Trong Lòng Cách Mạng

VÕ HOÀNG

Được Cao vác bó tre về tới ngã ba cây chôm thì trời cũng vừa đứng bóng. Anh cảm thấy như cái sống lưng như muốn gẫy cụp lại, một bên ngực đau nhói, đau từng nhịp theo mỗi bước chân. Từ đó tới cây cầu ván bắc ngang đường mương trước nhà đâu khoảng năm bẩy chục thước nhưng biết mình có rán cũng không nổi, Được Cao lầm bầm:

“Nghỉ đã, còn có chút xíu, gấp gáp gì.”

Được Cao nghiêng người hất bó tre xuống bờ cỏ xong chống nạnh nhìn chầm chập vào nó một cách ngao ngán. Buổi trưa trời u u mà vẫn nóng, anh thấy bực bội trong mình quá, nhưng không biết phải làm sao nên chỉ thở hắt một cái thật mạnh rồi chầm chậm ngồi xuống đất, lột tấm áo đang cột ngang lưng ra, tìm một chỗ sạch nhất lau mồ hôi mặt.

“Tự dưng buồn ngủ kỳ thiệt!”

Được Cao luồn tay vô cái đầu tóc sói vuốt nhè nhẹ, thấy nản quá. Chiều hôm qua con mẹ Năm Đàn tới nói hoài về cái chương trình làm lễ rồi rốt cuộc nhờ anh phụ trách việc làm cho mấy chục cái lồng đèn, lớn nhỏ đủ thứ cỡ. Điều mà Được Cao ghét nhất là cái giọng của con mẻ ngọt lịm mà nghe cho kỹ thì luôn luôn có vẻ hăm doạ, và mỗi chuyện được lặp lại ít ra cũng ba lần.

Nghe thì ghét, nhưng không nghe thì không được. Nghe rồi lại càng không được vì tối lại, Được Cao ngẫm nghĩ tới trường hợp của ông Phùng, trường hợp của thằng Cam, mỗi người mỗi chuyện xem ra không có gì quá đáng mà cũng phải đi Miệt Thứ năm sáu tháng nay chưa thấy ai về nên cũng hơi lo. Thành ra, cuối cùng. Được Cao cũng phải quyết định sáng thức sớm đi chặt tre.

“Kệ mẹ nó.”

Hồi sáng lúc Được Cao ngồi bờ mương mài cây dao yếm chưa kịp tới nước bùn thì đã thấy mẹ Năm Đàn đạp xe ghé lại. Thấy anh ngồi chồm hổm trên cầu ván, mẽ không tiện dắt xe qua nên đứng trên lề đường nói trỏ xuống:

“Tưởng thầy chưa thức, tui ghé qua kêu. Đi đôn đốc cho công việc tốt đẹp vậy mà. Tui lo quá.”

“Tui cũng lo tui mới phải dậy sớm chớ. Mà tui lo phải đi Miệt Thứ kìa,” Được Cao nói thầm và ngước nhìn mẹ Năm Đàn thay cho câu chào hỏi.

“Thiệt cả xóm này, đúng ra, nhi đồng cả xóm này chỉ cậy có mình thầy, thầy cũng rán cho. Có gì trục trặc, thầy cho tui hay liền nghe, tui giải quyết.”

“Giải quyết cái mả mẹ tui, ai mà dám trục trặc.” Được Cao cầm dao yếm thọc xuống mương, đưa qua đưa lại cho sạch rồi cười gượng:

“Chị Năm làm ơn lo giùm tui cái vụ giấy dán sơm sớm. Với lại bột khuấy hồ. Đưa trễ kẹt lắm. Còn có mấy ngày hà.”

“Rồi, để đó cho tui. Thế nào thì phòng thương nghiệp cũng đáp ứng được. Mà mình còn phải điều nghiên lại hệ thống phân phối. Chiều ngày mốt xong hết, tui ghé lại thầy, mình bàn.”

Mẹ Năm Đàn còn nói nhiều nữa nhưng Được Cao nhớ không hết. Khi con mẽ đi rồi, anh mới hay là ngồi thừ ra đó lâu lắm, mà dao thì mài chưa xong.

“Sáng sớm, gặp đàn bà ăn nói lộn xộn, thấy ghét quá. Phần điều nghiên, phần phân phối là phần của mẹ, tui can chi mà dính vô đó. Làm xong mấy chục cái lồng đèn trong hai ba ngày chắc dễ à, mệt bá thở chớ chơi sao.”

Rồi suốt buổi đốn tre, Được Cao cứ cảm thấy hậm hực trong mình. Anh nghĩ mà thấy thương cho mấy đứa nhỏ. Đương không có nơi có chỗ học hành đàng hoàng mà phải theo ba má ra ở ngoài này. Cả năm rồi, con Thành quên tuốt cách đọc cách viết. Thằng Công đáng lẽ năm nay học lớp một mà bây giờ suốt ngày ở ngoài nắng và chỉ biết lượm nhánh cây khô về nhà làm củi, rồi lại lật đá kiếm trùng cắn câu. Trưởng ấp nói năm tới sẽ có trường, Được Cao chỉ biết năm tới sẽ có trường. Mẹ Năm Đàn hội phụ nữ nói sẽ tổ chức nhi đồng thành một đội ngũ cho năm tới, đâu đó có nề nếp để việc giáo dục “tiến bộ ngay từ bước đầu,” Được Cao cũng chỉ biết có vậy.

Lâu nay, tụi nhỏ cũng phải đi họp liền liền, học hát chứ chưa học chữ. Có khi, vợ chồng Được Cao đi họp đằng ấp, tụi nhỏ đi họp nhà mẹ Năm, khuya mới về, rồi mệt, buồn ngủ, bực bội không ai còn muốn ăn khoai. Tụi nhỏ đen và ốm như cò ma…

Bây giờ Được Cao ngồi đây, buồn ngủ mà đâu có dám ngủ. Chút nữa về, phải qua nhà bà Phùng mượn cây mác vót, chiều nay chẻ cho hết bó tre, tối đốt đèn dầu mà chuốt. Được Cao thở thườn thượt, lại thấy cái ngực đau nhói lên.

“Dạy học cả chục năm mà mạnh như trâu, ra đây mới có một năm mà sanh đủ thứ bệnh.” Được Cao vòng hai tay quanh đầu gối, ngước nhìn trời và sẵn cái bực trong mình, anh bực luôn với cái bóng mát lỗ chỗ của cây chôm. Được Cao khạc mấy cái, phun nước miếng càu nhàu:

“Mẹ, mang tiếng cây chôm chôm mà chưa khi nào có trái, cao chòng ngòng mà lá lưa thưa.”

Hình như thấy mình hơi kỳ, Được Cao lắc lư cái đầu rồi thủng thẳng ngồi dậy, lấy bộ đưa bó tre lên vai. “Về cho rồi.”

Tới nhà, chưa kịp quăng bó tre đã nghe tiếng chị Được cằn nhằn đứa nào đó:

“Hỏi ba mầy. Tao đã dặn có đi họp về, người ta nói cái gì thì nói lại cho ba mày nghe, đừng có nói với tao.”

Được Cao nhăn mặt, hất mạnh bó tre, đưa tay quẹt mũi.

“Con mẹ này ra ngoài đây ở, mệt nhọc riết rồi sinh tật, nói chuyện với con cái, nói toàn mày tao. Kỳ!”

Anh vỗ vỗ cánh cửa:

“Cái gì đó? Cái gì đó? Đứa nào, ra đây nói ba nghe coi.”

Thằng Công ra trước, kế đó là con Thành, nhưng hai đứa không đứa nào nói gì hết. Chị Được vừa đi từ trong ra, vừa nói:

“Tụi nó đi họp sáng nay, người ta dặn về nói lại với cha mẹ, mỗi đứa xin năm chục xu đóng tiền quà, năm chục xu đóng tiền lồng đèn, rồi lèm bèm với tui cả buổi, tui biểu chút nữa về nói lại với anh. Đó, anh tính sao với tụi nó thì tính đi, tui hết biết rồi.”

Được Cao nhìn con Thành, rồi nhìn thằng Công, thấy đứa nào cũng có vẻ khẩn trương. Anh muốn hét lên một tiếng thật to nhưng ngại tụi nhỏ sợ nên dằn xuống, quay nhìn ra ngoài.

“Trời ơi, phải chi tụi nó quên luôn là không có ngày tết Trung Thu, không có ngày lễ Nhi Đồng gì hết, tụi nó sẽ hồn nhiên hơn và mình cũng không phải nghĩ ngợi gì nhiều trong hoàn cảnh này. Xót xa quá mà không tránh được…”

Con mẹ Năm Đàn! Con mẹ này ghê thiệt! Tùy theo người mẽ nói một kiểu khác nhau, mà không ngượng miệng chút nào, nhất là không coi người ta ra gì hết. “Trưởng ấp lo phần liên hệ với xã ủy nhận quà và phân phối. Còn tui, phòng thương nghiệp sẽ cất vật liệu làm lồng đèn. Đúng thì chỉ có giấy thôi, tui xin thêm bột hồ. Phần làm sườn, tui nghĩ ngay đến thầy. Tui biết thầy làm được. Một năm có một lần, tụi em nhỏ mong mỏi quá. Mà mình không thể bỏ bê tụi nhỏ nó được, mấy ông trên huyện biết khó lòng lắm.” Được Cao nghĩ tới cái mặt chành bành của mẹ Năm Đàn thì nghiến chặt răng lại, thở nhè nhẹ.

Một chút, anh nhỏ giọng:

“Chừng nào người ta kêu góp tiền, ba cho hai đứa, mỗi đứa một đồng. Lần sau có gì thì về nói lại với ba, chớ nói với má, má rầy rán chịu, nghe chưa.”

Tụi nhỏ hí hửng lộ ra mặt. Thằng Công mở miệng định nói gì đó thì Được Cao cười cười nói hớt:

“Mà nhớ đem quà về chia cho ba má với nghe.”

Hai đứa vui hẳn và lòn cửa hông ra vườn. Chị Được bước tới cửa, thấy bó tre, quay lại hỏi chồng:

“Anh đốn tre làm thêm cái trái nhà phải không?”

Được Cao chưa kịp trả lời, chị nói luôn:

“Hồi nãy bà Năm Đàn có ghé, hỏi anh có nhà không, tui nói không. Bả đi liền. Mà làm gì tui thấy chiều qua anh ngồi ngoài đám khoai với bả vậy?”

“Thì đó! Sáng nay thức sớm, đi sớm, em còn ngủ nên không nói, hôm qua thì trong mình bực bực cũng không nói… Mẹ Năm Đàn tới biểu làm cho mấy chục cái lồng đèn, nói là năm nay đãi ngộ nhi đồng, nhà nước làm sẵn phân phát, mà ấp mình xa quá, phải tự làm cho kịp. Mẹ nó, rốt cuộc mình bịnh nghỉ một tuần, trúng mối này, chết tiêu.”

Chị Được há hốc miệng, nghe mà không nói gì hết. Chị nhìn cái vẻ khinh khỉnh của chồng, thấy buồn cho cả hai. Mấy tháng đầu tới ở đây, chị còn lạc quan nghĩ rằng dầu sao thì vợ chồng con cái đùm bọc với nhau, bất cứ ở đâu cũng thấy yên lòng. Rán chịu cực khổ lúc đầu, lần lần chắc khá lên được. Từ một căn chòi nửa mái nhận lãnh được, chị cật lực giúp chồng chấn chỉnh lại cuộc sống, với cái hy vọng tạo dựng lại một phần những thứ mà mình có được trước kia, cũng đủ rồi.

Vậy mà không biết từ lúc nào, chị quên tuốt luốt những câu đùa duyên dáng tạo niềm vui cho chồng con, chị cũng quên luôn những công việc nho nhỏ tạo niềm vui cho chính mình, dạy cho con Thành làm toán, dạy thằng Công đánh vần chẳng hạn. Mà chỉ mình chị vậy thôi sao, anh Được càng lúc càng lầm lì, đã ít nói còn sanh thêm gắt gỏng. Chuyện hôm qua tới giờ, phiền như vậy mà cũng không nói một tiếng. Chị thỏ thẻ:

“Đờm anh khạc cũng còn nhiều chỉ máu, sao không phân bó tre làm hai mà vác cho nhẹ. Phải chi anh kêu tui dậy, tui đi theo, tui vác tiếp.”

Lúc này, Được Cao đã nằm hẳn trên sạp tre. Nghe cái kiểu vợ nói, anh biết thế nào cũng đi tới chỗ vừa nói, vừa hỉ mũi. Được Cao ngán nhất là chuyện đó. “Mình đã rầu thúi ruột rồi, nghe đàn bà vừa kể chuyện không không ở đâu vừa khóc thút thít thì chịu sao nổi.” Anh hỏi trỏng:

“Hấp khoai chưa?”

“Mới bằm xong, chưa hấp.”

Biết chồng đánh trống lảng, chị Được tủi thân nấc nhẹ một tiếng. Được Cao quay mặt vô vách, ỡm ờ:

“Ăn khoai ngán thiệt chớ không phải chơi. Em ngán không?”

“Tui nói rồi cách đây cả năm còn hỏi.”

“Tại ăn khoai, anh lở cuống họng chớ đâu phải tại bịnh phổi. Sang năm, kinh đào xong, có nước trồng lúa, anh hết bịnh liền chớ gì. Sang năm… Lẹ mà.”

Chị Được hậm hực:

“Chuyện gì anh cũng nói chơi được hết.”

Rồi hai vợ chồng im lặng thật lâu. Buổi xế trưa ở vùng đất mới khai phá lặng lẽ và trống trải, sao lòng người hình như ai cũng thấy bị dìm xuống bằng chính cái trống trải đó, và cái lặng lẽ bên ngoài hòa với cái lặng lẽ trong người, nghe ra như một thứ ẩn uất, chất chứa toàn những chuyện không vừa ý. Chị Được bỗng hỏi:

“Anh hứa cho tụi nhỏ tiền là cho thiệt hả? Mình còn có mấy đồng…”

“Ờ, ờ.” Được Cao quay ra. “Phải chi anh giải thích được cho tụi nhỏ nó hiểu thì anh đã làm. Đằng này, việc này, không phải chỉ là việc của tụi nhỏ không thôi, em phải hiểu. Thời buổi này, con nít hay người lớn cũng đều được coi như nhau, mà điều cái kiểu hơi khác một chút… Khi nào mình hết sống nổi thì mình biết, chớ con nó còn quá nhỏ, anh không muốn thấy tụi nó khổ sớm.”

Chị Được im lặng. Ở ngoài sân, chắc con Thanh bẻ nhánh cây sắp lại để làm củi, tiếng kêu răng rắc, nghe buồn quá. Thằng Công không biết đang làm gì mà có lẽ vừa ở xa xa vừa hát: “Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng…” Cái bài mà trước đó, ông Phùng vì cấm con hát nên phải đi Miệt Thứ. Được Cao chợt gắt với vợ:

“Qua bà Phùng mượn cây mác vót, nói là hai ba bữa sẽ trả.”

Chị vợ xì nhẹ một tiếng rồi đi về phía sau. Chắc chị hơi lấy làm lạ về thái độ của chồng nhưng không thèm tìm hiểu. “Hồi ở ngoài thành, thất nghiệp, cũng đói cỡ này mà anh đâu có quạu cọ.” Chị nghĩ tới độ đường từ đây qua nhà bà Phùng hơi ngán.

Được Cao lại quay vô vách, lần này thì kéo áo dưới lưng lên đắp phần đầu lại, rán ngủ một chút. Chưa kịp nóng lưng, tiếng hát thằng Công văng vẳng đong đưa từ đàng xa: “Em là búp măng non, em lớn lên trong lòng cách mạng…” Chắc thằng nhỏ vừa nhẩy cò cò vừa hát, tiếng lớn tiếng nhỏ. Được Cao trở mình lầm bầm:

“Ờ, ờ. Lớn lên trong lòng cách mạng… Ở đây mà có mả đậu, tao gỡ hột, nấu nước cho hai đứa bay uống, ỉa chẩy hai ba ngày đơ cán cuốc, hết trung thu, hết nhi đồng. Mẹ, búp măng non… Ờ, ờ, trong lòng cách mạng…”

Ngoài sân, vẫn còn tiếng con Thành bẻ cây răng rắc.


Trong Lòng Cách Mạng, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tàn Nho

VÕ HOÀNG

Khu chung cư này, ai cũng biết ngày mai ông Thiên gả đứa con gái lớn. Hồi chiều tới giờ, có hai ba nhóm ông già bà cả đi vô đi ra liền liền. Bà chị Sáng nhà kế bên nói với chồng:

“Con nhỏ coi vậy mà nó có phước thiệt chớ hổng phải chơi, thằng chồng nó tướng đi hiền khô mà gương mặt sáng sủa lắm. Nghe nói cũng làm chung hãng với con Lương. Tụi nó khá lắm.”

Bà Nghĩa ở căn đối diện thì nói với đứa con gái:

“Tao tưởng ông Thiên ăn ở hiền lành thì trời thương, ai dè cưới nhằm thằng rể không ra gì hết. Người gì mà đoản hậu, thiếu âm đức thấy rõ. Nó đi, tao ngó đằng sau lưng, tao biết thứ này không khá được. Mà thôi, chuyện của người ta mình lo làm gì cho mệt.”

Đó là chuyện của nhà ông Thiên. Vợ chồng con cái nhà ông Thiên đương lo và đương mệt. Mệt nhứt là con Lương. Không phải nó mệt vì làm nhiều việc này việc nọ để chuẩn bị cho cái lễ cưới của nó ngày mai. Mọi thứ thì gần như có người khác lo cho hết rồi, nó mệt vì phải nghe ba má nó cắn đắn nhau về những chuyện ở đâu đâu. Rồi ông Thiên mệt vì phải kiếm đủ thứ lý lẽ để nói cho vợ nghe; bà Thiên mệt vì phải kiếm cho có chuyện để cãi lại chồng. Chỉ có mấy đứa em con Lương là không mệt. Tụi nó, đứa lớn thì rủ nhau đóng cửa phòng nghe nhạc, mấy đứa nhỏ ở tuốt ngoài bãi đậu xe chơi trò cút bắt.

Khi ông Thiên biết chắc rằng giờ này hết còn khách khứa tới nhà nữa, ông bắt đầu đổi giọng, lớn tiếng với vợ:

“Bà đừng có tưởng qua tới đây rồi bà muốn làm gì thì làm. Nhà hổng có bàn thờ ông bà thì thôi, mà hễ có thì phải cúng kiến cho đủ lễ. Nói chuyện với ai cũng vậy, lúc nào bà cũng hớt hớt cái miệng rồi cái gì cũng xứng sái cho qua, đâu có được! Tui, hổng lẽ tui nói lại theo ý tui, người ta cho là mình khó tính, người ta cho là vợ chồng với nhau mà ăn nói hai ba đàng. Nín, thì bực chịu hổng nổi.”

Bà vợ gục gặc đầu hai ba cái rồi ngồi sà xuống sa lông, nghiêm nét mặt, gằn từng tiếng:

“Bây giờ ông muốn nói cái gì thì nói cho hết đi. Mai sáng người ta tới nhà thì làm ơn dẹp bỏ cái bản mặt chầm dầm của ông đó. Mà ông làm eo làm sách người ta như vậy có ích gì? Ông nói coi!”

“Tui làm eo làm sách người ta cái gì?”

“Vậy chớ liên tiếp mấy tháng nay, ông bày đủ thứ thập vật để báo người ta. Từ cái lễ gì kêu là nạp thể, vấn danh, rồi nạp cát nạp kiết. Gả thì gả phứt cho rồi còn bày đặt!”

Ông Thiên cười nhạt:

“Cái thân thằng này hồi trước cưới vợ, không bị người ta bày đặt chắc? Bà nên nhớ, phải chi tui đòi vàng vòng bạc nén nhà bà đâu. Đàng này, tui chỉ muốn người ta làm cho đủ lễ đủ nghĩa như ông già tui hồi trước phải làm vậy đó.”

“Bộ ông ức chuyện cũ hả?”

“Cái gì mà ức. Bà đừng có lảng lảng. Người ta nói ‘quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ.’ Cái đạo vợ chồng là cái đạo lớn nhất trong đạo làm người. Bước đầu này, mình không để cho tụi nhỏ nó có ý nghĩ trịnh trọng trong việc cưới hỏi, mai mốt tụi nó dễ coi thường tình nghĩa vợ chồng.”

“Ông đừng nói nho với tui. Chỉ cần nói bây giờ thì ông tính làm sao? Sáng mai là người ta tới, ông không được quạu quọ à nghe!”

“Tui tính làm sao hả? Tính cái gì? Tui muốn rằng tới cái lúc đưa con Lương về bên đó, hai đứa tụi nó cũng phải có bàn thờ ông bà để làm lễ chớ hổng phải rước dâu, rước ra khỏi nhà thì thôi. Người ta mà không coi trọng cái lễ, thì làm sao biết coi trọng họ nhà mình, coi trọng con gái mình. Ý tôi muốn là muốn như vậy đó.”

“Thì hồi nào tới giờ, mình đòi cái gì người ta cũng chịu, có thắc mắc gì đâu. Cho tới bây giờ, bên kia người ta sắm đã đủ đồ đạc hết rồi, ngày mai ông sẽ thấy.”

“Cái bà này –” ông Thiên đứng phắt dậy “– quanh co một hồi bà cũng đều nhắc lại ba cái lễ lộc cưới hỏi. Nó sắm vàng sắm bạc, sắm hột xoàn cho cả đống chớ nó khi dễ thì nó cũng khi dễ hà. Trừ khi nó chịu nghiêm chỉnh làm lễ ông bà thì tui mới cho là nó biết trọng người sống. Bà hổng thấy mấy cái lúc lễ nạp thể, vấn danh sao? Tui sắp đặt đâu đó rồi, ông bà sui hẹn lần hẹn hồi. Tới lễ hỏi, tui quỳ tui vái chớ con mắt tui liếc, tui thấy chớ đâu phải không. Ai đời mình thành khẩn vái ông bà mà người ta khều nhau, rồi cười khúc khích. Cái thứ đó, thiệt tình là lỡ rồi chớ tui mà biết trước, tui hổng thèm tiếp. Còn bà nữa, cứ vuốt đuôi theo người ta rồi rốt cuộc hổng ra gì hết. Hôn nhân nhi luận tài, di lỗ chi đạo dã. Cưới hỏi mà mở miệng ra nói toàn lời của phường mua bán, như cái thứ mọi rợ.”

Bà Thiên băt đầu im lặng, không cố nói nữa. Bà biết, dù sao ông Thiên cũng có lý của ông mặc dầu trong cuộc sống hiện tại, bà thấy nó hơi khắc khe. “Chẳng qua, có nhiều thứ không được vừa ý dồn nén lại, gặp dịp ổng tuôn ra cho đã nư đó mà. Ai đời hai ông bà sui là dân Tây mà ổng nói chuyện, nhứt định xổ nho chùm. Người ta không bực mình sao được. Rồi lần lần người ta cho là gàn, bướng. Nói cái gì người ta cũng ừ ừ hử hử cho qua. Bây giờ giận lẫy, gây với mình.”

Ông Thiên ngồi xuống:

“Thiệt thì tui cũng mong xong cái đám cưới này càng sớm càng tốt, chớ tui bực mình không tui cũng muốn bịnh.”

“Ai biểu ông bực!” bà Thiên nghĩ thầm. “Người gì mà cổ lỗ sỉ, lúc nào cũng khư khư giữ ba cái phép tắc cũ rích, không sợ người ta cười.”

Ông Thiên lại đứng lên:

“Tui hổng muốn thấy điều gì bực mình nữa hết. Ngày mai, người ta qua rước dâu, bà theo, bà đưa về bên đó. Tui hổng đi!”

Con Lương nãy giờ ngồi một góc, im lặng. Không phải chỉ quanh chuyện đám cưới của nó, nó mới phải nghe cái lối nói chuyện này của ba má nó. Mấy năm rồi, ông Thiên sanh cái bịnh gắt gỏng với hết thảy mọi người chung quanh, kể cả với tụi nhỏ. Với gia đình anh Hạnh, đáng lẽ ổng cũng nên để ý tới cái cảm tình thông gia mà nhìn lại mình một chút. Đôi khi, con Lương có cái cảm tưởng ba mình già trước tuổi, sanh tật trước tuổi già rồi, không còn là bịnh như má nó thường nói. “Ổng chưa yên ổn cuộc sống, chưa yên ổn trong lòng nên mang bịnh mà. Từ từ rồi hết, tụi bây lo làm chi.” Bây giờ thì cuộc sống yên rồi, mà bịnh đã thành tật, hết chữa.

Con Lương ngó cái điệu bộ của ba nó, đứng lên nói một câu, ngồi xuống nói một câu bằng cái giọng ngang ngang mà nghe cho kỹ, hết sức chí tình, nó chợt thấy thương. “Hồi còn ở nhà, chiều chiều ổng hay ngồi chồm hổm trước sân, nói tới chuyện gì cũng muốn chửi. Tưởng đâu tại vì cuộc sống khó khăn, gò bó rồi ổng đâm ra bực dọc. Ai dè qua tới bên này mới biết ổng thành tật.”

Nó biết, tự cái mặc cảm của ba nó đối với cuộc đời xa lạ – cái cuộc đời quá nhàn hạ mà thiệt tình ông Thiên không bao giờ muốn có – này đã làm cho ông tiếp tục sống với tâm trạng bị bạc đãi, bỏ rơi. Trước kia ông chán chường bao nhiêu thì bây giờ ông phẫn uất bấy nhiêu. Có hai thực trạng khắc nghiệt đã liên tiếp đeo đuổi và làm khó dễ ông lâu nay. Ở bên kia, có những cái đổi thay làm cho ông phải trầm ngâm từ ngày này qua ngày khác. Bên này, tự dưng ông cảm thấy mình đã đổi thay, rồi lại tiếp tục trầm ngâm. Động tới một chút là nổi cơn lên.

Con Lương đưa tay vuốt tóc, mắt vẫn không rời ba nó. “Cái điệu bộ này, một ngày nào mới đây, ổng im lặng một cách thảm não sau khi vui tay lật sơ qua tập vở của mấy đứa nhỏ.” Lần đó, không nói ra lời chớ trong đầu, con Lương biết rằng ba nó không hiểu gì về những chữ viết, những lời phê trong mấy cuốn tập.

“Mai này mình về nhà chồng rồi” – con Lương nghĩ – “mà ba ổng quạu quọ như vầy, cũng rầu.” Nó đứng dậy, đi về phía bàn thờ. Đưa tay vuốt nhẹ chữ song hỷ bằng giấy chiếu vàng ánh dán trên nhung đỏ, nó nói, như muốn phá tan cái không khí căng thẳng:

“Nhà mà có cái bàn thờ, coi sáng sủa quá hén má!”

Nó chưa dám bắt chuyện với ba nó. Vậy mà nó vừa dứt lời, ông Thiên nói hớt lời vợ:

“Bữa nay, tao nghe mầy nói một câu, nghe được. Xứ mình, đời đời, nhà nào mà không có bàn thờ. Đi ra đi vô thấy hoài riết rồi mình tưởng như không có. Tới lúc kẹt mới biết mình thiếu. Qua cái đám cưới này, tao tháo chữ Song Hỷ ra rồi đưa cái bàn lên cao một chút, để luôn như vậy.”

Ông muốn nói cho bà vợ nghe luôn. Thật ra, cái ý tưởng này cũng mới chớm có đây. Lâu nay, tâm tư giày vò, đầu óc bị dồn ép chớ bản thân ông, ông chưa thực hiện được bất cứ điều gì khiến mình tự làm phôi pha đi cái giày vò, dồn nén đó. Sẵn trớn, ông nói luôn:

“Cho dù con người ta theo Tây theo Mỹ đi nữa, ông bà mình đâu có bỏ quên được. Bởi vậy tao mới nhứt định buộc tụi bây phải nghiêm chỉnh với lễ nghĩa. Sống mà không biết có cái gì là ‘thiên niên thịnh,’ cái gì là ‘vạn đại vương’ thì ưa làm chuyện tầm bậy lắm. Ở bên này, tao coi cái mòi tụi nhỏ lần lần bắt chước người ta, quên hết ông bà, quên hết tổ tiên. Sự vong như sự tồn, chính là cái tình thiệt của con người ta. Mà hổng ai thèm biết, đâu có được.”

Bà vợ chắc không hiểu gì, chỉ hít hít mũi. Ông Thiên không nản, nói tiếp, mắt ngó về phía con Lương:

“Mầy chớ bộ! Ông nội mầy chết để lại cho tao tấm hoành bốn đời rồi. Coi, ở ngoài cửa bước vô nhà, trời có tối cách mấy cũng hổng ăn thua gì, tấm hoành nó sáng trưng, ngó một cái là giựt mình.”

Rồi ông chợt ngừng. Ông vừa biết mình đang có cái cảm giác thảng thốt như là giựt mình mà không phải. “Ẩm hà tư nguyên,” bức hoành mấy đời đã ngả mầu hồng nhạt như hiện ra trước mặt. Rồi bức hoành tụt xuống một đầu, tuột xuống hai đầu, hai thằng thanh niên mỗi đứa một đầu, bỏ hối hả vô đó mấy chục cuốn cổ thi, kinh sách, khệ nệ khiêng ra xe. Bức hoành bị cuốn lại thành một cục, nằm chung với cả trăm cuốn thuộc loại “văn hóa đồi trụy,” lâu rồi.

Con Lương đi trở về ghế, không phải để nghe cho rõ chuyện, mà là để thọc tay xuống cái bàn nhỏ, rút lên cuốn chương trình của đài truyền hình, lật coi.

Ông Thiên liếc qua bà vợ, cũng vừa lúc bà với tay mở cái đèn bàn đặt trên thùng loa cao gần một thước. Ánh sáng phựt một cái, tỏa ra khắp phòng. Ai cũng không để ý trong nhà nãy giờ tối hù.

“Mầy coi, ủi thêm cho tụi nhỏ mỗi đứa một bộ đồ nghe không Lương. Lỡ sáng tụi nó giỡn dơ hết, chiều không có mà bận đi nhà hàng. Tới đó, mình mẩy dơ hầy, người ta cười.

Con Lương gần như không để ý tới lời má nó nói nên không trả lời. Dĩ nhiên, nó quên luôn sự có mặt của ba nó ở đó, nó vừa lật tập chương trình, vừa hát nho nhỏ. Bà Thiên ngồi thu người ở một góc sa lông, ngó về bếp. Hai người, không còn ai muốn nghe chuyện nữa.

Ông Thiên cúi đầu ngẫm nghĩ: “Sao có nhiều chuyện chướng lỗ tai gai con mắt quá, mà đi tới đâu cũng gặp hết. Ở bên nhà thì đi vô đi ra gặp toàn cái thứ ngu dốt nó nói nhăng nói cuội rồi lo tính chuyện đè đầu đè cổ người ta. Qua tới đây, ai người ta cũng tiếng Tây tiếng Mỹ nói ra khói, tưởng đâu đem cái thứ cổ nho ra xài, tụi nó trọng vọng. Dè đâu…”

Ông chợt thấy nóng ran lồng ngực. “Không lẽ cái học của mình hết có chỗ xài rồi sao? Chớ thiếu gì thằng ở bên Tây tự khoe là giỏi tiếng Mỹ, rồi thiếu gì thằng ở đây lại khoe là giỏi tiếng Tây. Tụi nó mà con mắt người ta mà cũng được trọng vọng thua gì…”

Ông ngồi phịch xuống ghế, trợn mắt ngó bà vợ, rồi lại ngó con Lương. Ông muốn quay lại vấn đề cưới hỏi và cố tìm cho được một câu chữ nho thiệt là độc để đánh một cú chót với bà Thiên mà nhứt thời chưa tìm ra, nên hơi thở có vẻ dồn dập. Bà vợ nói nhỏ:

“Thôi ông đi nghỉ đi, chuyện gì rồi ngày mai hãy tính. Ngày mai là ngày vui của con Lương đó, ông liệu mà xử sự cho khéo. Tui cũng mệt lắm rồi.”

Ông Thiên không đáp lời, chỉ ngó trừng trừng vô mắt vợ. Con Lương lúc đó đang lơ đãng ngóng ra cửa sổ. Trời bên ngoài tối rồi.


Đất Lạ, Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Khách Thập Phương

VÕ HOÀNG

Buổi sáng sớm, hai tín hữu một nam một nữ đến viếng chùa. Có lẽ họ dạo cảnh bên ngoài cũng khá lâu rồi mới vào trong, thầy Đàm nghe họ nói với nhau những lời phê bình, so sánh giữa hai đám bông hồng ở trước và sau chùa. Thấy thầy, chừng như biết chắc là người ở đây, họ cúi đầu chào ra vẻ kính trọng và xin phép được vào chánh điện lễ Phật.

Người đàn bà có vẻ sành sỏi việc cúng vái. Cứ xem dáng điệu chị nghiêng nghiêng châm đầu nhúm nhang thơm vào ngọn nến đang cháy, xong rụt lại đưa tay trái quạt nhẹ nhẹ, phân ra làm hai phần đưa cho người đàn ông một nửa, thầy Đàm biết không cần nói thêm một lời chỉ dẫn nào nữa.

Lễ xong, thầy mời họ ra phòng ngoài uống chén trà nóng. “Nhà chùa thì không có còn gì quý hơn là chén trà nóng đãi khách.” Họ im lặng đi theo sau.

Khỏi dãy hành lang sáng mờ mờ, thầy Đàm nói nhưng không quay lại:

“Hai vị là khách phương xa tới đây chắc? Tôi ở đây cả năm, đi tới đi lui cũng nhiều nhưng chưa gặp hai vị lần nào.”

“Dạ thưa thầy” – người đàn bà nhanh nhẹn – “vợ chồng tụi tui mới từ Wyoming qua chưa được một tuần lễ. Nghe nói ở đây có chùa, muốn tới liền mà hổm rày, bận công việc nhà cửa.”

Người đàn ông nói tiếp lời:

“Xe cộ cũng không có thành ra phải nấn ná hoài.”

“Dạ, bên này không có xe thiệt là kẹt!”

Người đàn bà kéo chiếc ghế trong góc ra cho chồng và một chiếc khác cho mình, chậm rãi ngồi xuống:

“Vợ chồng tụi tui qua Mỹ mới có nửa năm nay, ở trên kia, đi đâu thì có xe của hội nhà thờ chở, thiệt cũng ngại.”

Thầy Đàm chưa ngồi vội, nghiêng người sắp lại ba chén trà thành hình chữ phẩm, rót lưng lửng vào mỗi chén. Xong thầy đẩy chén bên trái về phía người đàn ông, thầy nghĩ:

“Mình xử đúng pháp mà không biết ông này có hiểu cho mình không.”

Thầy Đàm băn khoăn cũng đúng. Chén bên trái là chén thầy rót sau cùng. Theo phép lịch sự của ông bà để lại, rót rượu thì rót cho khách trước nhưng rót trà thì rót cho khách sau bởi vì hương trà chìm sâu xuống đáy bình, chả là người ta muốn thật tình đãi khách bằng những cái tốt đẹp nhất mình có được vậy mà.

Dường như người đàn ông không để ý, chỉ với tay kéo chén trà về trước mặt và xoay vòng vòng:

“Nghe nói ở đây có sư trụ trì, sao tôi không thấy sư vậy thầy?”

“Dạ, mời hai vị dùng trà.” Thầy Đàm ngồi hẳn xuống ghế. “Sư đi San Diego ba bốn ngày rồi, chắc phải đến cuối tuần mới về. Hiện thời thì tôi trụ trì.”

Người đàn ông gật gù, nhưng thầy Đàm vừa nói xong là biết ngay mình nói bậy nên liếc mắt nhìn ra cửa sổ. “Đâu phải ai cũng có quyền trụ trì! Mình nói vậy chẳng hóa ra mình lạm dụng hay sao. Tiếng trụ trì này phải được dùng cho người có phẩm hạnh, đạo đức. Trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng… An trụ để bảo trì pháp Phật. Người trụ trì được hiểu là vị chủ pháp, đàng này mình chỉ là kẻ ăn nhờ ở đậu…”

Thầy Đàm lựa lời nói trớ đi ngay:

“Tôi ở đây cũng được gần một năm. Ngày ngày làm đủ thứ công việc cho chùa và nghe sư dạy dỗ.”

“Thầy có đương đi làm không?” người đàn bà hỏi.

“Dạ không, tôi còn hưởng trợ cấp xã hội. Ban đêm thì học nghề mấy tiếng đồng hồ.”

Người đàn bà nhìn ra cửa sổ:

“Ở đây yên tịnh ghê há thầy! Ai chọn chỗ này thiệt cũng có con mắt.”

Thầy Đàm không đáp lời có lẽ vì cảm thấy khó quá, chỉ gật đầu. “Ở xứ này, chọn một chỗ để làm chùa có khác gì chọn một chỗ để ở. Làm thế nào tìm chỗ rộng rãi, rẻ tiền, có chỗ đậu xe kha khá cho bá tánh tới nhiều là tốt.” Người đàn ông tặc lưỡi:

“Nói cho ngay, mình qua tới đây mà còn cố gắng lập được chùa chiền là cả một vấn đề rồi phải không thầy? Ở bên tui ở lúc trước, không nghe ai nói tới chớ đừng kể là thấy. Thiệt là quí!”

“Tại hai vị không biết, chớ hồi trước chùa chỉ là một cái nhà ở và dành ra một chỗ để thờ Phật. Sau thấy có tín hữu tới làm lễ hơi nhiều nên chủ nhà dời qua chỗ khác ở và mời sư về đây trụ trì. Mỗi người một ít, vận động Phật tử đóng góp trả tiền thuê. Hồi đó, còn xập xệ lắm.”

“Phải từ từ chớ thầy. Còn lâu lắm mới khá hơn được. Thầy thấy không?”

Thầy Đàm cảm thấy người đàn ông nãy giờ chỉ nói toàn theo kiểu vuốt đuôi, thầy quay qua người đàn bà:

“Ở đây cũng đang có phong trào góp của Phật tử để còn mua hẳn một chỗ, sửa sang lại cho đúng cảnh chùa. Hai vị chút nữa ra coi mấy tờ thông bạch để biết rõ dự án lập chùa như thế nào.”

Thầy Đàm chợt xô ghế đứng dậy đi về phía kệ sách, thầy lấy một cuốn giấy được dán băng keo vòng lại. Đi trở lại bàn, vừa gỡ vừa nói:

“Hai vị coi, đồ án của chùa đã được chuẩn bị xong xuôi cả năm nay, mà thật thì cũng còn chờ thêm thời gian để Phật tử đóng góp.”

Thầy Đàm trao hẳn tấm đồ án cho người đàn bà. Người đàn ông kéo ghế tới gần vợ, hai cái đầu châu vào. Một chốc tiếng người đàn ông chầm chậm.

“Chậc! Kể thì cũng công phu lắm. Mà sao thầy không nói họ làm thành nhiều bản thế này phổ biến rộng ra cho Phật tử nức lòng đóng góp nhiều vô.”

“Có, có chứ,” thầy Đàm sốt sắng. “Nhà chùa có thâu hình này để vào các bích chương phát cho Phật tử nhiều rồi, lâu rồi!”

Hai vợ chồng lại ngắm nghía tấm đồ án. Họ thầm thì với nhau những câu phê bình, thầy Đàm không nghe được hết. Thầy dựa lưng vào ghế nhìn lên trần. Hồi lâu, người đàn ông nói lớn:

“Thế nào thì mình cũng kiếm được một cây bồ đề trồng sau chùa thầy há! Được vậy mới quí.”

Thầy Đàm chưa nghĩ được phải nên nói gì thì người đàn bà nguýt chồng:

“Anh này, chưa cất được chùa mà lo tới chuyện trồng cây này cây nọ.”

“À, à, chùa là phải có cây bồ đề chứ,” thầy Đàm đỡ lời. “Nhưng đó là việc sau này mới làm. Hai vị cũng thấy đó, mình có đất tốt, lo gì lúa trổ muộn, người xưa có nói như vậy mà.”

Nói thì nói, nhưng thầy Đàm cảm thấy mình hết hứng khi phải ngồi nói chuyện với hai người này, nhất là người đàn ông. Thầy nghĩ: “Cái điệu này, mình giữ ý giữ tứ mất công quá. Xem chừng người ta tới chùa cho vui vậy thôi.” Thầy liếc về phía người đàn bà đang chăm chú nhìn vào tấm đồ án, bỗng chợt dịu lòng lại. “Sư dạy, người có tâm với đạo phải giữ ý niệm thật chính. Thời buổi này, ai tới chùa thì truớc hết đã có ý thành, mình giữ tâm chính mà tiếp. Chưa làm được việc để tín hữu quí trọng cái huyền diệu của Phật pháp cũng nên cố làm được việc để tín hữu thấy được sự rực rỡ trang nghiêm của chốn thiền tự.” Thầy nói:

“Tôi nghe sư dạy, đạo với đời cách xa nhau như trời với đất nhưng thật ra là một. Phật tử mình qua tới đây rồi cũng còn cố làm việc đạo. Cất chùa, thật ra là làm việc đạo, mà để cho đời đó. Sư dạy, miễn làm sao đừng để việc đạo và việc đời giao tiếp nhau bằng cái lợi thì tâm được an mà Phật pháp hưng thịnh luôn.”

Thầy Đàm biết mình đang nói rất thật lòng. Mà thầy chỉ mong hai người này cũng hiểu là mình đang nói thật lòng. Người đàn ông vừa nghe chuyện trong khi tay thì lật từng trang tờ báo của hội Phật tử, rõ ràng ông ta nghe một nửa mà đọc báo một nửa. Thầy quay qua người đàn bà:

“Hai vị thấy đó, chỉ việc bảo vệ Phật pháp ở xứ này đã khó rồi, nói tới chuyện phát triển thiệt tình đâu phải dễ gì.”

“Cái khó là làm sao nói cho họ hiểu và tự chọn cách tiếp tay với bao nhiêu người mà lòng được vui,” thầy Đàm nghĩ, rồi cảm thấy mình mất tự nhiên, không phải chỉ có lần này mà luôn luôn như vậy mỗi khi thầy lựa lời nói tới việc kêu gọi Phật tử đóng góp tiền bạc xây cất chùa. Thầy biết, qua tới đây rồi, đi trước hay đi sau gì cũng vậy, nhu cầu của cuộc sống nó đi theo hoàn cảnh. Hồi đó, ở căn chòi nhỏ cập một bờ kinh mới đào, thầy biết rằng nửa lít gạo Nàng Thơm đối với mình thật sự là một ước mơ, một ước mơ khó có được. Bây giờ, ước mơ của thầy đổi khác đi nhiều, một chiếc xe hơi “mơi mới một chút” chẳng hạn, mà thật ra, ước mơ này có khó gì? Thầy mím môi nói trong bụng:

“Mình mà còn như vậy, huống chi người ta.”

Người đàn ông bẻ gập tờ báo lại trình ra trước mặt một trang quảng cáo:

“Cái này có thiệt không thầy? Mua xe mới mà khỏi cần phải đặt tiền cọc gì hết, tui thấy khó tin lắm.”

Thầy Đàm giật mình, hơi luống cuống. Tự dưng “thằng cha này” nói ngay tới chuyện mình đang nghĩ.

“Dạ, có đó ông. Ở đây người ta dễ dãi đủ mọi thứ hết.”

Người đàn bà nhoài người chụp tờ báo, nghiêng đầu đọc trang quảng cáo. Thầy Đàm đứng dậy rót thêm hai chén trà cho khách, tặc lưỡi:

“Bên này, cuộc sống dễ thở lắm, muốn gì cũng có, không phải như bên mình.”

Thầy không dám nói hết những gì mình đang nghĩ. “Cái có, nhiều đến nỗi thừa đi và người ta phải nai lưng ra trả nợ cho cái chỗ thừa thải đó.” Thầy vốc ngược chén trà uống cạn:

“Chút nữa hai vị lấy ít tờ bích chương về, có xóm giềng gần gần thì cho họ coi với.”

Thầy nói như vậy vì biết rằng người đàn ông đã có ý muốn về từ nãy giờ. Người đàn bà nhỏ giọng:

“Dạ, thưa thầy. Chắc rồi vợ chồng tui cũng phải đóng góp chút đỉnh gọi là công quả. Thầy cho tui lấy ít chục tờ này.”

“Chi cho nhiều,” người đàn ông tiếp lời. “Mình còn trở lại đây nữa mà. Lấy vài tờ thôi.”

Thầy Đàm tiễn họ ra tới ngõ thì đi chậm lại. Buổi sáng vẫn còn, thầy thấy được những cánh hồng chưa khô hẳn. Người đàn bà cúi người nhặt một cành táo khô nằm giữa đường quẳng vào gốc rào, quay lại:

“Ngày mốt, vợ chồng tui đi làm giấy tờ trợ cấp xã hội, cũng gần đây, thế nào tụi tui cũng ghé thăm thầy.”

“Dạ cám ơn hai vị. Nếu không tiện thì tuần sau… sư về, tuần sau sư về.”

Người đàn ông ra tới lề đường, chừng như nhớ ra là chưa chào lời từ giã thì quay trở vào, gục gặc đầu:

“Thôi, chào thầy nhe. Rảnh rảnh tui ghé thăm thầy. Chắc cũng nhờ thầy chỉ dẫn nhiều thứ nữa. Ở xứ này, thiệt mình như dốt!”

Thầy Đàm cười tươi, chống tay vào cánh cửa rào:

“Ông cứ việc tới, tôi biết gì tôi nói ông nghe. Không sao mà, tui qua trước.”

Người đàn ông vịn vai vợ đi xa rồi, thầy Đàm cố nói lớn theo:

“Mình là tỵ nạn với nhau mà.”


Đất Lạ, Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Măng Đầu Mùa (Thay Lời Tựa)

Cho ra đời một cuốn sách viết bằng tiếng Việt ở một nơi không phải là Việt Nam, ở một nơi mà Việt ngữ hoàn toàn không có thế giá và đang dần dần bị quên lãng, chúng tôi thấy ngay việc làm mang nhiều buồn thảm và có vẻ hơi vô vọng.

Nhưng làm sao ĐỪNG được?

Có những điều cần phải được nói ra một cách chân thành, có những điều cần phải nên nói ra mặc dầu không mấy ai thích nghe và có những điều cần phải tiếp tục nói mãi, mặc dầu trong chúng ta, có người đang cố tình không nghĩ đến nữa.

Bổn phận. Bổn phận của những thằng người tự khám phá ra được mình là một chứng nhân ít nhất cũng ở một đoạn đời. Thêm vào đó, ở bên kia, loài qủy đỏ dẫm nát những gì đang có, rồi sẽ dẫm nát hết những gì đã có mà ở bên này, mình gọi là Văn Hóa Dân Tộc.

Thêm một tác phẩm Việt ngữ xuất bản ở xứ người, nghĩ cho cùng, còn hơn là không có gì cả.

Măng Đầu Mùa rõ ràng là một cố gắng.

Măng Đầu Mùa rõ ràng là một đóng góp.

Măng Đầu Mùa hình thành bằng sự khuyến khích và giúp đỡ của thân hữu và bạn bè. Họ là những cố gắng, họ là những đóng góp mà Măng Đầu Mùa nương theo đó, cố gắng và đóng góp. Chúng tôi tri ân lắm vậy.

VÕ HOÀNG & TƯỞNG NĂNG TIẾN


Măng Đầu Mùa, Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Trong Lòng Cách Mạng (Tựa)

Biến cố 1975 đã khiến văn chương phải nhìn lại mình, phải lên tiếng nói. Không phải vì những bản án suồng sã của kẻ thù buộc văn chương phải nhìn lại mình mà vì trách nhiệm cần cảnh tỉnh. Không phải vì những đàn áp nghiệt ngã của kẻ thù buộc văn chương phải lên tiếng nói mà vì sự thật cần thốt nên lời.

Có người cho rằng văn chương hiện nay của chúng ta đang là văn chương thời thế. Người ta mặc nhiên thừa nhận rằng đã có lúc văn chương không-là-thời thế. Cái thứ văn chương đứng ngoài (đứng trên?) thời thế đã từng xoay lưng, làm lạ với trách nhiệm của văn chương phải chăng là văn chương đích thực, hay chỉ là sự vong thân của văn chương?

Ở giữa vòng vây của kẻ thù trong khi văn chương nhận lãnh trách nhiệm và lên tiếng cho sự thật thì ở chốn tự do người ta lại than thở cho tình trạng mất tự do của văn chương (?), người ta tìm cách phóng bút qui ẩn, hoặc người ta cố gắng dựng lại “cõi thiên đường đã mất” với ít nhiều miễn cưỡng.

Cũng may, đó chỉ là tâm bệnh của một số người không còn đất sống. Cũng may ở xứ người vẫn còn nhiều kẻ có lòng với văn chương, còn có Võ Hoàng. Tác phẩm của họ – ở đây là tập hợp tám truyện ngắn – không cần phải được (cái thói) xưng tụng (lẫn nhau), tô điểm bằng những mầu sắc lố lăng, giả tạo, vẫn đầy đủ sức sống mãnh liệt của một dân tộc. Tám mẩu chuyện dẫn người đọc vào một thế giới rất Việt Nam, cùng quẫn sau 1975 trong vòng vây bạo lực từ cuộc đổi đời bi thảm.

Trong Lòng Cách Mạng đã xác định một điều: Ở đâu đó trong từng nhân vật, cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục bằng cách thế riêng của mỗi người. Đó có phải là chủ đích của tác giả và là điều đáng kể nhất bây giờ?

Muà Hạ 1983
Cơ Sở Xuất Bản NHÂN VĂN


Trong Lòng Cách Mạng, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Góc Bể Bên Trời (Tựa)

Đi đến chân trời góc bể nào cũng đi. Phải đi để tìm một cuộc đổi đời. Đó là cái ước mơ bi đát lớn lao của hơn năm mươi triệu người dân Việt Nam đang sống khắc khoải dưới một định chế xã hội khắc nghiệt, phi nhân có tên Xã Hội Cộng Sản. Người ta chấp nhận phiêu lưu, hiểm nguy chỉ để mong sao tìm được một sự thay đổi, bằng mọi giá. Kể cả nhiều thứ “giá” trời biển mà chính những kẻ tìm đường vượt thoát đều không thể mường tượng được là nó mắc cỡ nào?

Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, đều hớ trong việc mang đời mình để mặc cả với cái giá tự do. Một nửa – hay hơn nữa – đã vùi thây dưới lòng biển cả, hoặc khô xác trên những chiếc thuyền con lênh đênh, hay ở những góc rừng biên giới. Số còn lại được đưa đến những nơi mà “hình như” không phải là nơi họ mong đợi. Họ may mắn thoát khỏi địa ngục Cộng Sản, thoát khỏi những hiểm nguy ngặt nghèo trên cuộc hành trình đầy bất trắc và cuối cùng thì họ bắt gặp chính mình đang đứng… ngoài cửa thiên đường!

Người Việt Nam đã và đang thực hiện một chuyến “exodus” hãi hùng và bi đát nhất trong lịch sử của nhân loại. Dẫu vậy, cái thảm kịch này vẫn chưa được nhân loại quan tâm và đánh giá đúng mức. Nó vẫn còn đang được nhìn với sự thờ ơ, lạnh nhạt; với sự dè bỉu đố kỵ và tệ hơn hết là với sự… hiểu lầm, ngộ nhận.

Tại sao? Có nhiều cái “tại” đau đớn lắm! Một trong những cái “tại” đó, có thể nói được ở đây là bởi chính những kẻ trong cuộc, những nạn nhân đều không nói lên được cái thảm kịch của dân tộc mình, một vết nhơ trong lương tâm của loài người.

Võ Hoàng, một trong những kẻ hiếm hoi may mắn sống sót, vừa làm xong điều đó. Ông làm được. Ông thực hiện công việc này với sự nghiêm chỉnh, chí tình và bằng tất cả những rung động xót xa qua cuốn truyện dài mà quý vị đang cầm trên tay.

Võ Hoàng viết gì trong tác phẩm “Góc Bể Bên Trời”? Xin thưa, không có gì lạ. Chỉ là một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến… Úc Châu, trên một chiếc thuyền nhỏ, mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc và có trăm ngàn thứ gian nguy…

Có khác chăng là Võ Hoàng đã ghi nhận lại chuyến đi của mình (chúng ta thì… không?) và ghi nhận bằng nhận xét của một thủy thủ nhà nghề, bằng một ngòi viết bình tĩnh, vững chãi và trên hết là bằng tâm hồn của một nghệ sĩ, một con người với những cảm nhận đau đớn, đau đớn đến thảng thốt về thân phận lưu đày của mình.

Có những hạn từ, những ý niệm hay đúng hơn là những tâm cảm mà người ta bắt gặp hoài trong suốt tác phẩm của Võ Hoàng. Một thứ tình hoài hương thiết tha, thấm thía khi con người rứt ruột ra đi nghĩ về “xứ mình”; cảm giác cô đơn lạc lõng khi lênh đênh trôi giạt giữa trời biển “xứ người,” và chua xót đau đớn hơn cả là cái tâm cảm “tủi thân”!

Đi với dằn vặt, với cắn rứt, với gian nguy mà nơi đến thì không có gì là hứa hẹn! Thoát khỏi địa ngục để chỉ đến được một “tầng địa ngục chuyển tiếp.” Nơi đó cuộc sống tù túng, khắt khe cùng với sự bạc đãi đều vẫn vượt quá sức chịu đựng và chờ đợi của con người. Lại đi. Đi nữa, với hy vọng đến được một góc bể chân trời tươi sáng hơn.

Trong cái thế giới mà theo Võ Hoàng thì “có quá nhiều người vô tình” này thì dù ở chân trời góc bể nào người tỵ nạn vẫn đều có chung chừng đó những thảm kịch. Lòng người vốn khắt khe, cuộc đời vốn nghiệt ngã nên bờ bến nào cũng khép kín. Ở “nơi cuối cùng có thể đến được” thì điều chờ đợi Võ Hoàng và những người đồng hành vẫn chỉ là… cánh cửa của một nhà giam.

Đó có phải là cánh cửa mở ra cho cuộc đời mới ở nơi góc bể chân trời? Đó có phải là một thứ nhà giam mới – ít chật chội, tù túng hơn – mà tất cả những kẻ tha phương lưu lạc như chúng ta có bổn phận phải đồng tâm hiệp sức để tìm cách vượt thoát. Thoát khỏi nơi đó để giải phóng chính mình hết kiếp lưu đày và giải phóng bao nhiêu triệu đồng bào khác nữa đang rẫy rụa, khắc khoải nơi cái phần quê hương tù ngục?

Câu chuyện của Võ Hoàng không đề cập đến điều đó. Không cần thiết phải làm như vậy. Kiếp sống tha hương mà chúng ta đang kéo lết từng ngày, với những thao thức, ray rứt hàng đêm đã minh thị điều đó?

Không ai – kể cả Võ Hoàng – mong rằng “Góc Bể Bên Trời” là tác phẩm duy nhất hoặc hay nhất viết về chuyến đi bi thảm của những người Việt Nam tỵ nạn. Ai ai – kể cả Võ Hoàng – cũng đều mong rằng có nhiều tác phẩm khác nữa, hay hơn, về cuộc đời tỵ nạn sẽ được viết ra. “Góc Bể Bên Trời” – có thể – chưa phải là một tác phẩm lớn nhưng cho đến nay – nói một cách công tâm – chưa ai trong chúng ta đã viết được một tác phẩm lớn hơn như vậy về vấn đề này. Vấn đề thiết thân mà chúng ta vẫn cố ý quên!

Mùa Hạ 1983
Cơ Sở Xuất Bản NHÂN VĂN


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Góc Bể Bên Trời (1)

VÕ HOÀNG

Chiều xuống thật chậm như muốn kéo dài cuộc sống buồn tủi, một thứ buồn tủi đầy ngập khoảng đất lớn chỉ bằng cái sân bóng tròn chứa hơn hai ngàn người. Songkhla có những buổi sáng hối hả, những buổi trưa hừng hực nóng và những buổi tối thổn thức cho tất cả những người ở đó.

Hôm nào không có thêm người nhập trại là y như ai cũng có vẻ uể oải, chán chường. Người ta xoay qua để ý và gấu ó nhau từng chút chung quanh cuộc sống. Đằng kia cãi cọ nhau vì mấy “đồ mất dạy” mới chạng vạng tối mà đã xúm nhau leo lên mái thiếc giành giựt chia chác chỗ nằm, rồi thì “bọn khốn nạn” bên dưới tạt nước ướt cả chân. Gần dưới bến, mấy người lại chửi bới nhau về việc trả góp vàng bạc không sòng phẳng mà câu chuyện đã được gác qua nhiều ngày, rảnh rang lại đem ra như một thứ đề tài tiêu khiển. Đằng sau văn phòng trại cũng có chuyện tranh nhau sắp thùng lấy nước và gọi nhau bằng những “con đĩ.”

Năm tháng trời, trong cái cabine nhỏ tí xíu xiêu vẹo gần như nằm giữa lòng khoảng đất trại, Thanh nghe đã đủ hết những danh từ khó ưa này và thường thường mọi chuyện được giải quyết bằng một chuyện khác mới xảy đến, mục sư đem thư vô chẳng hạn, ghe Việt Nam tới hay cảnh sát Thái xách roi đi ngang qua đó.

Người ta hay vừa thấp thỏm chờ mong vừa nguyền rủa một ngày sắp tới. Không có gì được xem như là một hứa hẹn. Thanh không ngờ cuộc đời mình rồi cũng có lúc ngồi khoanh tay mỗi ngày nhìn lá cờ Thái Lan hai lần lên xuống không một chút cảm giác. Làm sao diễn tả cho đúng thực thể của một exodus có mình trong đó? Chung quanh anh bây giờ thật sự là những cuộc sống thuần tính chất quê hương, một thứ tính chất được lọc bằng nhiều năm tháng chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ. Đôi lúc anh chợt cười mỉm một mình khi nghĩ rằng hồi nào xa khỏi nơi đây, chắc lại tiếc nhớ. Đối với anh, ngày tháng ở Songkhla phải là những ngày tháng được đặt vào chỗ trang trọng nhất trong cuộc đời ly hương. Một chút gì không ổn mà nhẹ nhàng chen lẫn vào sự khắt khe trong con người anh từ cái chuyện đám thanh niên lều kế bên vừa chưởi thề, vừa học Anh văn, rồi một bà vừa phun nước bọt vừa càu nhàu mấy đứa con sao không chịu giữ gìn sạch sẽ, cho đến ông cụ già vận xà rông ngồi xổm nguyền rủa mấy người con gái “Việt Nam mà bầy đặt nói tiếng Thái với nhau.”

“Chị Phượng, cho em mượn cuốn Hương Rừng Cà Mau đọc đỡ buồn. Hôm qua em thấy nhỏ Thu cầm. Hồi ở nhà em có đọc một lần…”

“Phải giữ gìn cho kỹ, nghe chưa! Hay là nằm đây đọc cho xong, lôi đi bỏ mất thì tiếc lắm đó.”

“Em giữ cho mà, ở đây ồn ào quá.”

“Ở đâu cũng ồn. Hôm nay có thơ không?”

“Có, của thằng bạn ở Tây Đức. Chị biết không, em thích nhất là truyện ngắn gì mà có anh nhà báo đi thâu tiền báo của độc giả dài hạn, rồi không thâu được lại còn bị dằng dai triết lý, chuyện đâu hồi học lớp ba trường làng cũng đem ra bàn luận. Vậy mà Sơn Nam viết hay ghê.”

“Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư!”

“Đúng rồi. Còn một truyện gì nữa, người lái đò già cuối cùng thì nghĩ rằng ‘trên đời sống, cần nhất là tấm lòng…’”

“Chị cũng thích đoạn đó, nhưng mà cũng quên tựa. Văn Sơn Nam hay thật hén!”

“Dạ.”

Mẫu đối thoại lọt vào giữa trăm ngàn âm thanh loạn xạ vậy mà Thanh nghe không sót một tiếng. Người con gái đó, cùng gia đình thoát đi từ cửa sông Ông Đốc hồi tháng chạp. Nghe kể thì cô ta bỏ quên nhiều thứ đồ đạc để chỉ nhớ có cái thùng giấy trong đó toàn sách và băng nhạc. Người con gái buổi chiều thường hay ngồi trầm ngâm, có hỏi nghĩ gì thì trả lời “đang nghĩ đến những buổi chiều ở Chùa Lá,” và hỏi lại, “anh có biết Chùa Lá không?” hoặc, “đang nghĩ đến những buổi chiều sau Tết này năm nào, một hôm có người bạn ghé thăm vào buổi chiều hôm trước thì chiều hôm sau nghe tin anh chết ở chiến trường Lộc Ninh…”

Cô hay nói đến những buổi chiều, những buổi chiều xa lắc, và câu chuyện được cô nói như đọc một đoạn văn đã được trau chuốt từng chữ. Lần đầu tiên, Thanh để ý tới người con gái này khi cô hồn nhiên vui đùa với những người ngư dân đảo Phú Quốc lều bên cạnh. Chưa đầy một tháng tiếp xúc nhau, cô có vẻ như là một dân đảo thứ thiệt. Một trang hồi ký dở dang có lần Phượng để quên trong quyển sách của Remarque và cho Thanh mượn:

Họ là con cháu những người đến lập nghiệp từ Thanh Hóa, Nghệ An vào thời chúa Nguyễn Phúc Ánh hãy còn bôn ba và liên tiếp hơn một thế kỷ sau đó. Sự chất phác của họ đã làm con người tôi thật sự thay đổi ít nhất cũng ở khía cạnh cư xử với nhau trong một loại người mà trước kia tôi ít khi lưu tâm tới. Có điều tôi chưa hiểu nổi và vẫn ao ước làm sao để sống lại ít nhất cũng vài năm ở ngay trên đảo bằng chính cái không khí bình thản đó – tôi nghĩ vậy – cái không khí đã tạo cho con người ta lúc nào cũng có vẻ an phận.

Họ dễ thương trong tất cả mọi sinh hoạt, nhất là lúc họ đùa giỡn với nhau…

Thanh mỉm cười. Giá mà Phượng biết rõ hơn gần hết những người dân đảo qua đến trại này, đa số là thanh niên, họ đến bằng những chiếc thuyền vừa cướp được. Cướp của hợp tác xã ngư nghiệp, cướp của công an biên phòng, cướp của những người “an phận” chưa kịp tháo chạy, cướp trên biển, cướp tại bến, cướp ngay trạm kiểm soát…

Hoàn cảnh xã hội đã biến những “con người dễ thương trong tất cả mọi sinh hoạt” này thành những kẻ liều lĩnh như thế đó. Và Phượng có biết được đâu, đêm nay họ lại sẽ cướp thuyền của cảnh sát Thái Lan để chấp nhận trở lại những ngày kinh hoàng trên biển chỉ vì mấy hôm nay, tình trạng căng thẳng do những xung đột giữa dân trong trại và cảnh sát mà chính họ là những thủ phạm sắp bị phát giác.

Tháng ngày ở đây đã bóp chặt sự thông cảm của con người lại. Nó làm lớn dậy những bực dọc nhỏ nhất mà Thanh nghĩ, nếu ở một hoàn cảnh khác, người ta sẽ bỏ qua một cách dễ dàng. Rồi thì bao nhiêu thứ gom vào một, thành ra bùng vỡ một cách hơi vô lý. Thanh cảm thông được với bạn bè vì những rắc rối này, nhưng Phượng thì làm sao hiểu được?

Trời không một chút gió, thành ra tiếng ồn ào như có vẻ lớn hơn mọi ngày. Thanh nhìn ra cổng rào, cố nghĩ tới một tâm trạng tương tự như vầy đã có lần nào đến trong đời mình chưa mà mãi không ra.

Hồng về đến trước lều và thuận tay dọn dẹp vội vàng những thứ đồ đạc bừa bãi. Nó chui nhanh vào lều, thỏ thẻ:

“Anh Thanh à, anh Hai chỉ tìm được một cái địa bàn nhỏ loại của bộ binh thôi, anh biểu tạm thời anh xài, ra khơi gặp tàu buôn thể nào cũng xin được hải bàn.”

“Gặp anh Triều đâu không? Anh đang tìm… Còn thằng Phong, thằng Chí nữa.”

“Đủ hết đằng lều anh Hào. Hồi nãy cảnh sát đánh người ở dưới bến, mấy người Phan Thiết, tụi nó lên cậy ván ghe làm củi. Chưa có gì đả động đến ghe mình hết.”

Thanh xỏ dép đi nhanh về phía lều thằng Hào.

Ghe mình! Thằng Hồng dùng tiếng “ghe mình” làm Thanh lại chợt mỉm cười. Đến trại được hai ngày, mọi chiếc ghe đều trở thành một thứ tặng vật của cảnh sát Thái. Người ta không có một dịp để gật đầu, không có một dịp để ký nhận bất cứ giấy tờ gì về việc “mua bán” chiếc ghe của họ. Hợp thức hóa chỉ là việc thò mắt nhìn mà không có ý kiến gì trong lúc cảnh sát xuống lục soát và mang lên những thứ có thể bán lẻ được, hải bàn, đèn pha chẳng hạn.

Ghe nào còn có vẻ tốt một chút thì trong vòng một tuần “bà già trầu” đến đem đi mất dạng. Có người nói lại bà nầy là một người Việt Nam hoặc chồng là người Việt Nam. Bà là một thứ “thầu,” thầu tất cả các ghe thuyền của người tỵ nạn. Năm ngoái, người đến còn bán được ghe thuyền của mình qua trung gian cảnh sát, nghĩa là họ nhận được một phần số tiền, sống lây lất. Lúc sau nầy thì cảnh sát bán và không ai biết gì cả ngoài việc “bà già trầu” dắt người tới mang ghe đi, chiếc nào không nổ máy nổi thì kéo.

“Ghe mình” mang số VNKG 0042 ADC và mới đến bốn ngày. Nếu Thanh đoán không lầm thì chỉ sáng ngày mai, “bà già trầu” lại đến. Chẳng bao giờ bà cần thấy mặt mũi món hàng tốt xấu ra sao, chỉ có mua và trả tiền, rồi kéo đi. Mỗi lần như vậy, dân trại nhốn nháo chen chúc nhau và hình như ai cũng cố nhìn cho rõ lần cuối cùng chiếc thuyền đã một lần đưa những người cùng khổ đến bến bờ nầy.

Thanh kiểm điểm trong đầu những cần thiết cho chuyến đi kỳ cục sắp tới. Bạn bè gọi anh là thuyền trưởng ngay từ lúc chiếc VNKG 0042 còn quay mòng mòng chưa cập bến. Trên bờ, anh nhìn thấy nó tiềm ẩn một sự chịu đựng ghê gớm và có một chút gì kiêu ngạo, để bất giác anh gật đầu.

Bây giờ thì tất cả gần như ổn thỏa, mặc dầu chỉ trong điều kiện tối thiểu. Dầu được hơn một trăm lít, một phần năm con đường đến hải phận Mã Lai. Thực phẩm chưa lượng được nhưng chắc chắn mọi người sẽ cùng lưu ý đến. Nước đá còn những hai hầm. Điều mà Thanh nghĩ đến nhiều nhất là làm thế nào để có một hải đồ lớn và chi tiết hơn, anh cảm thấy mình chỉ có quyền an tâm trong khoảng từ cửa bến Songkhla cho đến ngọn hải đăng Singapore, đoạn đường bốn ngày biển, bốn phân tây bản đồ. Ngoại trừ máy hư hoặc cướp có súng, đoạn đường nầy không có gì là nguy hiểm.

Chiều chậm nhưng lúc tối, tối thật nhanh. Thanh chỉ muốn cuộc sống chán ngấy còn sót lại của một ngày chết tắt ngay từ lúc nầy, “để người ta bắt đầu…” Mười giờ đêm rồi!

Thanh sắp đặt công việc trong điều kiện và hoàn cảnh mà bọn anh đang có. Không ai có ý kiến gì thêm ngoài câu hỏi của thằng Chí:

“Mầy có chắc là máy nổ được không?”

“Đó là vấn đề.” Anh quay qua Trường: “Mầy có chắc không Trường? Công việc tới đâu rồi?”

Thằng Trường tuột xuống võng, ngồi sát vào cả bọn, nói nhỏ:

“Mấy cái co dầu, cái nào cũng còn nguyên. Nếu cái bình còn đủ hơi, thì coi như ăn chắc.”

“Tao thử rồi,” thằng Phong xen vô. “Chiều hôm qua, tao lận mỏ lết chui xuống hầm vặn nhẹ đầu ống hơi, nó xì một cái ghê lắm mà.”

“Vậy là yên chí. Hồi chiều thằng Văn tắm sông, lặn gỡ xong mấy nuồi lưới quấn chưn vịt ra rồi.”

Thanh tiếp lời sau khi không thấy thằng nào nói gì thêm nữa:

“Hai tiếng đồng hồ để tụi mình lắp ống dầu vô và đem dầu xuống. Mình bắt đầu bất cứ giờ nào tụi cảnh sát đi ngủ. Cần nhất là vọng gác đàng sau. Thôi, ai về chỗ nấy, lạng quạng sanh chuyện lu bu, tụi nó thức càng khuya, mình càng lo thêm. Về nghe. Thằng Chí, thằng Văn lo việc cái vọng gác, nhớ không?”

Đi ngang văn phòng trại, Thanh nghe loáng thoáng tiếng một người đàn bà khóc rưng rức. Anh đi chậm lại. Tiếng anh Mai, trại trưởng:

“Chuyện nợ nần ở đâu hồi ở bển sao mà còn mang qua tới bên này đòi rồi sanh chuyện. Tui hết biết.”

Thanh phì cười một mình, anh quẹt tay vào các vách lều dọc theo đường về. Vài người vạch cửa ló ra nhìn.

Phượng đã rõ mọi chuyện và cô ngồi đợi ở lều.

“Phượng nghe Hòa nó nói, có phải vậy không? Anh định đi Úc?”

“…”

“Sao không rán chờ thêm vài tuần nữa. Anh không nghe Cao Ủy nói sẽ có danh sách ba trăm người đi Bangkok trong tuần tới sao?”

“…”

“Phượng nghe mấy người Tàu Chợ Lớn nói nhiều đến chiếc ghe nầy và họ cũng có ý định mua chuộc cảnh sát Thái…”

“Để chết à? Nó là một chiếc ghe mục, máy hư.”

“Vậy sao anh chọn nó?”

Thanh không trả lời. Người Tàu cũng có ý định nầy, bọn anh đã biết nhưng dù sao, đó cũng chỉ là ý định. Họ sẽ không đủ can đảm để quyết định và nhất là phải quyết định sau khi mọi thủ tục “đi tắt” với cảnh sát Thái hoàn tất. Còn lâu lắm! Đa số họ vì đủ thứ lý do khiến phái đoàn Mỹ không chấp nhận, rồi phái đoàn Úc từ chối, họ ở đây hơn một năm, tiều tụy và tuyệt vọng.

“Đã có nhiều người biết,” Thanh nhỏ giọng, “và một số sẽ đi theo đêm nay. Anh nghĩ nhiều người còn ngần ngại lắm, nhất là họ sợ cảnh sát Thái đánh đập khi đổ bể chuyện.”

“Vậy là anh quyết định thật!”

Rồi Phượng nín nghẹn. Một thứ tình cảm thật khó diễn tả trong đôi mắt khi cô nhìn Thanh. Không biết cô đang nghĩ gì.

“Cả bên nhà anh Hai đi, trừ anh và hai thằng con. Rồi tụi Triều, Phong, Chí và một số người Nha Trang, ai cũng rành về đi biển. Phượng đừng lo! Phượng về ngủ đi, anh gởi lời thăm hai bác, mấy chị em…”

Thằng Văn chui vào lều, nó móc túi lôi ra một xấp đô la:

“Anh Hai cho tụi mình, nói là để đem theo mua dầu, mua thuốc dọc đường. Ảnh dặn anh, chút nữa qua ảnh, nói gì đó. Anh Triều lấy cái địa bàn rồi.”

Phượng về, không thèm nhìn lại. Thanh quay qua Văn:

“Xuống thằng Hòa bảo tụi nó chuẩn bị cho xong hết đi.”

“Ờ! Tụi cảnh sát còn thức. Thằng ‘mặt ngựa’ bữa nay ‘xỉn,’ đi lòng vòng gặp ai cũng muốn đánh.”

Gần mười hai giờ, Thanh lẹp xẹp chui vào lều anh Hai. Anh vẫn còn thức. Làm sao mà ngủ được khi đêm nay tụi đàn em quyết định một cách liều lĩnh quá, anh không thể nào ngăn cản được nữa. Đối với anh, chuyến đi nầy vô thưởng vô phạt, có điều xa bọn đàn em nhiều ngày tháng chia sẻ nhau những giờ phút giày vò tủi nhục kéo dài qua các trại giam miền Nam Thái, anh thấy thương và lo, vậy thôi!

“Kêu em gì đó, anh Hai?”

“Ờ, ờ… Anh muốn biết đã sắp đặt những thứ gì rồi. Ngồi đi.”

Anh Hai với tay lấy gói thuốc và tụt xuống võng, ngồi bẹp trên sàn nhà:

“Em thấy cái địa bàn chưa?”

“Chưa, anh. Nhưng em biết loại đó rồi. Đây tới Singapore thì không sợ, khí hậu và gió mùa giống nhau, mình biết được.”

“Bao nhiêu dầu?”

“Khoảng một trăm lít thôi anh. Chỉ đủ chạy mấy tiếng đồng hồ, tụi em vẫn chưa đem xuống.” Thanh ngừng một chút, nhỏ giọng: “Anh Hai, anh có đi không?”

“Không! Tụi bây, thiệt anh không biết nghĩ sao, liều quá… Nhưng mà nếu không có hai thằng nhỏ, chắc anh cũng đi. Nè, Thanh, nhớ chạy dưỡng máy, đừng phí sức nó, lúc nào nghĩ rằng máy quá nóng mà muốn ngưng thì để ga nhỏ khoảng mười phút cho nước làm nguội rồi hãy tắt, không có nó đứt nắp quy láp thì chết.”

Rồi anh Hai nói nhiều đến những kinh nghiệm vượt biển đường xa, Thanh nghe và ghi hết vào đầu. Anh biết sẽ có nhiều điều cứu sống mình tuy bình thường nó có vẻ như những lời nói chơi.

“Đường từ đảo Banka đến Djakarta nhiều đá ngầm, một khoảng nữa từ khởi Bali đến đảo Timor nếu chạy đường trong rán xin cho được hải đồ. Ở những chặng đường nhiều đá ngầm, chỉ nên chạy ngày và lúc trời thật tối, đừng nên chạy lúc có trăng và buổi sáng sớm có sương mù, em sẽ không thấy ngời biển. Biển có một ít sóng là lý tưởng nhất. Mỗi lần gặp đèn thì chịu khó xem lại bản đồ và định điểm đứng cho chính xác, sẽ an tâm. Cần nhất là đừng để anh em trên ghe gây chuyện với nhau.”

Thanh nhớ hết. Anh đưa anh Hai xem lại bản tín hiệu morse:

“Anh coi có sai chỗ nào không, chữa giùm. Em thấy ít khi mình dùng tới, nhưng có vẫn hơn.”

Hòa bước nhanh vào lều, nó nhăn nhó:

“Em mới bị ‘thằng mặt ngựa’ quất một roi, nó biểu ‘bay nol.’ Má nó! Mấy thằng ở vọng sau ngủ hết rồi anh Thanh. Anh Triều kiếm anh, chờ anh bên nhà mình.”

Thanh nghĩ đến Phượng, cô ta buồn thấy rõ. Anh hất mặt chào anh Hai và bước ra ngoài. Đêm vẫn nóng và sao sáng đầy trời. Phượng đứng nép sát vào lều ngay khoảng cửa ra vào.

“Không sợ ‘thằng mặt ngựa’ sao? Nó có cây roi dài hai thước,” Thanh đùa. “Sao không đi ngủ đi, Phượng?”

“Nghe mấy anh sắp đi, mẹ em buồn và lo, nhỏ Thu cũng muốn khóc. Ba em hỏi anh có cần gì ông sẽ giúp cho. Ông nói ổng còn nguyên một tập bản đồ và một cây đèn bốn pin. Anh qua đó nghe!”

Cả nhà Phượng thức hết. Ai cũng có vẻ lo âu làm Thanh xúc động. Anh trả lại tập bản đồ cho ông cụ:

“Tụi cháu có, tỷ lệ có phần lớn hơn cái nầy một chút. Cảm ơn bác và cháu chỉ xin cái đèn pin.”

Nhỏ Thu đưa Thanh một hộp còn đầy ắp những phong kẹo chewingum:

“Em mua ở Hạc Dài, nhường lại cho anh, để khi nào hết thuốc hút thì nhai cho đỡ ghiền.”

“À! Nhắc anh mới nhớ.” Thanh quay qua Hòa: “Trước khi xuống ghe, phần em chạy lại đập cửa ông ‘phì lũ’ mua hai chục đô la thuốc Samith xập xì, chắc được năm cây, không có thì chết.”

Thanh liếc Phượng, cô không thể nào vui được với những cởi mở nãy giờ. Bất chợt, cô nháy mắt, như có điều gì chút nữa sẽ nói.

Một giờ rồi, Trường vẫn chưa xong. Thanh về lều và Phượng lẻn theo. Cô đưa cho Thanh một cuốn giấy bao tròn nilon cẩn thận.

“…?”

“Quyển kinh. Quyển kinh Quan Đế! Anh giữ nó, khi nào gặp điều gì nguy hiểm thì lấy ra đọc.”

“Thì mọi chuyện sẽ qua phải không?”

“Anh đừng đùa, gia đình Phượng rất tin tưởng và đã được phò hộ nhiều lần. Còn đây là chiếc nhẫn.”

“…?”

“Khi nào cần, anh bán nó cũng được ít tiền. Phượng còn một chiếc.”

Rồi Phượng quay đi thật nhanh. Thanh nhìn theo dáng người con gái mà thấy nao nao. Anh chợt nhớ ra một điều, gia đình Phượng cũng đang chờ ngày đi Úc, “có thể họ tới trước mình.” Anh chui vào lều.

“Xong rồi, Thanh. Mình đem dầu xuống liền đi.” Triều thúc giục. “Cho mầy hay, dưới ghe bây giờ đã hơn ba chục người rồi mà tụi mình còn rải rác chưa xuống hết, người Tàu nhiều lắm!”


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Góc Bể Bên Trời (2)

VÕ HOÀNG

Xuống ghe. Phong và Trường mồ hôi lấm tấm mặt. Hai “ông thợ máy” lộ vẻ hấp tấp ghê lắm.

“Đổ hết dầu vào phuy dưới hầm nghe Phong. Tao với Triều trở lên đem hết xuống, chờ tụi nó thêm chút xíu nữa. Trời ơi, có cả đàn bà, con nít nữa. Ở đâu mà dữ vậy?”

Phong nhún vai không trả lời. Trường “mời” tất cả bà con xuống hết hai hầm sát cabine. Nó nói với giọng gằn gằn đè nén:

“Mấy bà rán giữ đừng cho mấy ông nội con nít khóc nghe. Cảnh sát nó hay, nó xuống… xé xác không còn một người. Tụi tui thì nhảy xuống nước lội vô bờ là khỏe, cho mấy bà hay!”

Người ta im thin thít. Ai cũng sợ cảnh sát. Mấy đứa chuyền các bao nhỏ đựng gạo quăng xuống hầm. Đằng mũi, Chí ngồi chồm hổm trên “cà làng” thủ sẵn chiếc búa chờ chặt dây. Thanh phải đi lần về phía nó:

“Đừng chặt, Chí. Nới lỏng ra thôi, giữa sông đề máy không chạy thì bỏ mẹ, làm sao kéo vô?”

“Ừ.” Chí hết hồn buông búa. Người ta lần lượt xuống, không ai ngăn cản và hỏi han gì cả, chỉ việc giữ im lặng là đủ. Trương lú đầu lên khỏi hầm máy:

“Rồi chưa? Lâu thấy mẹ, chờ cảnh sát thức hả? Thanh!”

“Thằng Hòa, Văn, Tấn… Triều coi tụi mình đủ hết chưa? Thằng Nghiêm đâu? Thằng Giàu đâu?”

Thanh nhét vội quyển kinh vào ngăn kéo chứa lổn ngổn đủ thứ các chai thuốc mang nhãn hiệu Chợ Lớn, Sài Gòn, những cục pin Con Ó không biết còn hay hết điện. Trông nhỏ vậy mà cabine rộng ghê. Từ lúc ghe đến trại, Thanh chỉ một lần xuống và đứng bên ngoài. “Cuộc sống kế tiếp là ở nó, chết cũng ở nó.” Triều sấn tới, kề tai Thanh nói nhỏ:

“Đủ rồi, Thanh. Mẹ! Có cả thằng Cụt và bạn bè tụi nó. Mầy phải coi chừng, đã một lần tụi nó trở về Việt Nam rước người lấy tiền.”

“Giỡn! Nói cho tụi thằng Chí, thằng Văn biết, ra cửa biển là đe họng tụi nó lại. Xong rồi Trường, xuống đi, Phong, xuống đi. Xuống hầm máy đi!”

Chí nới lỏng dây, chiếc ghe theo dòng trôi xa dần bến nhưng vẫn không xa bờ được, bọn Thanh phải dùng sào chống đẩy ra. Một phút, hai phút. Nghẹt thở cho tất cả mọi người. Thanh nhìn thấy trên nóc những mái thiếc trại, đầu người ta lố nhố, chắc ai cũng thức. Vậy mà cảnh sát vẫn ngủ, nếu không, chúng đã bắn dọa.

Ngoài lạch, một chiếc ghe đánh cá Thái Lan đi vào, Thanh nói nhỏ:

“Mầy cầm ‘vô lăng’ nghe Triều. Tao chờ chiếc ghe Thái Lan đi sát mình là nói Trường đề máy, tụi nó không nghe tiếng. Sắp tới rồi… Nhớ cái lạch không? Mắc cạn là thấy mẹ đó.”

Thuyền đánh cá Thái Lan đèn sáng choang và chạy như xe. Ngang qua ghe, tiếng máy hình như lớn hơn lên. Thanh hét nhỏ:

“Đề máy đi, Trường!”

Thanh nín thở.

“Khẹt khẹt… khọt khọt…”

Thanh bỗng muốn khọt khẹt theo tiếng thở dài của máy. Mẹ! Hết chạy nổi rồi. “Rán thêm vài lần nữa coi sao, Trường,” Thanh hét thầm, tay ghì chắc lấy vô lăng.

“Đ. má, bình hết hơi. Vậy mà thằng Phong nói đã thử rồi. C.!” Trường la vang vang dưới hầm máy.

Ba lần nữa thì không còn “khọt khẹt” nổi. Hai hầm đằng trước nhao nhao lên, lại có tiếng con nít khóc. Tiếng Thanh dồn dập:

“Quấn dây vô bánh trớn kéo có nổi không, Triệu?”

“Ờ, có thể.” Chí và Triều đều đồng tình. “Dù sao cũng phải cố hết sức đã, cảnh sát chưa hay mà!”

Thằng Triều hùng hổ bới xốc đường neo sau lái, vội vã quăng một đầu dây xuống hầm máy.

Gần hai chục thằng kéo lần đầu, lại “khọt khẹt” mà có vẻ yếu hơn lần đề máy lần thứ nhất. Thêm lần nữa, còn lại tám chín đứa, rồi lần nữa năm sáu đứa.

“Mẹ! Vô phương,” Thanh kêu nhỏ. “Kéo vô, tiếp nhau kéo nhanh vô còn tính kế khác.”

Lại thằng Triều hùng hổ chạy phóng thẳng tới trước, giựt mối dây kéo mạnh. Còn thằng Chí vừa kéo vừa đùa:

“Hồi nãy tao chặt dây chắc bây giờ vui lắm hả Thanh?”

Thanh im lặng. Anh nhảy qua lưng nhiều người, về đàng trước.

Chưa vào tới bến, người ta đã đứng đầy nhóc trên ghe không biết từ lúc nào. Tiếng xao động bớt được một chút, có lẽ ai cũng sợ làm quá ồn ào không tốt.

“Trời ơi. Mấy người xuống hầm hết đi,” Triều la. “Tụi tui còn một bình đề nữa để ghe bên kia, chút nữa là đi mà.”

Không ai nghe, người ta ùa lên những chiếc ghe mục sát bờ, bỏ lại nhiều thứ đồ đạc lăn lóc. Phải lo giữ thân cái đã, cảnh sát xuống là chết!

Cảnh sát không xuống. Thật ra chúng không hay biết gì cả. Buổi chiều chúng uống rượu ở lều một gia đình Tàu và bây giờ ngủ như chết. Ghe cặp bến êm thắm như lúc rời. Một số người chán chường lần lượt chui rào trở vào trại. Cả bọn Thanh bỏ mặc đồ đạc, qua hết bên ghe sắt đã chìm một khúc, mỗi người chọn một chỗ dựa.

“Sao, Chí?”

Chí nhìn Triều, rồi Triều nhìn Thanh, cả bọn nhìn nhau không thằng nào nói gì thêm.

“Khui thuốc ra hút cho đã đi,” Hòa đề nghị. Và nó làm thiệt! “Lấy kinh ra đọc đi anh Thanh.”

Thanh bỗng phì cười, “Mẹ, thằng này nghe lén.”

Bất chợt như nhớ ra điều gì, anh vỗ mạnh Triều:

“Hồi nãy mầy nói… mình còn cái bình đề khác?”

“Dễ gì có,” Triều xụi lơ. “Tao thấy bà con ùa lên như giặc, tao teo quá nên nói bừa.”

Thằng Văn thỏ thẻ:

“Anh Thanh, chiếc ghe Vũng Tàu vô tháng trước bị chìm một khúc còn cái bình, mà sợ không đủ ký.”

“Ghe đó mấy máy?”

“Hai bloc đầu bạc.”

“Đủ nổ không Phong?” Thanh hỏi.

“Nếu hơi đầy thì nổ nổi, có thể thôi. Chỉ sợ xì hết cha nó như cái thằng khốn nạn này thì tốt hơn kêu cảnh sát dậy cho rồi.”

Chí kéo Văn và Tấn đi liền. Triều nằm vắt ngang xuống sàn ghe hát nho nhỏ. Tất cả những khuấy động dịu lắng lại hết, Thanh mới hay rằng đêm nay trời thật đẹp. Tự nhiên Thanh muốn được ngồi nói chuyện với một người bạn thân về những quan niệm vụn vặt trong cuộc sống. Thanh xoay tròn chiếc nhẫn và nghĩ đến Phượng. Có lần cô nàng ước mình được sống như anh gù Quasimodo ở nhà thờ Đức Bà trọn đời chỉ biết có mười mấy cái chuông đồng. Anh uể oải dựa lưng vào be nhìn lên trời.


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Góc Bể Bên Trời (3)

VÕ HOÀNG

Gần ba giờ rồi!

Bọn ba đứa ì ạch khiêng bình đề về tới, trông có vẻ nặng nề lắm. Tự dưng Thanh cảm thấy gần gũi và thương bạn bè hơn lúc nào hết. Anh nhỏm dậy:

“Lần này nữa thì thôi nghe, đừng cho ai hay hết. Tụi mình đủ rồi nghe Triều.”

Mà chắc không còn ai dám trở xuống một lần nữa. Thanh cùng các bạn trở lại những giây phút khó thở tưởng đã bỏ qua.

“Khi nào xong xuôi cho hay nghe Phong. Kiểm điểm tụi mình lại. Lần nầy thì đề tại bến rồi chặt dây chạy nghe Chí. Nới lỏng một chút cho mũi ghe bê ra ngoài, một chút thôi.”

Thanh phụ Phong và Văn thòng cái bình hơi xuống gầm máy. Ba giờ kém năm. “Cố lên! Ai cũng nghĩ tụi mình đã bỏ cuộc.” Trên nóc những mái nhà thiếc, đầu người không còn lố nhố nữa. Người ta ngủ cả, gia đình Phượng chắc đã ngủ, anh Hai chắc đã ngủ. Triều lui cui dọn dẹp các thứ đồ đạc ngổn ngang cản lối đi.

Và thằng Phong đề máy không cần chờ ghe Thái Lan che bớt tiếng động. Tiếng nổ ầm xé rách đêm vắng, tiếng nổ tức tưởi như đã lâu lắm chưa được nổ. Trong năm giây đồng hồ đầu tiên, tất cả hơi ngỡ ngàng và sau đó, ai cũng biết mình sẽ phải làm gì. Bọn Thanh phải ghì lái chạy thẳng qua phía bên kia bờ sông vì ngoài lạch, một tàu đánh cá Thái Lan đi vào trong khi lạch chỉ có thể đi lọt được một chiếc.

Thanh vẫn còn kịp nhìn thấy trên những nóc thiếc, người ta đứng hẳn dậy và ở dưới bến có tiếng la ơi ới. Triều che miệng hét:

“Đừng rọi đèn nghe Thanh, tao có thể đi lọt qua lạch. Cảnh sát thức rồi, coi chừng tụi nó bắn.”

Cảnh sát bắn thật, nhưng chúng chỉ bắn dọa, bắn báo động. Vài tiếng rời rạc và một loạt M16.

“Làm gì tụi nó dám bắn ngay ra đây, đừng lo. Trong đó nhìn ra ngoài nầy đâu có rõ được. Đằng trước là một căn cứ Hải quân có mấy chiếc tốc đỉnh chạy như PCF bên mình, qua ngang nó đừng để ga lớn nghe Triều. Chạy nép sát bên kia. Tắt đèn cabine đi.”

“Ừ! Mẹ, tối quá!”

Nghẹt thở suốt chặng đường mười phút trong sông rồi ghe cũng ra tới cửa biển. Gió lộng thổi tung các thứ quần áo phơi dọc theo hai bên cabine ghe. “Máy ba bloc đầu bạc có khác!” Thằng Phong chui lên khỏi hầm máy và ôm vai Chí nhảy cỡn:

“Ê, hơn một năm mới được đi biển lại, đã thiệt!”

Thanh không cho là “đã.” Đến lúc đối diện với biển rồi đây. Sóng nước đến nhẹ nhàng không làm anh yên tâm được. Biển có những cái hãi hùng đến từ dưới đáy, đến từ một cơn gió thật mát nhẹ, đến từ khoảng trời cao mênh mông mà trong một lúc, khoảng trời bị mặt nước che khuất.

“Chạy thẳng 90, Triều. Chưa đi ngang được đâu, có nhiều vớ ở hai bên cửa sông chạy dài theo bờ, ‘máng’ vô đó thì bỏ mẹ!”

“Mầy lái đi Thanh. Tao đi một vòng ‘điểm binh’ xem có gì đáng ngại không. Thằng Cụt, đ. mẹ thằng Cụt.”

Một tay Thanh chụp vô lăng và xoay nhẹ về trái, tay kia cái địa bàn. Khổ nỗi, kim không quay nếu nó không ở vị thế nằm ngang.

Thanh đứng áp sát vào vô lăng cố dán mắt vào bóng đêm. Anh mường tượng như mình đang ở trên đất và nhắm mắt chạy hết tốc lực, không kể gì trước mặt, không kể gì sau lưng. Đèn pin lúc này không giúp ích được gì cả, rọi lại càng thêm chói mắt. Thanh hét:

“Mấy thằng nào ở không ra trước mũi. Ngó cho kỹ thấy cái gì thì la lên, tao tránh.”

Hai ba thằng đứng xớ rớ không biết làm gì, nghe Thanh nói, khều nhau đi về đàng trước. Thanh quay qua Chí:

“Mầy đi luôn đi Chí. Cầm theo cây đèn pin, có gì thì rọi. Muốn tao quẹo trái thì la lên, muốn tao quẹo phải thì la lên. Đi đi.”

Thằng Chí chồm người lấy cây đèn, bước ra khỏi cabine.

Biển bắt đầu hơi có sóng, Thanh nghĩ: “Ở lằn này chắc tụi nó hết đóng đáy được rồi.” Anh ngửa tay coi lại địa bàn, tay kia xoay vô lăng nhẹ về phía trái. Số nhỏ dần, 80, 70, 60, …, 40.

Triều nhón chân nhìn vào địa bàn, la nhỏ:

“Sao mầy đi lên? Hướng đó là hướng Bangkok, hướng đi Miên, hướng về Việt Nam, Thanh.”

“Mầy cũng biết, tao định chạy như vậy ít nhất cũng một tiếng đồng hồ sẽ bắt đầu tính toán lại. Cảnh sát nó có rượt, nó rượt theo hướng nam, hướng đi Mã Lai phải không? Làm gì tụi nó không biết mình mang ý định đi Úc?”

“Ừ, tùy mầy. Sao cũng được!”

Thanh thở mạnh. Mọi thứ phải rõ ràng và dứt khoát chớ đâu lại “sao cũng được.” Dù sao cũng phải cố tránh không để cảnh sát Thái bắt lại. Cũng may, chuyện vừa rồi chỉ là việc đánh cắp chứ không là đánh cướp, vì hai hôm nay, không thằng cảnh sát nào chịu khó đi tuần vòng “kiếm chác” để đến nỗi tụi anh phải “dùng sức.” Thằng Chí, thằng Văn đỡ “mất công” làm việc.

Trong đêm tối mò mò, ghe âm thầm chạy lướt như tên. Sắp năm giờ rồi, gần một đêm vật lộn với những thứ vướng mắc nhỏ nhặt, cả bọn quên bẵng đi mọi nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Bây giờ thì yên rồi, hơn một tiếng đồng hồ với tốc độ nầy, cảnh sát không thể nào tìm bắt lại được, ngoại trừ trường hợp máy bị hư giữa chừng.

Mặt trời chưa lên khỏi biển. Một vừng sáng chạy dài suốt dãy bên phải ghe. Thanh chợt thở dài, “ở đó là quê hương mình, ở đó lúc nầy bước ra khỏi nhà đã thấy mặt nhau, ở đó đã bắt đầu một ngày cho tất cả những người cùng khổ hiện diện, có kẻ đã hoàn tất một phần công việc trong nhà để lát nữa đây còn khăn gói nối lưng nhau lội bộ suốt hàng chục cây số ngàn làm sưu không công cho nhà nước.”

Đây với đó cách nhau hai ngày đường biển. Tự nhiên Thanh quay lại trông thẳng về chỗ sáng nhất của bóng đêm, hướng 90. “Tháng ba, cuối mùa gió bấc.” Thanh biết hồi này Cha phải thức dậy trước cơn gà gáy còng lưng vét từng nửa mo gầu nước để có mà tưới cây trong vườn khi cây vườn thì mỗi ngày mỗi cằn cỗi đi, không lớn thêm được.

Biển trời lồng lộng, đường về quê an bình càng thênh thang càng làm Thanh thêm ngậm ngùi. Bản đồ cách có hai phân tây mà chưa bao giờ dám nghĩ rằng mình sẽ đi đến đó. Bao nhiêu là cố gắng bấy lâu nay cũng chỉ để khắc phục và tìm kiếm một thứ hạnh phúc cay nghiệt mà ngày trước anh không thể nào tưởng tượng ra được. Chỗ đến, cho tới bây giờ vẫn chưa lường được thời gian và trăm ngàn hiểm họa khác trên đường Úc Châu, Nam Dương hay Mã Lai, Thái Lan… Ở đâu cũng không phải là quê hương thì còn gì để mà nghĩ thêm?

Thanh nghe thèm một chút trên sóng nước bấp bênh mà thật sự được biết rằng mình đang ở vào hải phận Việt Nam.


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.