Góc Bể Bên Trời (15)

VÕ HOÀNG

Khi Thanh gặp lại viên Đại úy Hải quân, anh đưa cho ông ta xem tập bản đồ anh tìm được ở chợ Djakarta. Ông nói:

“Mầy thấy nó thế nào?”

“Tàm tạm, nhưng tao muốn có một cái lớn hơn.”

Viên Đại úy này được cấp trên chỉ thị phải liên hệ trực tiếp và giúp đỡ những người dưới ghe VNKG 0042. May cho bọn Thanh là ông ta cởi mở và tốt bụng. Ngay buổi chiều, lúc bọn anh mới vào, ông ta ở hàng giờ dưới ghe, ghi chép đủ thứ. Cái khổ nhất của Thanh là ông ta không nói được tiếng Anh mà nhất định phải nói tiếng Tây. Thì thôi vậy! “Chơi luôn.” Thanh biết rằng phải chờ tới ngày thứ hai mới có thể tìm được người Việt Nam biết nhiều tiếng Tây và nhờ họ, anh đành đem thứ Tây bồi ấm ớ ra xài tạm. “Thì quơ tay quơ chân phụ thêm vào, thứ gì mà không xong.” Anh đùa với thằng Chí:

“Từ ngày rời Việt Nam, nói chuyện với người ngoại quốc cũng nhiều, tay chân nở nang thêm.”

“Mầy còn rán, chớ tao thì khỏi nói! Muốn làm gì thì làm. Chịu hay không kệ mẹ tụi nó.”

Thanh nghĩ, ở cái thế của mình, không rán là không xong.

“Tao có thể giúp mầy, nhưng không chắc,” viên Đại úy nói. “Chiều nay, ba giờ tao sẽ gặp mầy nữa.”

Mười sáu phuy dầu vị chi là ba ngàn hai trăm lít cho chặng đường còn lại đã được thỏa mãn ngay sáng ngày chủ nhật. Thanh tuy nóng lòng nhưng cũng phải chờ đến hết ngày thứ hai, Bộ Xã Hội Nam Dương và đoàn Lãnh Sự Úc Đại Lợi xuống tận bến, xuống tận ghe để xác nhận và định lượng mức độ an toàn tối thiểu cho chiếc ghe vượt biển lớn. Thanh xúc động nghĩ tới bạn bè, có đứa phải chèo tay chiếc xuồng bơi vượt vịnh Thái Lan, vùng biển nước nguy hiểm không thua bất cứ vùng biển nào trên trái đất mà mức độ an toàn tối thiểu của chiếc xuồng chỉ có thể đề cập tới ở trong sông.

Cabine đương nhiên được đóng sửa lại, và nhất là cái hải bàn lớn được đóng dính xuống tấm ván lớn trước vô lăng. Nó là quà tặng của một chiếc ghe đánh cá Nha Trang tới Djakarta hồi đầu năm. Thanh vuốt ve giòng chữ khắc chìm dưới chân hải bàn “Việt Nam Cộng Hòa – Ty Ngư Nghiệp Khánh Hòa” mà thấy bùi ngùi.

Đàng trước, Canh và mấy thằng nữa đang hì hục khâu kết lá cờ trắng lớn và dự định vẽ lên đó ba chữ S.O.S. bằng sơn đỏ. Trên nóc cabine, thằng Hòa phụ đóng lại tấm lều che mưa với Triều, nó hát vang vang:

“Chiều nay ra khơi, thoáng thấy mắt em nhuốm buồn. Đời anh là gió sương…”

Thằng Triều cũng nổi hứng, vung búa đóng đinh theo điệu nhạc. Ở tàu sắt bên kia, một người hỏi lớn:

“Mấy anh đi có gặp sóng gió gì lớn lắm không?”

“Làm gì mà khỏi có,” Triều ngưng búa trả lời. “Cách đây bốn năm ngày bị một trận bão, tưởng đã về chầu Bà Thủy rồi đó! Anh không thấy cabine tụi tui tả tơi như thế này sao?”

“Xui cho mấy anh, hai hôm trước có chiếc Vàm Cỏ ghé qua đây xin dầu đi Úc, trên ghe gần hai trăm người.”

“Không sao! Có mấy ổng, tụi tui cũng đi chiếc này thôi, nhất định tụi tui phải tới Úc bằng chiếc ghe này mà.”

Anh kia cụt hứng, bắt qua chuyện khác;

“Anh người ở đâu?”

“Tui hả? Hòn Mấu, Kiên Giang.”

“Kiên Giang là Rạch Giá đó phải không? Tui có nghe nói, ở đó có nhiều mánh vượt biên lắm mà!”

“Anh đi từ đâu?” Triều hỏi.

“Thanh Hải, Phan Rang. Anh biết Phan Rang không?”

“Biết chớ! Việt Nam, ở đâu mà tui không biết.”

“Thằng nói dóc,” Thanh lầm bầm. “Trốn lính mà ở đâu cũng biết hết, chuyện gì cũng biết hết.” Phải nói, có đi lính mới biết được nhiều chỗ, có đi lính mới biết được nhiều thứ. Thằng Triều có lần than vãn với Thanh: “Tao tiếc là chưa lần nào lên Sài Gòn, chắc Sài Gòn đẹp lắm. Ở lẩn quẩn miền biển, nghe người ta nói chuyện mới hay mình nhà quê.”

Hình như chính thằng Triều cũng biết rằng không nên nói thêm về những địa danh mà thật ra nó không biết gì cả nên lấp liếm:

“Hồi trước tàu Sông Bé có ghé đây không?”

“Tui cũng không biết. Tui mới tới được một tháng nay thôi mà. Nhưng chắc không có đâu.”

Thanh chui ra ngoài, anh góp chuyện:

“Chiếc Vàm Cỏ lớn không anh?”

“Lớn, lớn hơn tàu tui nhiều. Tui có nghe họ bẻ cấp ngược, vòng qua Djakarta và đi thẳng đường dưới, không ghé thêm ở đâu nữa. Tàu lớn mà.”

Thanh cũng nghĩ vậy. Đường trong nguy hiểm về đá ngầm nhưng ngược lại, nó an toàn ít nhất cũng gần nửa đoạn đường, chặng còn lại phải vượt thẳng từ đảo Timor có ba bốn ngày đường. “Ghe mình nhỏ quá, đi đường trường ít bảo đảm.” Anh thở dài:

“Tụi tui vẫn chưa có đủ bản đồ. Hy vọng chút nữa ông Đại úy xuống, có thể có.”

Nói chuyện thêm một hồi, anh thanh niên hứa rằng sẽ hỏi lại chủ tàu và xin giùm cho bọn Thanh mấy chục cái thùng nhựa dùng làm phao cá nhân và đựng nước ngọt. Anh ta nói với sự thành thật:

“Mình qua đây rồi, còn gì có thể giúp nhau được thì giúp. Để tui coi anh còn cần những thứ gì nữa, tui có thể cho được, tui cho. Tàu này để đây rồi cũng bỏ. Còn chuyện này, tui cho anh hay luôn. Anh đừng ghé đảo Timor, ở đó đang có chuyện lộn xộn, người Úc và thổ dân đang gây cấn với nhau. Biết đâu được cái xui xẻo của mình…”

Thanh ghi nhớ lời này. Anh nhảy qua tàu một lúc thì vừa gặp ông chủ tàu cũng vừa xuống.

“Thưa bác, nghe anh Hoài nói lại, bác có thể giúp tụi cháu chút ít những thứ mà xem ra bác đang dư không xài nữa, trong khi tụi cháu đang cần mà không biết phải xin ai.”

“Nói đi, cần thứ gì, để tui liệu.”

Ông chủ lại là người Tàu Chợ Lớn, giọng nói lơ lớ. Thanh phủi đít ngồi bẹp xuống:

“Chẳng hạn như cái neo nhỏ đằng sau lái tàu bác, rồi mấy cái thùng nhựa, mấy đường dây, mấy bình điện…”

Đã đến lúc Thanh không còn phải khách sáo, anh nói hết những cái cần thiết của mình. “Được thì tốt, không được thì thôi, mất mát gì!”

Trước ba giờ chiều thì mọi việc đâu vào đấy, kể cả số lương thực Bộ Xã Hội Nam Dương hứa hẹn cũng đã được đem xuống. Thằng Canh và số bà con ở Phú Quốc chung tiền nhau lại mua thêm nhiều thứ đồ hộp, đồ khô, thuốc hút. Mọi người đều biết chắc chắn VNKG 0042 sẽ khởi hành trước tối hôm nay.

“Tụi em chờ anh Thanh một tuần lễ đầu tháng sau nghe,” nhỏ Thảo nói. “Anh tới nơi đừng quên tụi này đang trông tin anh. Để em nói anh Canh có tấm giấy mười đô Úc, đưa cho anh có mà đánh điện tín, bỏ thơ…”

“Anh có, anh có ít đỉnh tiền Mỹ. Tụi em để đó mà tiêu, đừng có tào lao.”

Con nhỏ nhất định kèo cưa với Canh và lấy tờ giấy bạc nhét vào túi Thanh. Thanh đành ậm ừ:

“Vậy thôi, anh lấy, nhưng anh đổi cho Thảo lại tiền Mỹ. Tụi em ở đây còn lâu, mà tiếp tế chậm thì cũng khổ.”

Thật sự Thanh còn có từng đó. Hồi đi, ở Songkhla anh Hai cho tổng cộng hơn một trăm đô Mỹ, Thanh chưa xài mẻ một đồng. Tới Djakarta anh quyết định chỉ chừa lại mười đồng, còn lại đổi hết ra tiền Nam Dương và mua sắm đủ thứ cần thiết cho chặng đường cuối mà anh nghĩ là không còn ghé ở đâu nữa. Anh móc túi lôi ra tờ giấy bạc, giúi vào tay nhỏ Thảo:

“Cầm lấy! Chuyện tiền bạc đừng để nói nhiều quá, kỳ lắm.”

Nhỏ Thảo hết đường gỡ, cong môi:

“Tiền Mỹ đâu có giá bằng tiền Úc mà anh đổi ngang xương vậy?”

Hai anh em cùng cười.

Thằng Hồng đến hôm nay đã đi đứng vững lại được, nó đề nghị và nhờ thằng Văn phụ chặt chiếc thùng phuy ra làm hai, lấy khúc dưới làm nồi nấu cơm.

“Anh chặt cái nắp làm sao mà đậy được phủ ra ngoài, không có nó lọt vô trong, cũng như không.”

“Được mà,” Văn nói. “Nghề của tao mà!”

Hai ngày cuối tuần ăn ngủ khỏe, hôm nay cả bọn làm việc hăng và nhiều. Thanh bày vẽ đủ thứ chuyện, từ việc đóng hàng cây dọc theo be làm tay vịn, dời đá, đến việc che mưa cho mấy thằng gác mũi, gác lái… Nhỏ Thảo nói:

“Thuyền trưởng có uy ghê hén. Anh Thanh còn thiếu bộ râu quai nón, trông hơi yếu.”

Ông Đại úy xuống, nhưng chỉ đứng đàng trước, đưa tay ngoắc Thanh:

“Mầy theo tao. Tao có bản đồ cho mầy.”

“Cám ơn mầy,” Thanh nói.

Thì ra, ông ta quyết định để Thanh tự tìm và lấy bản đồ trong cả tủ bản đồ các vị trí đóng quân của Hải Quân Nam Dương.

“Tụi này tốt hết chỗ nói.” Có điều Thanh không mấy hài lòng, phải được hải đồ mới có giá. “Làm sao mình biết rõ nơi nào có đá ngầm? Hơi đâu cứ chạy tránh hoài những vùng biển sơn nhạt nhạt.” Thanh hỏi:

“Tao có thể lấy nhiều cái được không?”

“Được, được. Mầy có thể.”

Cuối cùng, viên Đại úy tìm cho Thanh một cuốn băng keo loại trong và phụ anh chấp nối những mảnh bản đồ rời rạc mà Thanh đã chọn và xén lại.

“Nói cho tao biết về đảo Timor đi!”

“Không tốt. Mầy đừng ở lại đó.”

Rồi ông ta nói đủ thứ chuyện về hòn đảo đó. Thanh làm sao nghe cho hết, chỉ biết và nhận ra rằng mình không nên ghé qua hòn đảo đó. Vậy là đoạn đường cuối bị kéo dài ra tới sáu ngày, kể từ khi rời khỏi Sumba, mức cuối của Nam Dương quần đảo.

Xuống lại ghe thì trời đã hết nắng. Cả bọn đã chuẩn bị xong xuôi và ngồi đấu láo cú chót. Nhỏ Thảo đưa cho Thanh một hộp kẹo cao su:.

“Anh nhai cho đỡ buồn, đỡ ghiền thuốc!”

Thanh cầm lấy, anh nhớ tới nhỏ Thu, nhớ tới Phượng.

“Thảo biết địa chỉ trại Songkhla rồi, anh nhờ Thảo viết một lá thơ về ban Đại Diện trại kể cho họ nghe về việc ghe anh có ghé và chuẩn bị đầy đủ mọi thứ trước khi lên đường. Nói là tụi anh rời bến Djakarta ngày thứ hai, bảy giờ chiều.”

“Vậy chớ anh nhờ anh Canh gởi lá thơ về Songkhla, anh nói cái gì?”

“Thì chỉ vắn tắt thôi, anh muốn Thảo kể lại như là viết truyện cho họ đọc. Ở đó buồn lắm.”

“Thảo viết, người ta cười cũng hết buồn. Rồi, hứa!”

Canh nói:

“Tui để cho anh cái áo lính, loại áo khoác dày lắm, đêm ở biển chắc lạnh, anh mặc cho đỡ, không có bị cảm thì phiền.”

Tới giờ cuối, Triều cho hay có sáu người trốn xuống hầm máy và sẽ “đi với mình qua Úc.” Thanh ngẩm nghĩ:

“Người ta đối xử tốt với mình quá, làm như vậy cũng kỳ. Mà không chịu thì cũng kỳ, chẳng lẽ xuống đó la ó và mời họ lên.” Anh nói với Triều:

“Mầy biết chắc tụi nó tốt, không làm điều gì bậy hết chớ? Có gì mình kẹt ghê lắm nghe.”

“Rồi, hai thằng là anh em của thằng Trường, một thằng là bà con gì đó của thằng Minh Quảng Ngãi, ba thằng kia hiền lắm. Tụi nó muốn đi Úc thật mà.”

“Đáng lẽ tụi nó phải nói với tao chớ!”

“Thì tụi nó nhờ tao nói lại. Bây giờ còn kịp cho mầy quyết định.”

Thanh chui xuống hầm máy. Sáu người kia nhớn nhác ngồi dậy.

“Tôi nói thật, mấy anh em cũng nên nói thật. Nếu có anh em nào trong đây làm cái gì phạm luật với người Nam Dương thì thật tình tôi không đồng ý cho đi, vì trách nhiệm là trách nhiệm của tôi.”

Một đứa, trông gương mặt là biết ngay dân miền Trung, tóc dài gần tới vai, có lẽ là bà con gì đó với thằng Minh Quảng Ngãi, ngập ngừng:

“Anh cũng thông cảm cho tụi tui, ở đây quá lâu rồi mà không thấy ai nói chi tới. Tui là anh chú bác với thằng Minh, anh cho tụi tui đi chung tới Úc.”

Thằng Minh nói thêm:

“Ảnh ở đây một năm rưỡi rồi, anh Thanh. Lúc tui đi, má ảnh ở nhà nói là ảnh đang ở Mỹ, viết thơ về. Ai dè ảnh ở đây gởi qua Mỹ, rồi Mỹ mới gởi về.”

Thanh đang suy nghĩ tới trường hợp những người trốn theo ghe đi Úc, nên mặc cho thằng Minh tả oán đủ thứ. Năm đứa kia im lặng không nói gì, tất cả đều có vẻ mệt mỏi, ngồi vật vã đây đó, không màng dầu mỡ vương vãi khắp hầm máy. Anh nghĩ tới nỗi thất vọng của họ nếu bây giờ anh nhất quyết không nhận và mời họ lên. Trong hoàn cảnh như thế này, anh cảm thấy mình không nên làm họ mệt mỏi hơn nữa, họ chịu đựng và chờ đợi nhiều quá, lâu quá rồi. Anh ngồi xuống:

“Giả tỉ như ở một trường hợp khác, tôi dễ xử việc này hơn nhiều chớ mấy anh em biết, có gì kẹt cho tất cả anh em dưới ghe này lắm. Tôi không nói tới trường hợp anh em xuống đây mà không cho tôi hay trước.”

“Bây giờ,” thằng Chí nói, “ngoài anh bà con với thằng Minh ra, mấy anh kia thì công việc như thế nào?”

Ý nó muốn hỏi tình trạng mấy người kia ra làm sao mà diễn tả không được. Một người nói:

“Tui với thằng này là em bà con với anh Trường.”

“Ừ, tụi nó là em tui,” Trường xen vô.

Anh kia tiếp lời:

“Tụi tui thì phái đoàn Mỹ đã phỏng vấn xong xuôi rồi, có nghe nói tháng sáu tới có chuyến đi, mà bây giờ gặp anh Trường ở đây, tụi tui muốn theo anh đi Úc.”

Từ lâu, Thanh có thói quen coi thường những vụ chia tay và đôi khi anh đâm ra bực mình cái lối bịn rịn, dùng dằng. Sao bây giờ, ở giữa đường lang bạt, anh nghe thông cảm hết với tất cả mọi người. Hình như ai cũng có ý tưởng mỗi lần đi như vầy là đi luôn, đi đứt, không phương gặp lại.

Một thứ không khí đè nặng lòng tất cả mọi người, hầm máy im phăng phắc. Người ta chờ quyết định của Thanh trong khi Thanh chờ quyết định của lòng mình. Anh chớp mắt nghĩ tới những rắc rối có thể xảy ra, chỉ trong đoạn đường từ bến ra cửa biển, thêm nửa giờ ra khơi, là coi như thoát.

Có vài người mệt mỏi, đang đứng bỗng ngồi bẹp xuống sàn hầm, rồi vài tiếng thở dài.

Cuối cùng thì Thanh cũng đành. Anh nghĩ rằng cứ để cả sáu người dưới hầm máy trong lúc ra cửa biển, có gì, anh có thể nói là không biết, chắc không đến nỗi rắc rối vì quả tình, anh cũng muốn chìu lòng tất cả mọi người. Anh trở lên cabine.

Bây giờ thì dưới ghe chỉ còn lại toàn những người đi. Canh, nhỏ Thảo đứng bên chiếc tàu sắt, nhìn chòng chọc qua bên này. Có hơn ba chục người dân trại xuống, đứng đặc một bên sườn, không kể rất nhiều người đứng lố nhố trên bờ.

Lúc thằng Trường cho nổ máy thì cũng vừa vặn hai chiếc ca nô của Hải Quân Nam Dương từ phía sau cùng loạt cặp tới ngang VNKG 0042, ngừng lại. Hai ba thằng đưa tay làm hiệu, ý nói sẽ cùng đi với bọn Thanh ra cửa biển.

“Ê, Canh, Thảo, mạnh giỏi nghe…”

Tiếng Thanh hòa với tiếng của rất nhiều người dưới ghe, người trên bờ, người bên tàu sắt thành một thứ lời tiễn biệt tập hợp, ồn ào quá.

Đàng trước, thằng Chí rút lại đoạn giây choàng qua lỗ lù chiếc tàu sắt, có một người bên kia cúi người xuống phụ nâng dây cho nó. Hồng đàng sau, nó ngồi hẳn lên thùng nước uống kéo nhè nhẹ, sợi dây như một con rắn lội chập chờn trên mặt nước.

“Cho de lại một chút, lấy mũi ra khỏi hông tàu sắt rồi hãy tới nghe Triều.”

Triều gài số de, tiếng máy nhỏ đi một chút. Tiếng la ó lại được dịp nhao nhao lên. Ai cũng cố, muốn la cho lớn hơn người khác. Thằng “bộ đội” bắt loa tay, hét vông vổng:

“Bai, bai…”

Cuộc chia tay kéo dài cho tới khi ghe qua hết hàng dừa dọc bờ sông và thằng Triều tiếc rẻ nhận còi từng chập, vang vọng.

Thanh nhìn đồng hồ “sáu giờ bốn mươi lăm.” Đi trước hơn giờ định mười lăm phút.


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: