Cơm Chiều

VÕ HOÀNG

Chiều, khi thằng Ngôn bưng nồi cá kho lòn cửa sau vô chòi thì đúng lúc Hàng thức giấc. Ngủ một hơi mấy tiếng đồng hồ như vậy mà cũng thấy trong người ngây ngây, Hàng phát giác mình đang còn có cái cảm tưởng của những ngày mới tới. Cái cảm tưởng đau điếng đầu óc, thân xác rã rời của nửa khuya chợt thức sau một ngày vật lộn với công việc ở nông trường Cây số Tám.

Anh nằm yên lặng thêm một lúc nữa thì chợt nhận ra nãy giờ, mình nhìn vào cái xách tay Air Việt Nam treo trên vách mà đầu óc nghĩ ngợi đâu đâu. “Vậy mà cũng ở đây hết tháng thứ tám như ai rồi…” Hàng ngồi dậy, cái võng nhún nhẩy và kéo ghì hai đầu cột chòi lại, cánh kèo phùn lên ép vào mái thiếc phát ra những tiếng lèng xèng làm bất cứ ai nghe thấy cũng khó chịu và ái ngại. Anh nói vọng ra sau:

“Đi xếp hàng lấy nước chút nữa mình tắm sông rồi xả, Ngôn à. Mầy ăn cái gì chưa? Bữa nay có ghe nào vô không?”

Thằng Ngôn có lẽ không biết trả lời câu nào trước chỉ đáp trỏng:

“Gần tối rồi, tắm sông gì nữa. Anh Hàng chụm lửa hâm cơm lại cho nóng đi, tui có cá kho nè.”

Hàng rời võng, anh thuận tay cuốn tấm lều vải lại, quăng mạnh vô góc chòi, lầm bầm:

“Ừ, thì chụm lửa. Cá kho ở đâu vậy?”

“Cá mòi, kho lại. Của anh Nhượng.”

“Tụi nó ăn còn dư hả?”

“Giỡn hoài, mới kho, tui sớt phân nửa.”

“Sao tụi nó cho nhiều vậy?” Hàng giở tấm giấy thùng sữa đậy nồi cá kho ra, đưa mặt úp sát xuống đó.

“Cho ở đâu mà cho! Tui sớt đại. Không có ai trong chòi. Mấy chả xuống bến coi ghe vô.”

“Mẹ, ăn cắp mà cũng lớn giọng. Mà ghe nào vô vậy?”

“Ai mà biết!”

“Mẹ, tao muốn hỏi ghe tỉnh nào?”

“Tui nghe Vũng Tàu. Thành ra tui đâu có thèm xuống bến.”

“Vũng Tàu hả? Kệ mẹ nó! Không có người quen đâu!”

Hàng bước ra ngoài, vươn vai vặn người qua lại hai ba cái xong chống nạnh hai tay nhìn về phía chòi chệt Khoai. Một lúc, anh lững thững bước về đó. Người ta phần đông đều dồn xuống bờ sông coi ghe mới vô, trên này vắng lưa thưa người. Hàng cúi người xuống dạ sàn chòi chệt Khoai rút ra hai ba cây củi lớn, xong kéo thật nhanh về. Thằng Ngôn lú ra, nhoẻn cười:

“Nghề thiệt!”

“Mẹ, đi xé ít tấm giấy dầu về nhúm lửa. Ở đó mà nghề. Mầy còn nghề hơn tao nữa mà.”

Hàng nói chưa hết câu, thằng Ngôn đã đi xa. Anh nhìn theo bộ dạng của nó, mắc tức cười. Cái áo sơ mi bó sát thân người gầy còm cộng thêm cái xà rông rộng phùng phình bên dưới làm cho thằng nhỏ có vẻ là một tên híp-pi tân thời nhất, một thứ híp-pi ngoại hạng mà đã lâu Hàng không còn nhìn thấy được, thứ híp-pi con ông cháu cha sót lại sau các đợt chiến dịch vì dân, “tóc dài hơn con gái, da vàng hơn con lãi.” Có điều, nước da thằng Ngôn cũng vàng, mà vàng sậm, vàng vì thiếu ăn và sậm vì ở dơ lâu ngày.

“Cơm nước gì chưa, đại ca?”

Hàng quay lại. Anh chàng người Phan Thiết bên cạnh vừa vòng tay gãi lưng, vừa hỏi. Xong, thấy Hàng một tay cầm cây củi lớn, một tay cầm cây búa nhỏ, y nói luôn:

“Mới bửa củi thôi hả?”

“Chưa,” Hàng đáp. “Tính hâm cơm nguội lại, ăn cho ngon mà tự nhiên làm biếng bửa củi, muốn thôi.”

“Cơm nguội cơm nóng, cũng không ngon lành gì đâu. Đàng nào cũng ăn với trứng luộc, nước mắm. Sao đại ca không xuống bến coi ghe vô. Tui nghe nói ghe Vũng Tàu mà.”

“Vũng Tàu thì vũng, ăn nhằm gì tới tui.”

Lúc này thì Hàng đã quăng búa và ngồi hẳn lên cây củi, vén quần gãi vào ống chân đang mọc lấm tấm những mụn ghẻ ngứa. Anh chàng người Phan Thiết muốn nói gì thêm nữa chợt thấy đằng sân trại người ta nhốn nháo, tấp nập một rừng người từ dưới bến đi lên, về phía văn phòng, y bỏ mặc Hàng, phóng một mạch. Hàng nhìn theo, hình như người ta khênh ai đó trong một tấm lều vải.

Tới lúc Hàng chẻ những mảnh củi cuối cùng thì thằng Ngôn trở về. Nó trề môi một cái rồi bô bô:

“Có người gần chết trên ghe. Té từ trên xuống hầm máy, chắc gãy xương sống, mê mê cả tuần nay rồi, tay chân không cục cựa gì hết. Ghe đi ra tới khỏi mũi Đá Bạc thì bị sóng lớn, ghé vô hòn Khoai ban đêm rồi sáng chạy tiếp tục, gan thiệt! Từ Vũng Tàu đi tới khi gặp được ghe Thái Lan mà gần nửa tháng. Hết dầu thả trôi bốn năm ngày lận mà. Chết hết một đứa con nít ba tuổi, liệng xuống biển. Người bị gãy xương sống là anh của đứa con nít, còn bà vợ, bả khóc quá chừng.”

Hàng chờ cho nó nói dứt, hất mặt hỏi:

“Mới đây mà sao mầy biết nhiều quá vậy?”

“Thì nghe nói. Anh mà đi từ dưới bến lên phòng đại diện, đi chậm chậm thôi, tới phòng là nghe đủ hết rồi, cần gì phải hỏi ai. Tui còn biết tới số ghe nữa mà.”

“Thôi chụm lửa đi, chuyện của người ta, kệ người ta, hơi đâu mà lo. Mà thôi, để đó tao. Mầy đem củi vô đi, chừa cho tao ít cây. Mẹ lo chuyện bao đồng.”

Thằng Ngôn thoáng một chút ngạc nhiên, nhìn trừng Hàng, xong cúi người xốc một nắm củi đã chẻ, chui vào chòi.

Một thoáng ngạc nhiên của nó làm Hàng sững sờ. “Cũng phải! Hồi nào mình sốt sắng lo đủ thứ công việc trong trại, từ vụ thành lập toán thanh niên vệ sinh, đào giếng, móc mương, cất cầu tắm tới lãnh phần phân phối thực phẩm, thông dịch, làm giấy tờ… Rồi tự nhiên bỏ hết, ăn rồi ngủ, chưởi thề tứ tung, còn sanh ra ăn cắp ăn trộm.”

Anh chàng người Phan Thiết cũng trở lại, y vẫn gãi gãi lưng, nói nho nhỏ:

“Lúc nào cũng có chuyện, không chuyện này cũng chuyện nọ. Thiệt, đi cũng khổ mà không đi cũng khổ.”

Hàng nhướng mắt chứng tỏ cho anh ta biết mình đang nghe. Y tiếp, giọng lớn hơn:

“Ê, đại ca biết không, người ta gãy xương mà cha bác sĩ đặt ống nghe tùm lum chỗ. Thấy người ta bu đông quá, chả đuổi không cho coi, sợ quê chắc. Bác sĩ thứ thiệt mà quê nỗi gì.”

Y phủi đít ngồi bệp xuống đất, chồm người tới phun một bãi nước bọt, chấp chấp miệng:

“Cha này, có ai đó nói chả là trung sĩ nhất quân y ở Mỹ Tho mà, bệnh viện Đồng Tâm gì đó. Giải phóng rồi cũng còn làm việc, bác sĩ gì thằng chả.”

Hàng vẫn im lặng. Hơi đâu anh để ý những chuyện bá vơ như vậy. Qua tới đây rồi, mọi chuyện trở thành lộn xộn hết, ai muốn làm gì thì làm. Chẳng qua, người ta sắp đặt lại cuộc sống của mình trong một tâm trạng thăng bằng nhất sau mấy chục năm vì thời thế, chán chường và khủng hoảng. “Thì hồi trước làm y tá, thấy bác sĩ được trọng vọng, nể nang, mơ được làm bác sĩ. Qua tới đây, biết chút tên thuốc, làm đại ai cấm. Cả chục ngàn bác sĩ, biết đâu mà mò cho ra.” Hàng thấy mình có lý mỗi khi anh phóng tâm gạt những chuyện xảy ra trước mắt qua một bên, “miễn mình đừng đưa bụng cho nó khám thì thôi, nó bác sĩ kệ nó.”

“Đại ca không gác củi chéo chéo, tới chừng nào lửa mới bắt được? Chà, củi của chệt Khoai chắc!” Y nhìn Hàng, nheo một con mắt.

Hàng cười gượng:

“Còn hỏi. Nó có nhiều, mình không có, mà quá cần thì lấy xài, ăn nhằm gì!”

“Cha chệt biết hết, mà không nói đâu. Chả giàu lắm mà. Chủ tàu đó nghe! Ghe chả chở một trăm mấy chục người, bị cướp có hai lần, còn giấu được cả đống, tui biết hết.”

“Cũng kệ người ta!”

Ừ, kệ người ta, nói tới làm gì cho mệt. Mới đầu, vô trại một hai tuần, Hàng hay có thói quen ngắm nghía bất cứ một người nào rồi suy nghĩ ra đủ thứ chuyện chung quanh người đó. “Thằng này xương vai to quá, chắc đời nó khổ, cái mặt trông dốt thì hồi Việt Cộng ra đâu cần suy nghĩ cái mẹ gì, được làm ruộng hay đạp xe lôi là khoái rồi, mà cần cổ lớn như vậy, chịu đựng giỏi lắm, ở biển mà gặp sóng gió nó đâu có ngán. Chị kia trán vồ thì hiền thật nhưng hơi tham, ai gạ chuyện có lợi là suy nghĩ liền, mà đùi dài như vậy cũng phiền, người này người kia quấy rầy hoài, riết bực mình chớ chơi đâu, coi, mặc cái xà rông mà đi còn nhún nhún, qua Mỹ, nhiễm lẹ lắm. Ông nọ, da tay còn thẳng mà trán nhăn lớp lớp, không biết con cháu nó hành hạ cỡ nào đâu, phun nước miếng liền liền mà ưa chê người khác ở dơ…”

Mỗi lần như vậy, Hàng tự thấy mình có một chút ấm ức, muốn nghĩ tới mình để coi mình như thế nào mà rồi tự nhiên đâm chán. Những ngày sau đó, lăn xả vào công việc, anh bỏ quên thói quen này lúc nào không biết. Ngay cả sau khi chán ngấy cái cảnh giành giựt nhau từng chút nhỏ nhặt của mấy cha, phe này phe nọ. Hàng bỏ ngang công việc ở ban đại diện và có đủ hai mươi bốn giờ rảnh một ngày, anh cũng quên tuốt. Chuyện, nghe thì nghe, biểu nói, anh hay nói “kệ người ta,” cho qua.

“Có đổ nước vô cơm không?” Anh chàng người Phan Thiết vừa hỏi lại vừa phun nước bọt.

“Có chớ, không đổ làm sao nó nóng hết nồi!”

“Hai người lãnh gạo đủ ăn không?”

“Hơi thiếu, nhưng cũng tạm được.”

“Thằng Ngôn đâu?”

“Ở trỏng.” Hàng hất mặt vô chòi.

“Ngủ hả?”

“Mới đó mà, ngủ gì giờ này.”

Anh chàng người Phan Thiết đứng dậy, lại lững thững bước về hướng văn phòng đại diện, y quay lại, nhìn Hàng, cười mím chi:

“Tôi đi coi bác sĩ trị bịnh!”

Hàng không đáp. Anh cúi người nhắc chiếc thùng nhựa, lắc thử. Xong lôi hết mấy cây củi đang cháy trong lò xếp xuống đất, vốc thùng nhựa trút một ít nước còn sót lại lên đó. Khói trắng bốc bừng lên cùng với tàn tro, bay tỏa. Hàng nhảy một cái thật nhanh vô chòi, dậm thình thịch:

“Rồi, cơm đi, cơm đi, Ngôn.”

Thằng Ngôn đang nằm viết thơ. Nó ngước lên:

“Phải bữa nay ngày mồng tám không, anh Hàng?”

“Ai nói? Mười bảy hà. Mười bảy tháng hai, bảy mươi tám. Viết cho ai đó?”

“Bà chị. Sao kỳ quá! Thơ tui gởi hơn một tháng rồi không thấy trả lời gì hết.”

“Từ đây đi Mỹ xa không anh Hàng?”

“Mẹ, mầy ngu quá, vậy mà cũng vượt biên. Xa bao nhiêu thì xa, mà thơ đi bằng máy bay.”

“Tui muốn hỏi là đi bao lâu kìa!”

“Đi về hai tuần. Chị mầy lấy Mỹ rồi, nghĩ chi tới mầy nữa. Thôi, ăn cơm đi cho rồi.”

Thằng Ngôn quăng cây viết Bic lên võng, ngồi dậy lắc đầu hai ba cái thật mạnh rồi lết chầm chậm về phía sau, tóc nó tung xòa ra, vàng và dơ quá! Hàng đứng dựa vách nhìn theo nó, không nói gì nhưng anh nghĩ tới ngày nào, lúc nó mới nhập trại, quấn một mảnh lều vải từ ghe lên và đêm đến thì ngủ vùi cạnh hai cái xì tẹt nước uống.

Hàng rủ nó về chơi với anh trong lúc ở chòi đang có sáu người. Anh và nó làm chủ căn chòi này sau khi tụi kia lần lượt đi. Sáu tháng, thằng Ngôn mới biết được địa chỉ của bà chị đi hồi bảy lăm qua mẫu nhắn tin của bà chị tìm em, có lẽ được thơ nhà từ Việt Nam nói là thằng em đã vượt biên. Nó biên thơ, không biết trật trúng gì mà hơn tháng nay không thấy gì hết. Hỏi nó hồi đi sao không đem địa chỉ chị nó theo, nó nói nó tưởng không cần, nó đi là chị nó biết liền. Hàng luôn miệng mắng nó ngu mà nó không bao giờ giận, có lẽ tại nó biết nó ngu thiệt.

“Chà! Sao anh không nhắc nồi cơm xuống, bắc nồi cá lên hâm luôn, nguội ngắt ăn tanh rình hà.”

“Cơm nóng, ăn đâu có tanh!”

“Sao không?”

Nó lui cui cào mấy hòn than đã bạc mầu tro vun đống lại, chu miệng thổi ít hơi rồi kéo bớt một cục đá lò ra, để nồi cá hẳn lên than. Xong, ngồi bắt chữ ngũ, nhịp nhịp giò:

“Ba mươi giây nữa!”

“Mầy có thử là vừa ăn chưa?”

“Khỏi lo. Anh Nhượng mà, đâu đó đàng hoàng lắm. Có củ tỏi trong này nữa.”

Hàng lật vạt áo lau hai cái chén rồi chồng lên nhau, nói khẽ:

“Kệ cha nó, của ăn cắp, cỡ nào cũng làm tuốt. Thắc mắc để đói sao.”

“Chớ gì nữa!”

“Thằng Nhượng nó biết mầy lấy cá, nó dám đánh mầy lắm. Có gì mầy nói tao biểu tới xin, không gặp ai ở chòi thì cũng cứ lấy…”

“Ôi, lo gì anh Hàng. Cá mòi này cũng có phải của ảnh đâu!”

“Vậy sao?”

“Chút nữa anh ăn coi, thơm nhang lắm.”

Xong nó hệch ra cười. Hàng xé miếng giấy thùng làm tay cầm bê nồi cơm đặt xuống đất. Anh nói nhỏ:

“Bày trận ở đây, cho tiện.”

“Hồi ở nhà, tui cũng ăn dưới đất không chớ có bàn ghế gì đâu.”

“Xứ mày nghèo mạt rệp, còn nói.”

“Giỡn anh. Hậu Nghĩa mà nghèo sao? Vậy chớ anh ở Sài Gòn, có qua Thị Nghè không? Ở đó còn nghèo hơn chỗ tui mà, không có khoai mà ăn, nhà cửa ọp ẹp, đường sá sình lầy…”

“Mình có biết gì đâu! Lỡ nói với nó quê ở Sài Gòn cho oai, mà lâu lâu nó cứ hỏi đi hỏi lại hoài.” Hàng cúi đầu xới cơm, nói nhỏ:

“Ừ, tao biết rồi. Chỗ nào cũng nghèo hết.”

Rồi hai người cắm cúi ăn, cho kịp với bóng tối đang dần dần buông xuống.


Đất Lạ, Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: