Góc Bể Bên Trời (10)

VÕ HOÀNG

Chiều, khi người cảnh sát “giống như Tàu” mang cái mặt thịt còn ngái ngủ nhảy qua ghe thì bọn Thanh cũng vừa nhìn thấy bóng dáng một chiếc tuần dương hạm đang từ phía đông chạy qua. “Loại này giống như một trong số các chiếc LST của hải quân mình nhưng nhỏ hơn một chút.” Thanh nhìn thấy rất nhiều thủy thủ mặc áo quần màu cứt ngựa đi qua lại trên boong.

“Tụi nó vào nhiệm sở tác chiến. Cũng y như mình lúc trước.”

Thanh xúc động, nhớ về một khoảng đời đã qua. Nhớ những ngày lênh đênh với HQ 503 lừng lững ngự trị một vùng biển cả, với PGM 612 khiêm tốn nhưng không kém kiêu ngạo, với chiếc giang đỉnh bé xíu, xông xáo, ngang tàng trên những mảng lục bình ương ngạnh miền Tây. “Hồi đó, sống nổi trôi mà tâm hồn mình bình lặng ghê!”

Thanh khám phá ra mình có quá nhiều thay đổi trong ý nghĩ trước những hình ảnh xét ra không có gì thay đổi. Ở bến Bạch Đằng, ở Hải đội 4, ở trại Tây Kết hay ở Duyên đoàn 32 xung phong, nhìn thấy bóng dáng một con tàu lớn, lớn hơn thế này cũng không cảm thấy mình bé nhỏ đi chút nào, sao bây giờ xót xa quá, lạc lõng quá.

“Đối với biển, bây giờ mình đã là bọt nước thật rồi!”

Chiếc tuần dương hạm đứng hẳn lại, mọi thủ tục để neo một con tàu đã hoàn tất. Nó hụ còi, thằng giám lộ đã thôi phất cờ. Tiếng máy liên lạc lại rè rè.

Rồi “thằng mọi” lại nhảy qua ghe trong khi Chí, Văn và hai đứa nữa kéo neo trở lên theo lệnh thằng “giống như Tàu.” Thanh đề máy, anh biết mình phải cập vào tàu ở phía bên phải vì ở đó, những người thủy thủ Singapore đang lăng xăng chấp nối và kéo những ống cao su lớn bơm dầu.

“A Kiếu,” Thanh nói, “A Kiếu ra hỏi xem tụi nó cho mình bao nhiêu dầu. Nhỡ ít thì phải rán xin thêm cho đầy tất cả các thùng phuy mình đang trống.”

A Kiếu chui ra ngoài. Thanh lách mình tránh và trao vô lăng cho Triều. Anh kéo hộc tủ lôi ra mảnh giấy mà mấy ngày nay anh thỉnh thoảng ghi thêm vào đó những món đồ cần thiết phải xin cho được.

“Anh Thanh! Nó cho mình hai trăm lít dầu máy với mười kí lô đồ ăn. Hai trăm lít nhiều không?”

Thanh nhìn A Kiếu, lắc đầu. Hai trăm lít mà làm cái gì? Mười ký thực phẩm mà làm cái gì? Anh không đáp lời A Kiếu mà bước thẳng tới thằng cảnh sát.

“Mầy cho tao bao nhiêu?”

“Cái gì?” thằng cảnh sát hỏi lại.

“Mầy cho tao bao nhiêu dầu máy?”

Thằng cảnh sát giơ hai ngón tay:

“Hai trăm lít.”

Rồi nó nói thêm một hơi dài thoòng. Thanh nghe không kịp, chỉ biết nó phân trần rằng đây là quyết định ở bên chiếc tàu. Anh cố hỏi nó:

“Làm sao tao đi tới Djakarta?”

Thằng cảnh sát nhún vai, không đáp. Mà đáp làm sao được vì đi tới đâu là chuyện không phải của nó. Thanh thấy mình hỏi như vậy là vô lý, anh quay qua tìm A Kiếu.

“A Kiếu, rán nói với nó. À không, chút nữa cặp tàu rồi A Kiếu rán nói với tụi trên tàu cho mình đủ dầu để đi tới Djakarta vì mấy đảo dọc dọc theo đường mình đi không chắc có dầu đâu nghe. Nhớ là Djakarta, nghe!”

“Djakarta.” A Kiếu gật đầu.

Thằng Triều cặp tàu chính xác và vừa vặn đến độ thằng thủy thủ vừa quăng dây vừa la “good, good.”

Ống dầu được thòng xuống và truyền vô hầm máy. Đàng sau, A Kiếu phải leo lên nóc cabine nói chuyện với mấy người thủy thủ đứng trên tàu. Chí vỗ vai Thanh, nói nhỏ:

“Nó không cho thêm dầu, mình mua chắc nó bán à Thanh. Mình còn tiền mà.”

“Không được, ở cái thế này, mình không nên hỏi mua dầu nó. Nó không thể bán được lại còn ghét tụi mình nữa, mầy biết không? Xin, và làm thế nào để nó cho, nhiều thì nhờ, ít thì chịu. Hỏi mua là kẹt cả hai đàng.”

Chí im lặng, chắc nó đã đồng ý.

Thanh nhét mảnh giấy vào đầu cây sào nứt nẻ và đưa lên tàu, anh hét:

“Tụi bây cho tao cái này, tao cần nó.”

“May, thì tụi nó giúp được!” Thanh nghĩ thầm.

Thằng thủy thủ ngần ngừ ít giây, xong chộp mảnh giấy mở ra đọc. Một lát nó cúi người xuống:

“Hải bàn?”

“Phải,” Thanh đáp.

“Bản đồ?”

“Phải.”

“Pin đèn?” Nó chúm năm đầu ngón tay ra ni.

“Phải.”

“Dây điện? Đèn, đèn gì?”

“Đèn.”

Thanh không biết gọi đèn pha là gì. Đèn pha loại đi biển hay dùng đó mà. Nhưng để “đèn” không thì nó không biết đèn gì thật. Đèn để dành rọi khi vào cửa biển ban đêm, đèn để đánh morse khi gặp nạn, đèn để chớp, phải rồi, đèn chớp. Anh hét lên:

“Đèn chớp, đèn chớp.”

Thằng thủy thủ phì cười, nó gật gật đầu rồi quay đi. Thanh cố tìm xem thằng thuyền trưởng ở chỗ nào nhưng không tìm được. Đàng sau, A Kiếu nói chuyện chắc đến hồi gay cấn, sáu bảy thằng bu nhau lại nghe. Thanh leo lên nóc cabine xong, anh cúi người hỏi Văn:

“Bơm dầu chưa, Văn?”

“Chưa.”

“Ừ, khoan hãy bơm, để A Kiếu xin thêm.”

“Cái ‘cò bơm’ bên ghe mình mà.” Văn cười.

A Kiếu bỗng dưng cười rất dòn và quay lại nói với Thanh:

“Người ta hỏi mình đi bao nhiêu lâu mới tới đây. A Kiếu nói bốn ngày. Người ta cho là lâu.”

“Ờ, lâu. Bởi vì mình phải nghĩ đêm hơi nhiều.” Thanh nhắc A Kiếu:

“Còn dầu máy thì sao? Tụi nó có cho thêm không?”

“Chưa biết đâu, còn phải hỏi lại ông sếp.”

Cuối cùng thì “ông sếp” cũng đồng ý cho đầy tất cả các phuy trống trên ghe. Họ còn cho thêm rất nhiều thực phẩm hộp, thực phẩm tươi, thuốc lá. Những món cần thiết của Thanh kê khai không được thỏa mãn đầy đủ. Một hải đồ in năm 1946 bắt đầu từ khoảng vĩ tuyến 4 xuống tới đỉnh chóp của đảo Banka, như vậy cũng tạm ổn. Thanh định rằng mình sẽ chạy lọt vào kẻ giữa hai hòn đảo lớn nằm phía nam của Singapore và dùng đường trong, sát Sumatra, đi qua kinh Banka để từ đó đi Djakarta. Tuy nhiều đá ngầm nhưng sóng nhỏ hơn nhiều. Hồi này trời có trăng lúc đầu hôm, tới trăng lặn thì nghĩ dưỡng máy vài tiếng, chờ đêm thật tối thì chạy tiếp. Đá ngầm mà cách mặt nước trên dưới một thước rưỡi cũng có thể thấy được ngời sóng, chạy an toàn hơn. “Ra khơi, biết đâu được gió mùa ở miền này thay đổi như thế nào!”

16H10, 13-3-1978. Thanh cho máy nổ. Những cái vẫy tay buồn tủi có dịp lặp lại. Thanh kéo hộc tủ cất vào đó tờ giấy có ghi địa chỉ người thuyền trưởng tàu Hải Quân Singapore. “Khi nào tới Úc Đại Lợi, mầy nhớ biên thơ cho tao hay, tao mừng nghe tin mầy còn sống!”

Bọn Thanh đổi dần xuống hướng 170 thì bị tàu bắn. Chúng bắn rất nhiều loạt ở phía bên phải ghe, để chận đầu chiếc ghe đang quày xuống. Triều la lớn:

“Đ. má, tụi nó bắn. Sao vậy Thanh?”

“Tụi nó không cho đi xuống. Kỳ vậy!”

Thanh lấy lái lại, 130-120 rồi 90. Đàng sau cách khoảng độ 300 thước, chiếc tàu im lặng đuổi theo sau. “Mẹ nó, sao không cho đi xuống!” Thanh cố quay lái về phải thêm lần nữa. Lại bị bắn, lần này dảy nước trắng xóa văng tung lên như một hàng rào bao che hết tầm nhìn của bọn anh về hướng nam. Tụi nó chơi đại liên 50.

“Không cho đi xuống thì đi lên! Mẹ mầy, đi ra ngoài khơi làm cái đ. gì ở ngoải!”

Thanh quay về trái. Lúc này ghe đã lọt ra ngoài vịnh Singapore. Hướng này là hướng chạy ngược về Thái Lan. “Chờ cho tụi nó bỏ mình thì lại đi xuống, mấy hồi.”

Nhưng Hải quân Singapore không cho đi lên, cũng không cho đi xuống. Chúng bắn dọc theo hai bên ghe. Bây giờ thì chỉ còn đi thẳng về hướng đông.

Về hướng đông để làm gì thì Thanh không đoán ra được, nhưng chắc chắn là từ lúc này tới tám giờ tối, bọn anh đã ra hải phận quốc tế.

“Kệ mẹ nó, phí chút dầu ra tới đó sẽ đi xuống sau. Nhưng phải ghi hướng cho đúng.”

Thanh nói với Triều:

“Mầy lái đi Triều, hướng 90. Kệ! Tới tối lọt ra ngoài, mình chạy lằn khơi. Giữ đúng hướng nghe. Tao đi coi sơ lại các thứ, đêm nay chạy chỗ lạ rồi đó.”


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: