Góc Bể Bên Trời (1)

VÕ HOÀNG

Chiều xuống thật chậm như muốn kéo dài cuộc sống buồn tủi, một thứ buồn tủi đầy ngập khoảng đất lớn chỉ bằng cái sân bóng tròn chứa hơn hai ngàn người. Songkhla có những buổi sáng hối hả, những buổi trưa hừng hực nóng và những buổi tối thổn thức cho tất cả những người ở đó.

Hôm nào không có thêm người nhập trại là y như ai cũng có vẻ uể oải, chán chường. Người ta xoay qua để ý và gấu ó nhau từng chút chung quanh cuộc sống. Đằng kia cãi cọ nhau vì mấy “đồ mất dạy” mới chạng vạng tối mà đã xúm nhau leo lên mái thiếc giành giựt chia chác chỗ nằm, rồi thì “bọn khốn nạn” bên dưới tạt nước ướt cả chân. Gần dưới bến, mấy người lại chửi bới nhau về việc trả góp vàng bạc không sòng phẳng mà câu chuyện đã được gác qua nhiều ngày, rảnh rang lại đem ra như một thứ đề tài tiêu khiển. Đằng sau văn phòng trại cũng có chuyện tranh nhau sắp thùng lấy nước và gọi nhau bằng những “con đĩ.”

Năm tháng trời, trong cái cabine nhỏ tí xíu xiêu vẹo gần như nằm giữa lòng khoảng đất trại, Thanh nghe đã đủ hết những danh từ khó ưa này và thường thường mọi chuyện được giải quyết bằng một chuyện khác mới xảy đến, mục sư đem thư vô chẳng hạn, ghe Việt Nam tới hay cảnh sát Thái xách roi đi ngang qua đó.

Người ta hay vừa thấp thỏm chờ mong vừa nguyền rủa một ngày sắp tới. Không có gì được xem như là một hứa hẹn. Thanh không ngờ cuộc đời mình rồi cũng có lúc ngồi khoanh tay mỗi ngày nhìn lá cờ Thái Lan hai lần lên xuống không một chút cảm giác. Làm sao diễn tả cho đúng thực thể của một exodus có mình trong đó? Chung quanh anh bây giờ thật sự là những cuộc sống thuần tính chất quê hương, một thứ tính chất được lọc bằng nhiều năm tháng chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ. Đôi lúc anh chợt cười mỉm một mình khi nghĩ rằng hồi nào xa khỏi nơi đây, chắc lại tiếc nhớ. Đối với anh, ngày tháng ở Songkhla phải là những ngày tháng được đặt vào chỗ trang trọng nhất trong cuộc đời ly hương. Một chút gì không ổn mà nhẹ nhàng chen lẫn vào sự khắt khe trong con người anh từ cái chuyện đám thanh niên lều kế bên vừa chưởi thề, vừa học Anh văn, rồi một bà vừa phun nước bọt vừa càu nhàu mấy đứa con sao không chịu giữ gìn sạch sẽ, cho đến ông cụ già vận xà rông ngồi xổm nguyền rủa mấy người con gái “Việt Nam mà bầy đặt nói tiếng Thái với nhau.”

“Chị Phượng, cho em mượn cuốn Hương Rừng Cà Mau đọc đỡ buồn. Hôm qua em thấy nhỏ Thu cầm. Hồi ở nhà em có đọc một lần…”

“Phải giữ gìn cho kỹ, nghe chưa! Hay là nằm đây đọc cho xong, lôi đi bỏ mất thì tiếc lắm đó.”

“Em giữ cho mà, ở đây ồn ào quá.”

“Ở đâu cũng ồn. Hôm nay có thơ không?”

“Có, của thằng bạn ở Tây Đức. Chị biết không, em thích nhất là truyện ngắn gì mà có anh nhà báo đi thâu tiền báo của độc giả dài hạn, rồi không thâu được lại còn bị dằng dai triết lý, chuyện đâu hồi học lớp ba trường làng cũng đem ra bàn luận. Vậy mà Sơn Nam viết hay ghê.”

“Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư!”

“Đúng rồi. Còn một truyện gì nữa, người lái đò già cuối cùng thì nghĩ rằng ‘trên đời sống, cần nhất là tấm lòng…’”

“Chị cũng thích đoạn đó, nhưng mà cũng quên tựa. Văn Sơn Nam hay thật hén!”

“Dạ.”

Mẫu đối thoại lọt vào giữa trăm ngàn âm thanh loạn xạ vậy mà Thanh nghe không sót một tiếng. Người con gái đó, cùng gia đình thoát đi từ cửa sông Ông Đốc hồi tháng chạp. Nghe kể thì cô ta bỏ quên nhiều thứ đồ đạc để chỉ nhớ có cái thùng giấy trong đó toàn sách và băng nhạc. Người con gái buổi chiều thường hay ngồi trầm ngâm, có hỏi nghĩ gì thì trả lời “đang nghĩ đến những buổi chiều ở Chùa Lá,” và hỏi lại, “anh có biết Chùa Lá không?” hoặc, “đang nghĩ đến những buổi chiều sau Tết này năm nào, một hôm có người bạn ghé thăm vào buổi chiều hôm trước thì chiều hôm sau nghe tin anh chết ở chiến trường Lộc Ninh…”

Cô hay nói đến những buổi chiều, những buổi chiều xa lắc, và câu chuyện được cô nói như đọc một đoạn văn đã được trau chuốt từng chữ. Lần đầu tiên, Thanh để ý tới người con gái này khi cô hồn nhiên vui đùa với những người ngư dân đảo Phú Quốc lều bên cạnh. Chưa đầy một tháng tiếp xúc nhau, cô có vẻ như là một dân đảo thứ thiệt. Một trang hồi ký dở dang có lần Phượng để quên trong quyển sách của Remarque và cho Thanh mượn:

Họ là con cháu những người đến lập nghiệp từ Thanh Hóa, Nghệ An vào thời chúa Nguyễn Phúc Ánh hãy còn bôn ba và liên tiếp hơn một thế kỷ sau đó. Sự chất phác của họ đã làm con người tôi thật sự thay đổi ít nhất cũng ở khía cạnh cư xử với nhau trong một loại người mà trước kia tôi ít khi lưu tâm tới. Có điều tôi chưa hiểu nổi và vẫn ao ước làm sao để sống lại ít nhất cũng vài năm ở ngay trên đảo bằng chính cái không khí bình thản đó – tôi nghĩ vậy – cái không khí đã tạo cho con người ta lúc nào cũng có vẻ an phận.

Họ dễ thương trong tất cả mọi sinh hoạt, nhất là lúc họ đùa giỡn với nhau…

Thanh mỉm cười. Giá mà Phượng biết rõ hơn gần hết những người dân đảo qua đến trại này, đa số là thanh niên, họ đến bằng những chiếc thuyền vừa cướp được. Cướp của hợp tác xã ngư nghiệp, cướp của công an biên phòng, cướp của những người “an phận” chưa kịp tháo chạy, cướp trên biển, cướp tại bến, cướp ngay trạm kiểm soát…

Hoàn cảnh xã hội đã biến những “con người dễ thương trong tất cả mọi sinh hoạt” này thành những kẻ liều lĩnh như thế đó. Và Phượng có biết được đâu, đêm nay họ lại sẽ cướp thuyền của cảnh sát Thái Lan để chấp nhận trở lại những ngày kinh hoàng trên biển chỉ vì mấy hôm nay, tình trạng căng thẳng do những xung đột giữa dân trong trại và cảnh sát mà chính họ là những thủ phạm sắp bị phát giác.

Tháng ngày ở đây đã bóp chặt sự thông cảm của con người lại. Nó làm lớn dậy những bực dọc nhỏ nhất mà Thanh nghĩ, nếu ở một hoàn cảnh khác, người ta sẽ bỏ qua một cách dễ dàng. Rồi thì bao nhiêu thứ gom vào một, thành ra bùng vỡ một cách hơi vô lý. Thanh cảm thông được với bạn bè vì những rắc rối này, nhưng Phượng thì làm sao hiểu được?

Trời không một chút gió, thành ra tiếng ồn ào như có vẻ lớn hơn mọi ngày. Thanh nhìn ra cổng rào, cố nghĩ tới một tâm trạng tương tự như vầy đã có lần nào đến trong đời mình chưa mà mãi không ra.

Hồng về đến trước lều và thuận tay dọn dẹp vội vàng những thứ đồ đạc bừa bãi. Nó chui nhanh vào lều, thỏ thẻ:

“Anh Thanh à, anh Hai chỉ tìm được một cái địa bàn nhỏ loại của bộ binh thôi, anh biểu tạm thời anh xài, ra khơi gặp tàu buôn thể nào cũng xin được hải bàn.”

“Gặp anh Triều đâu không? Anh đang tìm… Còn thằng Phong, thằng Chí nữa.”

“Đủ hết đằng lều anh Hào. Hồi nãy cảnh sát đánh người ở dưới bến, mấy người Phan Thiết, tụi nó lên cậy ván ghe làm củi. Chưa có gì đả động đến ghe mình hết.”

Thanh xỏ dép đi nhanh về phía lều thằng Hào.

Ghe mình! Thằng Hồng dùng tiếng “ghe mình” làm Thanh lại chợt mỉm cười. Đến trại được hai ngày, mọi chiếc ghe đều trở thành một thứ tặng vật của cảnh sát Thái. Người ta không có một dịp để gật đầu, không có một dịp để ký nhận bất cứ giấy tờ gì về việc “mua bán” chiếc ghe của họ. Hợp thức hóa chỉ là việc thò mắt nhìn mà không có ý kiến gì trong lúc cảnh sát xuống lục soát và mang lên những thứ có thể bán lẻ được, hải bàn, đèn pha chẳng hạn.

Ghe nào còn có vẻ tốt một chút thì trong vòng một tuần “bà già trầu” đến đem đi mất dạng. Có người nói lại bà nầy là một người Việt Nam hoặc chồng là người Việt Nam. Bà là một thứ “thầu,” thầu tất cả các ghe thuyền của người tỵ nạn. Năm ngoái, người đến còn bán được ghe thuyền của mình qua trung gian cảnh sát, nghĩa là họ nhận được một phần số tiền, sống lây lất. Lúc sau nầy thì cảnh sát bán và không ai biết gì cả ngoài việc “bà già trầu” dắt người tới mang ghe đi, chiếc nào không nổ máy nổi thì kéo.

“Ghe mình” mang số VNKG 0042 ADC và mới đến bốn ngày. Nếu Thanh đoán không lầm thì chỉ sáng ngày mai, “bà già trầu” lại đến. Chẳng bao giờ bà cần thấy mặt mũi món hàng tốt xấu ra sao, chỉ có mua và trả tiền, rồi kéo đi. Mỗi lần như vậy, dân trại nhốn nháo chen chúc nhau và hình như ai cũng cố nhìn cho rõ lần cuối cùng chiếc thuyền đã một lần đưa những người cùng khổ đến bến bờ nầy.

Thanh kiểm điểm trong đầu những cần thiết cho chuyến đi kỳ cục sắp tới. Bạn bè gọi anh là thuyền trưởng ngay từ lúc chiếc VNKG 0042 còn quay mòng mòng chưa cập bến. Trên bờ, anh nhìn thấy nó tiềm ẩn một sự chịu đựng ghê gớm và có một chút gì kiêu ngạo, để bất giác anh gật đầu.

Bây giờ thì tất cả gần như ổn thỏa, mặc dầu chỉ trong điều kiện tối thiểu. Dầu được hơn một trăm lít, một phần năm con đường đến hải phận Mã Lai. Thực phẩm chưa lượng được nhưng chắc chắn mọi người sẽ cùng lưu ý đến. Nước đá còn những hai hầm. Điều mà Thanh nghĩ đến nhiều nhất là làm thế nào để có một hải đồ lớn và chi tiết hơn, anh cảm thấy mình chỉ có quyền an tâm trong khoảng từ cửa bến Songkhla cho đến ngọn hải đăng Singapore, đoạn đường bốn ngày biển, bốn phân tây bản đồ. Ngoại trừ máy hư hoặc cướp có súng, đoạn đường nầy không có gì là nguy hiểm.

Chiều chậm nhưng lúc tối, tối thật nhanh. Thanh chỉ muốn cuộc sống chán ngấy còn sót lại của một ngày chết tắt ngay từ lúc nầy, “để người ta bắt đầu…” Mười giờ đêm rồi!

Thanh sắp đặt công việc trong điều kiện và hoàn cảnh mà bọn anh đang có. Không ai có ý kiến gì thêm ngoài câu hỏi của thằng Chí:

“Mầy có chắc là máy nổ được không?”

“Đó là vấn đề.” Anh quay qua Trường: “Mầy có chắc không Trường? Công việc tới đâu rồi?”

Thằng Trường tuột xuống võng, ngồi sát vào cả bọn, nói nhỏ:

“Mấy cái co dầu, cái nào cũng còn nguyên. Nếu cái bình còn đủ hơi, thì coi như ăn chắc.”

“Tao thử rồi,” thằng Phong xen vô. “Chiều hôm qua, tao lận mỏ lết chui xuống hầm vặn nhẹ đầu ống hơi, nó xì một cái ghê lắm mà.”

“Vậy là yên chí. Hồi chiều thằng Văn tắm sông, lặn gỡ xong mấy nuồi lưới quấn chưn vịt ra rồi.”

Thanh tiếp lời sau khi không thấy thằng nào nói gì thêm nữa:

“Hai tiếng đồng hồ để tụi mình lắp ống dầu vô và đem dầu xuống. Mình bắt đầu bất cứ giờ nào tụi cảnh sát đi ngủ. Cần nhất là vọng gác đàng sau. Thôi, ai về chỗ nấy, lạng quạng sanh chuyện lu bu, tụi nó thức càng khuya, mình càng lo thêm. Về nghe. Thằng Chí, thằng Văn lo việc cái vọng gác, nhớ không?”

Đi ngang văn phòng trại, Thanh nghe loáng thoáng tiếng một người đàn bà khóc rưng rức. Anh đi chậm lại. Tiếng anh Mai, trại trưởng:

“Chuyện nợ nần ở đâu hồi ở bển sao mà còn mang qua tới bên này đòi rồi sanh chuyện. Tui hết biết.”

Thanh phì cười một mình, anh quẹt tay vào các vách lều dọc theo đường về. Vài người vạch cửa ló ra nhìn.

Phượng đã rõ mọi chuyện và cô ngồi đợi ở lều.

“Phượng nghe Hòa nó nói, có phải vậy không? Anh định đi Úc?”

“…”

“Sao không rán chờ thêm vài tuần nữa. Anh không nghe Cao Ủy nói sẽ có danh sách ba trăm người đi Bangkok trong tuần tới sao?”

“…”

“Phượng nghe mấy người Tàu Chợ Lớn nói nhiều đến chiếc ghe nầy và họ cũng có ý định mua chuộc cảnh sát Thái…”

“Để chết à? Nó là một chiếc ghe mục, máy hư.”

“Vậy sao anh chọn nó?”

Thanh không trả lời. Người Tàu cũng có ý định nầy, bọn anh đã biết nhưng dù sao, đó cũng chỉ là ý định. Họ sẽ không đủ can đảm để quyết định và nhất là phải quyết định sau khi mọi thủ tục “đi tắt” với cảnh sát Thái hoàn tất. Còn lâu lắm! Đa số họ vì đủ thứ lý do khiến phái đoàn Mỹ không chấp nhận, rồi phái đoàn Úc từ chối, họ ở đây hơn một năm, tiều tụy và tuyệt vọng.

“Đã có nhiều người biết,” Thanh nhỏ giọng, “và một số sẽ đi theo đêm nay. Anh nghĩ nhiều người còn ngần ngại lắm, nhất là họ sợ cảnh sát Thái đánh đập khi đổ bể chuyện.”

“Vậy là anh quyết định thật!”

Rồi Phượng nín nghẹn. Một thứ tình cảm thật khó diễn tả trong đôi mắt khi cô nhìn Thanh. Không biết cô đang nghĩ gì.

“Cả bên nhà anh Hai đi, trừ anh và hai thằng con. Rồi tụi Triều, Phong, Chí và một số người Nha Trang, ai cũng rành về đi biển. Phượng đừng lo! Phượng về ngủ đi, anh gởi lời thăm hai bác, mấy chị em…”

Thằng Văn chui vào lều, nó móc túi lôi ra một xấp đô la:

“Anh Hai cho tụi mình, nói là để đem theo mua dầu, mua thuốc dọc đường. Ảnh dặn anh, chút nữa qua ảnh, nói gì đó. Anh Triều lấy cái địa bàn rồi.”

Phượng về, không thèm nhìn lại. Thanh quay qua Văn:

“Xuống thằng Hòa bảo tụi nó chuẩn bị cho xong hết đi.”

“Ờ! Tụi cảnh sát còn thức. Thằng ‘mặt ngựa’ bữa nay ‘xỉn,’ đi lòng vòng gặp ai cũng muốn đánh.”

Gần mười hai giờ, Thanh lẹp xẹp chui vào lều anh Hai. Anh vẫn còn thức. Làm sao mà ngủ được khi đêm nay tụi đàn em quyết định một cách liều lĩnh quá, anh không thể nào ngăn cản được nữa. Đối với anh, chuyến đi nầy vô thưởng vô phạt, có điều xa bọn đàn em nhiều ngày tháng chia sẻ nhau những giờ phút giày vò tủi nhục kéo dài qua các trại giam miền Nam Thái, anh thấy thương và lo, vậy thôi!

“Kêu em gì đó, anh Hai?”

“Ờ, ờ… Anh muốn biết đã sắp đặt những thứ gì rồi. Ngồi đi.”

Anh Hai với tay lấy gói thuốc và tụt xuống võng, ngồi bẹp trên sàn nhà:

“Em thấy cái địa bàn chưa?”

“Chưa, anh. Nhưng em biết loại đó rồi. Đây tới Singapore thì không sợ, khí hậu và gió mùa giống nhau, mình biết được.”

“Bao nhiêu dầu?”

“Khoảng một trăm lít thôi anh. Chỉ đủ chạy mấy tiếng đồng hồ, tụi em vẫn chưa đem xuống.” Thanh ngừng một chút, nhỏ giọng: “Anh Hai, anh có đi không?”

“Không! Tụi bây, thiệt anh không biết nghĩ sao, liều quá… Nhưng mà nếu không có hai thằng nhỏ, chắc anh cũng đi. Nè, Thanh, nhớ chạy dưỡng máy, đừng phí sức nó, lúc nào nghĩ rằng máy quá nóng mà muốn ngưng thì để ga nhỏ khoảng mười phút cho nước làm nguội rồi hãy tắt, không có nó đứt nắp quy láp thì chết.”

Rồi anh Hai nói nhiều đến những kinh nghiệm vượt biển đường xa, Thanh nghe và ghi hết vào đầu. Anh biết sẽ có nhiều điều cứu sống mình tuy bình thường nó có vẻ như những lời nói chơi.

“Đường từ đảo Banka đến Djakarta nhiều đá ngầm, một khoảng nữa từ khởi Bali đến đảo Timor nếu chạy đường trong rán xin cho được hải đồ. Ở những chặng đường nhiều đá ngầm, chỉ nên chạy ngày và lúc trời thật tối, đừng nên chạy lúc có trăng và buổi sáng sớm có sương mù, em sẽ không thấy ngời biển. Biển có một ít sóng là lý tưởng nhất. Mỗi lần gặp đèn thì chịu khó xem lại bản đồ và định điểm đứng cho chính xác, sẽ an tâm. Cần nhất là đừng để anh em trên ghe gây chuyện với nhau.”

Thanh nhớ hết. Anh đưa anh Hai xem lại bản tín hiệu morse:

“Anh coi có sai chỗ nào không, chữa giùm. Em thấy ít khi mình dùng tới, nhưng có vẫn hơn.”

Hòa bước nhanh vào lều, nó nhăn nhó:

“Em mới bị ‘thằng mặt ngựa’ quất một roi, nó biểu ‘bay nol.’ Má nó! Mấy thằng ở vọng sau ngủ hết rồi anh Thanh. Anh Triều kiếm anh, chờ anh bên nhà mình.”

Thanh nghĩ đến Phượng, cô ta buồn thấy rõ. Anh hất mặt chào anh Hai và bước ra ngoài. Đêm vẫn nóng và sao sáng đầy trời. Phượng đứng nép sát vào lều ngay khoảng cửa ra vào.

“Không sợ ‘thằng mặt ngựa’ sao? Nó có cây roi dài hai thước,” Thanh đùa. “Sao không đi ngủ đi, Phượng?”

“Nghe mấy anh sắp đi, mẹ em buồn và lo, nhỏ Thu cũng muốn khóc. Ba em hỏi anh có cần gì ông sẽ giúp cho. Ông nói ổng còn nguyên một tập bản đồ và một cây đèn bốn pin. Anh qua đó nghe!”

Cả nhà Phượng thức hết. Ai cũng có vẻ lo âu làm Thanh xúc động. Anh trả lại tập bản đồ cho ông cụ:

“Tụi cháu có, tỷ lệ có phần lớn hơn cái nầy một chút. Cảm ơn bác và cháu chỉ xin cái đèn pin.”

Nhỏ Thu đưa Thanh một hộp còn đầy ắp những phong kẹo chewingum:

“Em mua ở Hạc Dài, nhường lại cho anh, để khi nào hết thuốc hút thì nhai cho đỡ ghiền.”

“À! Nhắc anh mới nhớ.” Thanh quay qua Hòa: “Trước khi xuống ghe, phần em chạy lại đập cửa ông ‘phì lũ’ mua hai chục đô la thuốc Samith xập xì, chắc được năm cây, không có thì chết.”

Thanh liếc Phượng, cô không thể nào vui được với những cởi mở nãy giờ. Bất chợt, cô nháy mắt, như có điều gì chút nữa sẽ nói.

Một giờ rồi, Trường vẫn chưa xong. Thanh về lều và Phượng lẻn theo. Cô đưa cho Thanh một cuốn giấy bao tròn nilon cẩn thận.

“…?”

“Quyển kinh. Quyển kinh Quan Đế! Anh giữ nó, khi nào gặp điều gì nguy hiểm thì lấy ra đọc.”

“Thì mọi chuyện sẽ qua phải không?”

“Anh đừng đùa, gia đình Phượng rất tin tưởng và đã được phò hộ nhiều lần. Còn đây là chiếc nhẫn.”

“…?”

“Khi nào cần, anh bán nó cũng được ít tiền. Phượng còn một chiếc.”

Rồi Phượng quay đi thật nhanh. Thanh nhìn theo dáng người con gái mà thấy nao nao. Anh chợt nhớ ra một điều, gia đình Phượng cũng đang chờ ngày đi Úc, “có thể họ tới trước mình.” Anh chui vào lều.

“Xong rồi, Thanh. Mình đem dầu xuống liền đi.” Triều thúc giục. “Cho mầy hay, dưới ghe bây giờ đã hơn ba chục người rồi mà tụi mình còn rải rác chưa xuống hết, người Tàu nhiều lắm!”


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: