươi bốn giờ chỉ là hai mươi bốn giờ, không là cái gì khác hơn.

Anh lầm bầm:

“Mẹ. Hai mươi bốn giờ xuôi gió xuống nam với ga 900 cũng không đi tới đâu thật!”

Năm sáu đứa nhớn nhác ôm chăn gối chạy lúp xúp vào cabine. Tấm tăng che sàn ghe mặc dầu đã được cuốn lại, cột cẩn thận vẫn bị gió thổi bức dây và văng mất. Một cái nắp hầm bị sóng tràn lên và trôi đi. Thanh biết rằng lúc này là lúc phải nhớ lại và làm theo những gì đã nghe được trong muôn ngàn câu chuyện về biển cả trước đây. Anh ôm ghì vô lăng xoay về trái để “phân ba” một loạt những ngọn sóng đang hùng hổ từ đằng trước ùa tới.

“Văng mất nắp hầm số bốn, chưa sao đâu!”

Hầm đó nhỏ và kín, nước vào đó chỉ thoát qua các hầm kế bằng hai “lỗ lù” bằng ngón chân cái. Anh hét nhỏ để trấn an Triều và tiếp:

“Xuống hầm máy, hầm số 3 tìm cách đóng kín hai lỗ lù lại. Mau lên Triều, kêu thằng nào tiếp.”

“Sao được! Lấy cái gì mà ém?”

“Đ. má,” Thanh hét, “lấy cây thằng Chí vạt nhọn sẵn rồi đó, quấn vải đóng nhẹ thôi nghe. Tét ván là thấy mẹ hết.”

Triều phóng xuống hầm máy. Thanh kéo phăng hộc tủ quơ một mớ đinh vụn nhụi vào tay thằng Hùng, kê sát tai nó:

“Kéo đại cái mền của ai cũng được, kêu thêm hai ba thằng ra căng đóng kín hầm số 4 lại. Nhớ lót thêm một cây ngang miệng hầm. Nó bọc nước thì tuột hết đó.”

Sóng đánh ngã ụp một bên vách cabine. Thanh nghe tiếng mấy đứa la ơi ới. Thằng Hùng chạy trở vào, một tay lau mặt, tay kia quăng mạng tấm mền xuống, nó thở từng chập:

“Nước đầy hầm rồi, còn đóng lại chi nữa.”

Nước đầy hầm số 4. Vậy là xong một việc, chỉ còn giữ làm sao cho nước khỏi qua các hầm khác. Cái may nhất, theo Thanh nghĩ là nhờ ở những người rảnh rỗi suốt chặng đường từ Trengganu tới Singapore, anh lục lạo và lần lượt đi khắp các ngõ ngách trên ghe với chủ ý thường tình: “thử xem nó như thế nào!” Anh biết hầm số 4 và số 2 kín, dùng để chứa nước đá.

Rồi tới đêm qua, mưa to, to đến độ anh nhìn những hạt mưa thật nặng rơi trên cánh cửa chống phòng lái mà liên tưởng tới những ngày tháng mưa dầm ở xứ mình. Mưa gãy cành cây, mưa xoáy lở đất rồi nước chảy trôi cầu, trôi nhà. Sáng ra, anh bảo Văn tìm cho đủ số đinh “một tấc” đóng hờ vào gáy những nắp hầm “tới chuyện, xách búa ra vỗ là yên chuyện.”

Nhưng không yên được. Sóng đánh trôi chiếc bè bên phải và kéo theo chiếc nắp hầm trốc cả đinh. Ghê thiệt! Bây giờ thì chiếc bè bên trái theo nhịp sóng đưa qua đưa lại và có thể trôi mất bất cứ lúc nào. Dây cột không ăn nhằm gì. Cánh cửa kính đàng trước mặt phòng lái chịu không nổi cái uốn vặn của cabine, nứt nẻ và cong lồi ra. Thanh quơ cán búa tống hết những mảnh kính chưa chịu buông hẳn ra ngoài.

“Ai không có phận sự xuống hầm máy hết đi,” Thanh hét. “Xuống dưới cho vững ghe.”

“Xuống hầm máy!” thằng Văn nói chuyền ra sau. “Xuống hết, xuống hết.”

Có mấy người ngần ngại. Thanh hiểu ý, anh nói lớn:

“Cứ xuống hầm đi, ở trên này ghe có chìm cũng không ai sống nổi đâu, nhảy lội cũng không sống được đâu. Xuống cho ghe nặng đáy, ít lắc. Xuống đi.”

“Không được,” tiếng “cái bình hơi.” “Anh Thanh, xuống dưới là em ói.”

“Ừ, xuống là ói,” vợ thằng Phong tiếp lời. “Ở trên này ướt thì ướt.”

“Xuống, xuống hết.”

Văn vừa hét vừa nhận đầu thằng Hòa đang lom khom chun vào cửa hầm máy. Thằng nhỏ chưa vào lọt thì chiếc ghe dội cao lên và nghiêng hết về bên trái, hết vịn được, nó té lăn. Thằng Văn tiếp tục hét, cuối cùng thì xuống hết, “cái bình hơi” cũng xuống, vợ thằng Phong cũng xuống.

“Bơm lườn còn bơm không, Văn?”

“Còn, bơm cọ cũng còn! Mình cách bờ xa không anh Thanh?”

Cách bờ bao xa? Ai mà biết được. Gần hai tiếng đồng hồ bỏ hướng, chạy ga nhỏ chế sóng, không hiểu mình đang ở chỗ nào. Sáng, Thanh bẻ cấp sau khi đi hết cái hòn nhỏ cuối cùng trong nhóm hòn nằm về phía đông Sumatra, con đường cách những dãy đá ngầm khoảng mười dặm, tương đương với một giờ xe chạy. Qua hai tiếng đồng hồ nếu đi sai hướng quá xa, bọn anh gặp hai điều nguy hiểm. Thứ nhất, dãy hòn nằm ngoài khơi về phía tay trái của lộ trình, thứ hai là dãy đá ngầm. Thanh không ngờ đến lúc này mình lọt vào cái thế thụ động hoàn toàn, nguyên do chỉ vì không nắm vững được tình hình.

“Cứ cái đà này, đến khi nào kê lên đá hay vô hòn mới hay là có chuyện,” Thanh nghĩ. Anh cố giữ thật lặng trí một lúc, nhưng không được. Có quá nhiều nỗi lo âu dồn nén, anh thấy mình yếu đuối quá.

Thanh lấy lái lại đúng 180. Chiếc ghe chịu liên tiếp hai ba lượn sóng trong tư thế buông xuôi, nó cúi gập lại và sắp gãy làm đôi. Thanh nhìn địa bàn, cơn bực tức ở đâu kéo tới. Anh giận mình ngu si không đủ kiến thức để tìm biết những biến chuyển liên quan tới cái sống và cái chết của chính mình.

“Còn đang ở nhịp một, mình vẫn chạy 160. Sóng đi đúng trước mặt.” Thanh nghĩ lại, mấy tiếng đồng hồ qua chế sóng, Thanh có thói quen, hay đúng hơn, vì không thể làm khác hơn được, anh thường quay một ít về phải để “phân ba.” Thanh đoán và rất muốn quả quyết rằng mình đang đi trên đường tới những dãy đá ngầm nằm bên phải của lộ trình. Những dãy đá ngầm không ai có thể thấy được trừ phi thuyền bị kê lên đó, những dãy đá ngầm mà trong hải đồ năm mươi hải lý một phân tây là những cái “đót” mờ mờ bắt đầu từ một voi đất khổng lồ của Sumatra lan ra tứ tung.

Làm sao mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra trong ba giây đồng hồ tới?

Mưa vẫn ào ào, sóng vẫn dồn dập.

Bây giờ thì chắc chắn không ai nghĩ tới cái lạnh. Trên cabine còn lại năm đứa, năm đứa im lặng theo đuổi ý nghĩ riêng tư. Thanh nhớ một trong những câu chuyện ngày trước, cha Sáu Leo kể cho nghe một vụ đi thuyền gặp bão, lão dùng ngón tay trỏ chỉ thẳng vào mặt Thanh:

“Tao nói cho mầy biết, gặp bão, sóng ít sợ hơn gió. Mầy cứ để ga nhỏ mà lạng, qua được mấy ngọn là có khả năng qua luôn. Tắt máy hoặc đậu lại, nó vật mầy chết liền. Bỏ hết những cái gì làm cản gió. Gió, mà là gió bão biển kỳ lắm, nó theo mầy tới hết trận chứ không như sóng đâu.”

Cái khó của anh là bây giờ phải làm sao không ngừng lại và phải làm sao không đi tiếp nữa. Hình ảnh của một chiếc ghe gỗ va phải đá ngầm đã thực sự tan nát và bồng bềnh trong đầu anh.

“Đậu lại nó vật chết liền.” Nhưng đi tới hoài ghê quá. Mình đang ở đâu trong cái hải đồ này?

Làm thế nào bây giờ?

Thanh nghĩ tới những người thân yêu. Thanh nghĩ tới cha già, anh có cảm tưởng mình được sinh ra chỉ để khắc phục những cái khó khăn vô lý do chính mình gây ra. Trong hoàn cảnh này, Thanh cố tìm một lời lẽ thật thân ái để trách mình. Đối với người cha già, trọn một đời anh chỉ biết nghe lời mà rất ít khi làm theo lời. Anh thèm được có cha bên cạnh trong giờ phút này. Cái cảnh “cốt nhục lưu ly đạo lộ trung” này thật ra ai mà muốn!

Thanh nhớ lại câu nói của Cha và hình như chỉ là câu nói duy nhất suốt ba tiếng đồng hồ buổi nói chuyện cuối cùng anh gặp người:

“Ở xứ người, có thể cuộc sống dễ dàng hơn, nhưng cũng có thể càng ngày càng thấy thiếu thốn nhiều thứ hơn. Con đi, rán mà sống cho khéo để đừng bao giờ phải ân hận về việc mình đã làm.”

Ừ, mới có mấy tháng mà Thanh biết mình mỗi ngày mỗi thiếu đi những thứ mà trước tới giờ, anh không ngờ là mình có. Còn sống cho khéo để đừng bao giờ phải ân hận thì đó là điều Thanh chịu. Bao nhiêu năm, anh chưa bao giờ thử nghĩ xem công việc mình đang làm rồi “nó sẽ ra sao” ra làm sao cả. Bằng chứng là giờ phút này, anh đang sống trong một tâm trạng quá sức lạ ít nhất cũng trong ý tưởng của anh.

Mỗi người có một cái số! Thanh trấn an mình và chợt nghĩ đến Phượng, đến quyển kinh Quan Đế. Hiện giờ quyển kinh còn nằm yên trong hộc tủ. Đêm qua, lúc bắt đầu đoạn đường mà anh cho là gian nan nhất, đoạn đường bắt đầu từ Singapore đi Djakarta, lần thứ nhất anh mở quyển kinh ra, thật tình là “để xem cho biết.” Vậy mà thằng Hòa liếc thấy và quay đi, mỉm cười. Thanh mắng nó:

“Mẹ mầy! Thằng tò mò. Tao chỉ coi thử coi nó ra làm sao thôi mà. Mầy cười cái gì?”

“Chà chà… Vui cười không được chắc!”

Thanh đành nín. Thằng Hòa nói thêm:

“Anh Thanh coi vậy mà có duyên ghê ta ơi. Tui mà được như vậy, nói thiệt với anh, tui ở lại trại, tới đâu thì tới.”

Thanh cũng cảm thấy mình có duyên. Anh quăng cho thằng Hòa một điếu thuốc và vừa cười mỉm vừa xem tiếp quyển kinh.

Trong trang đầu tiên Thanh đã thấy hơi lạ, anh lật tới. Tiếp đó là hai tờ giấy đô la xanh, mười đồng tất cả. Tội nghiệp, Phượng nhín lại, chia sẻ với Thanh những cái nhỏ nhặt như thế này sao? Anh thật sự xúc động.

Có thêm một mảnh giấy, Phượng viết vào đó địa chỉ của người bà con ở Mỹ. “Khi nào tới Úc thì liên lạc với địa chỉ này, Phượng ở đâu cũng biết được tin anh.”

Sau đó, Thanh dùng hai ba cái túi nylon gói quyển kinh lại cẩn thận. Anh viết thêm ngoài bìa: “Ai lượm được quyển kinh trên biển, xin chuyển về địa chỉ trong này.”

Thanh áp mình vào hộc tủ. Sóng lớn đánh ngã tất cả những thứ rời rạc trong phòng lái, sóng lớn làm anh không đủ thăng bằng mở được hộc tủ. Anh muốn đem quyển kinh ra và bỏ vào người.

“Chuyện gì sẽ xảy tới? Ai biết được.”

Với cái tâm trạng như thế kéo dài, thêm một lúc nữa Thanh cảm thấy mình rã rời, thân thể đau điếng, đầu óc nhức buốt. Anh chỉ còn biết nhìn thẳng đàng trước, những ngọn sóng bạc cao ngất không còn nghĩa lý gì với cái bất chấp của một lũ người bất chấp. Thanh quay lại như một cái máy, theo đà nghiêng của chiếc ghe. Tiếng máy lúc này như có vẻ hằn học, trách móc.

Rồi trời chợt bớt gió. Nhưng gió đổi ngọn, không lớn mà rít lên nghe rởn óc. Gió xoay chiều tứ hướng theo đà quay của chiếc ghe trốn sóng.

“Mình lọt vô đám hòn rồi!” Thanh nghĩ.

Lọt vô đám hòn phải lọt vô dãy đá ngầm ngang dọc bủa chung quanh đám hòn. Nhưng sóng vẫn lớn và có vẻ lớn hơn trước. Thanh buông lái:

“Triều lái đi Triều. Tao ra đằng trước.”

“Chi vậy?” Triều hỏi.

Để làm gì thì chính Thanh cũng không biết. Anh phóng ra mưa, gió thổi tạt vô mặt, rồi gió thổi từ đằng sau nhưng càng lúc càng thấy yếu đi. Trời lạnh thật lạnh.

Như thế, năm mười phút qua, Thanh chưa biết mình phải làm gì. Anh nghĩ mãi một điều, mưa gió và sóng nước từ đầu hôm tới giờ không tạo ra cái lạnh là lạ này. Thanh muốn quả quyết là mình ở rất gần những hòn đảo, và cái lạnh này là cái lạnh thoát ra từ đá. Ở quê anh, những người ngư phủ kể cho nhau nghe, về mùa bấc “ở ngoài biển khơi coi vậy mà ít lạnh, vô cửa biển, ngang qua mấy dãy đá giăng lại lạnh thấu xương, lạnh của giáp nước, lạnh của đá.”

Thằng Văn bước ra. Nó qua mặt Thanh và bò sát xuống cạnh hầm số bốn dùng tay kéo tấm mền lên coi thử, xong nó lắc đầu:

“Nước đầy thiệt! Ghê quá.”

Thanh chống tay vào be ghe, anh lần về phía trước và quay lại hét vào tai Văn:

“Ra bỏ neo với tao. Neo lại đi.”

“Hả? Neo làm chi. Lạnh quá!”

“Neo lại. Bớt gió rồi.”

“Sóng lớn lắm!”

Thanh chùn lại. Sóng vẫn còn lớn lắm, anh thấy mình không viện được lý do để thuyết phục Văn. Trong ghe, Triều và Chí nghe tới bỏ neo, hai thằng cùng lên tiếng:

“Neo làm gì?”

“Bộ khùng sao Thanh? Neo sao được!”

Thanh im lặng, suy nghĩ. Hồi lâu anh vịn tay vào cánh cửa sổ phòng lái chồm người vào cabine, nhỏ giọng:

“Tao sợ mình đang lọt vô đám đá ngầm!”

“Bậy,” thằng Triều cố cãi. “Nó cách mình xa lắm mà, chạy thẳng chưa chắc đã tới.”

“Không xa lắm!” Thanh nghĩ tiếp. Cái đà sóng và gió cộng thêm nhiều lần “phân ba” của anh, chiếc ghe lạc đường về phía phải của lộ trình một khoảng không thể tính chính xác được. Tuy nhiên, cái linh cảm vẫn mạnh trong anh. Thanh nhìn ra mưa, nói không cần ai nghe:

“Kệ! Tao ra bỏ neo một mình vậy.”

Mặt Thanh đanh lại. Anh đã quyết định, và cố gượng gạo bò về trước giữa trời tối om.

Thằng Văn theo liền, nó cố nói:

“Đừng neo, anh Thanh. Mình để ga nhỏ xíu mà sợ cái gì.”

“Nghe tao một lần này đi Văn. Tiếp tao.”

Thanh cố đạp cái neo về một bên theo đà nghiêng của chiếc ghe. Nhưng anh không dở lên nổi, vì một tay phải vịn vào be.

“Neo là chết, anh Thanh à.”

“Mầy chết, tao sống chắc! Neo liền đi.”

Cuối cùng thằng Văn tặc lưỡi, không nói nữa. Nó ôm xốc một cái móc mỏ neo lên, Thanh đàng đuôi, anh dùng chân đạp cuộn dây ra một khoảng trống cạnh hầm số một. Chiếc neo nhào xuống nước.

“Dây ngừng chạy là tóm liền nghe. Rồi anh la lớn, bớt ga, trả số đi Triều. Bớt ga, trả số.”

“Neo rồi hả?” Tiếng Chí trong cabine.

“Neo rồi, bớt ga trả số.”

Thằng Văn đã tóm xong mối neo, nó lom khom bò về đàng sau. Thanh ôm gốc cột khoảng giữa hai hầm trước nhịn thở lắng nghe.

Bây giờ thì lại lọt vô tình trạng đáng sợ hơn nữa. Sóng đánh, sóng bốc ghe lên cao, anh nghe được tiếng của sườn ghe bị kéo ngược ra lắc rắc. Anh lầm bầm những tiếng chửi thề.

Thằng Triều la lớn, vừa bò ra:

“Đ. má, một hồi nó xé banh chiếc ghe ra à Thanh. Tao teo quá, chặt neo đi.”

“Không,” Thanh quả quyết.

Ngừng một chút, anh tiếp:

“Kêu thêm ba bốn đứa nữa ra chịu neo.”

“Là làm sao?” Triều hỏi.

“Đ. má, ngu quá. Là mình không tóm chết mối. Ba bốn thằng chịu dây neo lại, sóng đưa xuống thì phăng, sóng đưa lên thì nhả ra. Mầy vô trong lái, tao kêu tới thì tới, tao kêu lui thì lui.”

“Vậy neo làm mẹ gì,” Triều vừa nói vừa bò ngược vô cabine.

“Neo để neo chớ làm mẹ gì!” Thanh nghĩ. Trong lúc này, cái neo được coi là mục tiêu và bọn anh làm thế nào không được rời xa quá mục tiêu đó. Nghĩa là ghe vẫn có quyền chạy ga nhỏ chế sóng và vẫn biết được mình không phải di chuyển nhiều quá trong biển nước đang cuồng nộ.

“Thấy dây chùng lại thì phăng liền nghe tụi bây, để nó quấn chân vịt là chết mẹ hết.”

Dây nghiêng quá, anh hét và Triều dời chỗ cho đến khi sợi dây neo ở vào một góc độ tương đối.

5.30 giờ. Mưa vẫn dai dẳng nhưng sóng đã dịu hẳn đi, không còn bủa vòi nữa. Thanh đã dám tóm dây neo lại và cả bọn ngồi rải rác dựa be ghe nhìn về cái cabine bể vụn một bên vách. Qua cơn rồi!

“Mình xuống hầm được rồi, Thanh hả. Tao muốn nằm thẳng cẳng một chút.”

Thằng Triều bò đi. Chí cũng bò đi, nhưng quay lại:

“Tao kêu mấy thằng lên coi chừng.”

“Yên rồi! Thanh nói, đừng tắt máy ghe nghe Chí. Kêu thằng Phong coi chừng lại hai cái bơm.”

Thanh không xuống hầm vì thật tình anh không chịu được mùi dầu ấp ủ dưới hầm máy, hóc nào cũng nóng hừng hực. Mà mấy hầm trước thì khóa đinh hết rồi.

Anh nằm đại xuống sàn ghe, xoay một bên người cho nước khỏi bắn vào mặt nói thầm:

“Nằm đây cho thẳng cẳng, sóng đưa thì lăn qua lăn lại, ăn nhằm gì, ‘xuống hầm thì em ói.'”

Trong cabine đèn bật sáng trở lại. Thằng Phong chắc đã tìm ra chỗ đứt của đường dây điện rồi.


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: