Góc Bể Bên Trời (20)

VÕ HOÀNG

Bên trời, ở một góc bể xa lạ, khuya, A Kiếu nói với thằng Hải:

“A Kiếu biết làm như vậy thì A Kiếu không có đi đâu. Ở lại trại với ba má còn hơn…”

Rồi nó ôm ghì lấy thằng nhỏ, khóc rưng rức.

Trước phòng lái cũng có tiếng khóc, thằng Cụt. Nó khóc vì bị đánh. Thằng Chí từ đàng trước nắm mối dây neo còn dư đi lòn ra phía phải, xỏ dưới con lơn cột thêm cho chắc, xong nghiến răng:

“Cái thứ của mầy, tao giết không biết bao nhiêu thằng rồi, còn sót có mình mầy. Chui xuống hầm cho khuất con mắt. Ở đó lạng chạng tao xô dưới biển thấy mẹ mầy.”

Một dọc hai bên be, có hơn mười đứa ngồi im thin thít. VNKG 0042 ADC vừa trải qua nhiều cuộc náo loạn. Hình như lúc này ai cũng mệt mỏi, không thiết trò chuyện với nhau nữa.

Thằng Văn lo xong cái thùng phuy cắt đôi ra rồi cầm “can” dầu trút đó. Nó im lặng nhét vội cái mền màu cứt ngựa vô rồi lại tưới dầu lên. Thanh nói với nó:

“Đừng đổ nhiều quá, sóng lắc mạnh bị lật. Mày phải để xuống nước rồi hãy đốt.”

Lúc một mảnh của cái thùng phuy bốc cháy và trôi băng đi, Thanh mới nhận thấy nước dòng này chảy ghê quá. Chớp con mắt một cái, nó trôi biệt ngàn. Cứ cái điệu này, tới sáng sớm, ghe không gặp được tàu nào thì thua cuộc. Hiện tại, anh chưa xác định được rằng mình đã lọt vô hải phận Úc hay chưa.

Theo hải trình, còn không đầy ba mươi sáu tiếng đồng hồ nữa là bọn anh tới được vùng vịnh hải cảng Darwin thì máy bị hư. Máy tự động ngưng nổ. Khói đen bốc hừng hực từ dưới hầm máy. Đầu nắp quy láp bị bể.

Từ chạng vạng cho tới bây giờ, không biết là bao nhiêu chuyện gay cấn xảy ra. Trước hết, anh em thằng Hùng chưởi nhau, đánh nhau phải can ra. Thằng Minh Quảng Ngãi nổi cơn khùng bất tử nhất định thả phao xuống “lội vô bờ.” Vợ thằng Phong giành thùng nhựa với thằng Cụt chứa nước uống để thủ thân. Thằng Chí lấy búa bửa bàn thờ Bà Thủy quăng xuống biển sau một lúc cãi lẫy với đứa này đứa nọ. Rồi thằng Trường, thằng Phong, thằng Tịnh, ba thằng trụ cột của cái máy đổ thừa nhau trách nhiệm.

Thanh thông cảm hết mọi điều. Khi thằng Phong ở dưới hầm máy chui lên nói lớn để mọi người cùng nghe “Máy hết chạy được rồi!” thì chính anh cũng nghĩ trước tiên những điều kiện để được sống sót cho riêng mình. Một can nước uống chẳng hạn, giấu và không chia sớt cho ai rồi sau đó, mới tới ai là người đáng được chia sớt…

Vợ thằng Phong nói với chồng:

“Người ta nói gặp rắn thì đi, gặp qui thì trở lại. Mấy cha nội tui tự dưng ở đâu xin cho được con ba ba, vít lửa để trên ghe, tui biết là xui lắm mà không dám nói.”

Thằng Phong:

“Bà im cái miệng bà lại đi. Người ta lo trối chết, bà ở đó bà lải nhải. Chết thì chết hết chớ mình ênh bà sao bà nói hoài. Vậy chớ hồi đi, bà đã không kể chết rồi sao?”

Thằng Minh Quảng Ngãi:

“Từ đây đi vô bờ, lội ba ngày tới không anh Thanh? Mình cách bờ xa không? Nước có lạnh không? Ở đây có cá mập không?”

Thanh ngó nó:

“Mầy muốn lội thì nhảy xuống lội đi. Mà coi chừng ma da, hà bá.”

Thằng Chí thì cằn nhằn:

“Mẹ, ngày nào cũng thắp nhang đều chi, mà tới chuyện, ông bà ở đâu trốn hết. Để cái ‘trang’ chình ình ở đó làm gì?”

Thằng Giàu, thằng Văn can nó một hồi cũng không lại. Nó có cây búa trong tay mà.

Bây giờ thì thằng Văn lo xong việc đốt lửa làm hiệu, nó quay qua thằng Chí:

“Bà Thủy phạt mầy mà lây tới tụi tao, tao quăng mầy xuống biển giống như cái thùng dầu dơ đó.”

Trong đêm tối, thằng Chí ưỡn lưng, hẩy bụng đưa của quí cho thằng Văn, nó xì một tiếng nhỏ trong miệng.

Tình trạng còn rất nhiều hy vọng. Hồi chiều, Thanh nói với mấy đứa đứng lớ ngớ trong cabine:

“Máy không chạy được nữa, nhưng bây giờ mình lọt vô hải phận nước Úc rồi. Sớm muộn gì mình cũng gặp tàu. Đêm nay mình đốt lửa làm hiệu, thế nào cũng có người thấy.”

Còn một cái bình điện dư bỏ lâu nay, Thanh đem lên bắt chung dây với cái bình đang xài, dùng cho đèn pha.

Thanh nói với Chí:

“Nước chảy cỡ đó thì quăng neo xuống, nó kéo ghê lắm. Neo không ăn thì neo làm chi, Chí. Càng lúc mình càng đi xa bờ Úc thì phải rán mà làm cho đứng lại một chỗ chớ. Chặt dây đi!”

Thằng Chí tiếc sợi dây hoài nên cứ nấn ná, mà kéo neo trở lên thì kéo không nổi. Bốn đường dây, vị chi gần ba ngàn thước. Nó chịu thua nhưng cứ ngồi ngó đường dây cầm chừng. Chút chút xách cái mối dư đi tới, đi lui.

Thằng Nghiêm thì vừa bước qua cái nắp thùng nước uống, vừa bỉu môi nói với thằng Hòa:

“Non nước này mà ngồi một đống ở đó, ôm xà nẹo, xà nẹo. Tưởng như vậy là hay chắc! Mẹ…”

Nó liếc về phía A Kiếu, thằng Hải.

Ám ảnh của cái chết ít nhất cũng một lần đến trong đầu từng đứa, thành ra, có đủ thứ chuyện lạ lạ xảy đến. Thằng Hùng nói với em nó:

“Thầy bói nói anh sống tới bốn mươi mấy tuổi lận mà.”

Thầng em trừng con mắt ngó anh, không đáp gì hết mà cái miệng mấp máy.

Thanh cầm đèn pin chui trở xuống hầm máy. Ba bốn đứa, mình mẩy đầy dầu nhớt, lom khom, tháo ráp. Trường chửi thề:

“Mẹ, máy ba bloc đầu bạc mà như c.”

Thằng Tịnh:

“Phải chi cái hồi mới nứt, có khói ít ít, anh Trường tắt máy liền thì đâu đến nỗi.”

“Mầy biết cái củ c. gì mà nói.”

“Sao không biết!”

“Biết sao mầy không làm?”

“Làm sao được mà làm?”

“Mẹ mầy, mầy nhỏ mà hỗn hả?”

“Hỗn cái gì.”

Toàn là những chuyện đâu đâu không. Thanh nhờ tụi nó kéo cho hết đường dây của cái bình điện dưới hầm, đem lên trên luôn.

Cái kẹt của bọn anh là trời tối nay trong sáng quá. Mây thấp không có mà mây cao quá, đèn đi không tới. Gần như tất cả những cố gắng của bọn anh, chỉ ở giữa lưng chừng trời. Ánh sáng đèn không đi thành tia được, hình như nó lên được ít thước trên cao rồi tan mất.

Xa xa, bốn đốm lửa lập lòe nhấp nhô, ma quái quá. Thanh nói với thằng Triều:

“Mầy để ý việc gạo thóc với nước uống dưới ghe nghe Triều. Thằng nào lạng quạng chặn họng nó lại.”

“Cái bình hơi” nghe lọt được, tiếp lời Thanh:

“Mình phải tổ chức cho kỹ, chia sớt, dành dụm gạo thóc, nước ngọt. Mấy anh cho Nhung tiếp với. Ăn cháo cầm hơi nghe không. Chưa biết chừng nào mình gặp được tàu đâu.”

Rồi tất cả trở lại im lặng, tịch mịch. Thứ im lặng thiệt sự. Qua khoảng hở giữa hai cái đầu của thằng “bộ đội,” của “cô thịt chó,” Thanh nhận ra được có một đốm lửa sắp tàn đàng xa. Anh nghĩ tới Cha, tới Phượng, tới thằng Canh, nhỏ Thảo, rồi nghĩ tới quyển kinh Quan Đế, cái bàn thờ Bà Thủy. Còn có một sự liên hệ nào giữa những hình ảnh mông lung đó với cuộc đời tàn ở đây, ở một góc biển xa lạ, ở một cảnh trời xa lạ. Anh quay trở lại Triều:

“Chắc phải làm thêm một cái thùng phuy nữa, mấy cái kia sắp tàn hết rồi.”

THAY ĐOẠN KẾT

Sáng ngày 29 tháng 3 năm 1978 thì VNKG 0042 ADC nhận được tín hiệu từ một chiếc phi cơ của Hải Quân Úc Đại Lợi.

Bản tín hiệu được cột cặp với cái phao dù và quăng xuống nước ngay đầu ghe. Thằng “bộ đội” bắt lấy và đưa cho Triều. Triều đưa lại cho Thanh. “Chánh phủ Úc Đại Lợi chào mừng quý vị ghe số 0042.”

Năm giờ chiều cùng ngày, ở vịnh Darwin, Thanh bước qua ca nô của Cảnh Sát Hải Cảng để vô trụ sở của họ, có thông dịch viên Việt Nam đi kèm. Anh phải đối chất về việc cả bọn bị tố cáo là đã cướp chiếc ghe của cảnh sát Thái Lan. Hai tiếng đồng hồ sau đó, Thanh được biết mình bị tạm giam cho tới khi có sự chứng nhận từ Bangkok, chiếc ghe đó không phải là ghe của người Thái.

Thanh bước đi theo người cảnh sát Úc bằng những bước thật nặng sau khi nói với người thông dịch viên:

“Chiếc ghe đó từ nước mình chạy qua. Bỏ nước mà chạy, thì của ai cũng được. Sao anh không nói với tụi Úc như vậy?”


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: