Đất Lạ

VÕ HOÀNG

Qua hết hai tuần lễ khù khù khờ khờ trên xứ người thì cũng phải tới lúc thằng Thài bắt đầu thấy được nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trước hết, nó nói mà gần như ra lệnh cho em, con Lài, mười bốn tuổi:

“Kể từ bây giờ trở đi, mầy nói chuyện với tao, mà nói bằng tiếng Mỹ thì đừng có hòng tao trả lời mầy.”

Con nhỏ chỉ liếc xéo một cái rồi thôi. Thằng Thài tiếp tục:

“Còn mỗi khi anh Phước mở nhạc, mầy làm ơn nói với ảnh là mở nho nhỏ một chút. Tao ghét nhứt là cái vụ đó. Nhạc gì mà mở ì ì như khùng như điên, nghe làm sao được!”

Bây giờ thì con Lài lên tiếng:

“Sao anh không nói với ảnh mà bắt tui nói? Bộ sợ ảnh hả?”

“Sợ gì mà sợ!”

“Ảnh mở nhạc lớn thì tự nhiên vặn bớt lại, cần gì phải nói.”

“Tại tao không thích!”

Thằng Thài không thích thiệt tình chớ không phải nó sợ. Dưới mắt nó, kể từ lúc bắt đầu cuộc sống lưu lạc, anh Phước là một người phải có trách nhiệm hướng dẫn và bảo bọc nó trong cuộc sống xa lạ này. Hồi còn ở trại tỵ nạn, nó thường tìm cách kể cho tụi bạn nó nghe về những đức tính của anh nó. Có bao nhiêu điều tốt, nó rán nhớ cho hết để kể ra cho hết. Lâu lâu nhận được thơ và tiền gởi qua, nó khoe đầu này đầu kia như trưng ra cái bằng chứng mà nó đã kể về anh nó.

Qua tới đây, mặc dầu chưa biết rõ được cái lối sống sắp tới của mình, cái lối sống đang có của anh Phước, của con Lài như thế nào chớ chỉ riêng cái việc tối tối trước nhà thì nhạc mở lùng bùng, anh Phước với hai ba người bạn ngồi nhún nhún phê bình ban nhạc này, ban nhạc nọ, lâu lâu thay dĩa, thay băng, trong phòng thì con Lài ngồi thụt xuống một góc giường nói điện thoại với ai không biết, chút chút nói một hơi tiếng Mỹ, chút chút nói một hơi tiếng Việt rồi cười hích hích, nói mệt thì bỏ đó đi rót ly nước bưng trở lại nói tiếp, nó thấy nó bực quá.

Thiệt thì cũng đã có một lần, cảm thấy cái đầu nhức quá, nó tự động với tay bấm nhỏ bớt nhạc của anh Phước lại rồi vì vô ý, thay vì bấm bớt, nó bấm lớn thêm. Anh Phước rầy nó:

“Cái gì mày không biết thì đừng có thọc tay thọc chân vô, hư của người ta.”

Thấy nó có vẻ buồn, anh Phước lại dạy:

“Muốn cho nó hát nhỏ lại thì bấm nút bên trái, đè ngón tay xuống, vừa nghe thì buông ra, còn muốn cho nó hát lớn lên thì bấm nút bên mặt.”

Rồi vui miệng, anh chỉ cho nó biết công dụng của những cái nút khác, ấm có, chát có, loa bên trái có, loa bên phải có, nó nhớ không hết. Bây giờ thì chắc chắn nó biết bấm cho hát nhỏ lại rồi, nhưng không thích thôi.

Ba anh em nó ở trong một chung cư có nhiều người Việt Nam. Căn nhà có hai phòng ngủ mà anh Phước ở riêng một phòng. Nó mới qua, đồ đạc có chút đỉnh để bên phòng con Lài, tối thì ôm cái mền ngủ trên bộ sa lông. “Chờ ít lâu, tao kiếm cái nhà khác, mầy ngủ giường đàng hoàng,” anh Phước nói với nó như vậy. Có đêm, nó đi ra đi vô tới một hai giờ sáng chờ bạn bè anh Phước về rồi mới có chỗ ngủ, nó cũng bực vụ này lắm mà chưa nói ra.

Con Lài theo anh Phước đi hồi năm bảy mươi tám. Mới có ba bốn năm nay mà nó nói tiếng Mỹ hay thiệt. Có điều thằng Thài đôi lúc không hiểu em nó nói cái gì mà không dám hỏi lại. Riết rồi nó ít dám nghe con nhỏ nói chuyện. Bữa nay anh Phước đi vắng, nó bắt đầu kiếm chuyện. Nó lặp lại:

“Mầy làm ơn nói chuyện với tao bằng tiếng Việt. Cái gì không biết thì thôi, đừng có nói tiếng Mỹ, tao ghét lắm. Bộ mầy tưởng như vậy là mầy giỏi hả?”

“Giỏi cái gì?” Con Lài nhương nhướng mắt. “Tui quen miệng tui nói như vậy. Anh không hiểu mà bạn tui nó hiểu thì thôi chứ.”

“Hừ, bạn mầy. Mầy mở miệng ra là nói tới bạn mầy. Bạn mầy mà cũng như mầy thì hết xài.”

“What do you mean hết xài?”

Thằng Thài nghe được một câu nửa nạc nửa mỡ thì định nổi sùng nhưng kịp nghĩ rằng câu chuyện đã lạc đề rồi, nó nhỏ giọng lại:

“Mầy nói chuyện trong điện thoại cái gì mà một lần hai ba tiếng đồng hồ không sợ sưng cần cổ sao. Có bồ rồi hả?”

“Xí, bạn gái mà.”

Thằng Thài kéo hộc tủ móc ra một gói thuốc. Nó rút một điếu gõ gõ xuống bàn, cúi đầu im lặng. Anh em tụi nó theo như má nó nói, tuổi đâu có kỵ nhau mà sao nó cảm thấy cứ cái đà này, cứ cái kiểu sống này, ngày nào cũng có chuyện cãi nhau, xí xó nhau. Hồi ở nhà đâu có như vậy! Nó nhớ, mùa nắng cuối cùng của con Lài ở bên nhà, hai anh em nó lãnh mối xẻ cá làm khô cho người ta, từ sáng tới tối không lớn tiếng với nhau một lần, hết mùa như vậy mà.

Hình như có những cái bực dọc của nó đối với anh Phước, nó mang ra trút lên đầu con em. Hôm qua thiếu chút nữa nó đưa tay lên vả vô mặt con nhỏ. “Ai đời, kêu nó chỉ cho cách gọi điện thoại đi tiểu bang khác, nó hỏi gặng hai ba lần coi có cái gì cần thiết không, nếu không thì thôi, chờ người ta gọi lại, khỏi tốn tiền, rồi cuối cùng, nó biểu anh Phước cấm gọi đi xa.”

Thằng Thài cố nghĩ có lẽ anh Phước nó dặn như vậy thiệt. Nó nói với con Lài:

“Bây giờ tao có hai ba cái giấy tờ trong mình rồi, mầy phải nói cho tao nghe, cái nào để làm cái gì, cái nào phải mang theo người, cái nào nên để ở nhà.”

Nó lại kéo hộc tủ, vừa thở dài vừa lôi ra mấy cái bao thư. Nó biết cuộc sống của nó rồi đây phải dính líu tới ba cái thứ lắt nhắt này, mà cho dù nó có cố tránh né tới đâu cũng không khỏi được. Con Lài thấy anh có vẻ thảm não quá, chợt thương. Con nhỏ sà lại, giằng lấy mấy cái bao thơ, rút trong đó ra những mẩu giấy lớn nhỏ đủ cỡ, dịu giọng giải thích cho anh.

“Ngày mai đi chợ Việt Nam, mầy nhắc giùm anh Phước mua cho tao cuốn tự điển nghe Lài. Thế nào thì tao cũng phải có một cuốn riêng để ở nhà, tao học cầm chừng.”

Con Lài đưa tay quạt quạt khói thuốc:

“Anh phải chịu khó mới được. Hồi em với anh Phước mới qua cũng khổ lắm, rồi từ từ…”

Con nhỏ hơi ngượng vì đổi cách xưng hô lẹ quá. Thằng Thài không kịp để ý, nó hỏi:

“Mầy học ba tháng mầy nói chuyện được chưa?”

“Cầu cả năm đó chớ. Mà anh phải làm quen với Mỹ mới được.”

Rồi hai anh em yên lặng. Trong lúc con Lài xếp mấy mẩu giấy lại để vô bao thơ thì thằng Thài cúi đầu dụi tàn thuốc, nó nghĩ vẩn vơ. “Rồi mình cũng phải làm quen với cuộc sống ở đây. Thằng Bằng, thằng Chiến qua trước mình hai ba tháng chắc đã đỡ nhiều. Hồi ở trại tỵ nạn coi vậy mà vui hơn, khổ mà vui. Bữa nay chắc anh Phước dẫn về mấy người bạn rồi làm ì ì cả đêm nữa.”

Nó chợt nhớ tới lá thơ gởi về cho má nó đang viết lở dở, nó ngước lên:

“Mầy viết cho má ít chữ nghe Lài, bỏ vô bao thơ của tao luôn. Mai tao gởi về. Má đợi thơ tụi mình.”

Nó nghĩ tới anh Phước lại bực mình. “Năm trước, gởi hình về, má coi má tủi má khóc. Vậy mà cũng không biết. Bữa mới qua, ảnh lại nhất định bắt ba đứa đứng chung trước mũi xe chụp một tấm, đứng cạnh dàn máy hát chụp một tấm, rồi người cầm điện thoại, người cầm lon bia chụp, chụp, gởi về bển bả còn tủi thân hơn nữa.”

Thằng Thài có cảm tưởng, anh Phước nó thay đổi hoàn toàn cái quan niệm thế nào là cuộc sống có ý nghĩa tối thiểu để làm vui lòng cha mẹ. “Hồi ba chưa ở tù, ba biết anh Phước và bạn bè ảnh tụm năm tụm ba làm truyền đơn rải, vậy mà ba vui. Lo mà vui. Tới lúc má lo cho đi được, ba hay ba không buồn một chút. Qua tới đây rồi mới biết.”

Điện thoại reo nữa. Con Lài nhoài người chụp liền. Nó ậm ừ hai ba tiếng thì liếc xéo về thằng Thài một cái rồi để điện thoại xuống, đi vô buồng. Một chút, nó trở ra gác điện thoại, lại đi vô.

Còn lại một mình, thằng Thài đứng dậy, thọc hai tay vô túi quần, bước lửng thửng ra đứng cạnh cửa sổ ngó xuống đường.

Bữa nay, cuối tuần, bãi đậu xe trống trơn. Người ta kéo nhau đi coi hát, đi chợ, đi chơi hết. Nó cảm thấy lạc lõng quá.

Trời sụp tối thì anh Phước nó về, có dắt theo một người bạn.

“Mầy nhớ mặt thằng này không Hướng? Mầy nhìn nó có ra không? Ở trại mới qua đen thui thấy mà ghê.”

Bạn anh Phước chớp chớp mắt ngó thằng Thài, một chút gật gật:

“Ừ. Mà lúc này nó cao quá!”

“Mười bảy rồi còn gì nữa. Còn ở bển là phải đi lính rồi đó chớ.”

Thằng Thài mỉm cười, ngồi xuống ghế. Nó không cảm thấy buồn vì lời giới thiệu kỳ cục của anh nó nhưng nó hơi bực vì anh Phước đã vô ý không coi sự có mặt của nó vô đâu hết. “Đáng lẽ anh phải nói cho mình biết bạn ảnh là ai mặc dù có thể mình biết rồi.”

Thằng Thài biết anh Hướng. Năm bảy mươi lăm anh mới còn là học sinh luyện thi tú tài. Một hai năm sau đó, anh có tới nhà Thài vài lần, nói chuyện với anh Phước ít tiếng rồi đi liền. Thằng Thài chỉ đoán lờ mờ là anh cũng chung “băng” với anh Phước, làm truyền đơn, dán bích chương vậy thôi. “Hồi này ảnh mập quá nhưng cái lỗ mũi gãy cúp, ngó một cái là nhớ liền.”

“Nhớ tao không Thài?”

Thằng Thài giật mình:

“Dạ nhớ chớ anh. Nghe anh Phước kêu tên anh là em nhớ liền. Lúc này anh có đi làm chưa?”

“Làm cái mẹ gì! Mới bị lây-óp đó.”

“Là làm sao?”

“Thất nghiệp! Cũng như anh Phước mầy vậy đó.” Ngừng một chút anh Hướng hỏi nó:

“Sao? Thấy ở Mỹ sướng không? Vui không?”

“Ừ! Cũng sướng, cũng vui.”

Rồi thằng Thài với tay lấy gói thuốc. Nó hết muốn nói chuyện với anh Hướng rồi. Ngày trước, mới mười ba mười bốn tuổi chớ nó nhìn thấy công việc làm của anh Phước với mấy người bạn của ảnh vĩ đại và anh hùng ghê lắm.

Tới trại tỵ nạn, đêm đêm nó nằm gác tay lên trán nghĩ về cuộc sống sắp tới với những nét anh hùng và vĩ đại như anh Hướng, như bạn bè của anh. “Ở xứ tự do này, chắc mấy anh làm việc dễ dàng hơn và hăng hái hơn nhiều…”

Vậy mà ngay trong ngày thứ hai ở Mỹ, nó biết anh Phước đã làm nó lầm từ mấy năm nay rồi. Tuần trước, anh Phước đi chơi, con Lài đi làm, nó tò mò rảo khắp nhà, gặp cái gì cũng giở ra coi, gặp cái gì cũng rán rờ một cái cho được.

Rồi suốt buổi chiều, nó buồn. Con Lài từ nhỏ tới lớn, kể cả hồi trước gia đình còn dư giả, chưa có lần nào ăn sinh nhựt, qua đây hai ba năm, làm liên tiếp hai ba cái. Con Lài để trong album toàn hình ảnh của nó và bạn bè. Ba má, mấy em gởi hình qua, nó còn để nguyên trong bao thơ.

Ở bên trại thằng Thài gởi hình qua, nó còn để nguyên trong bao thơ. Con Lài biết nhảy đầm! Còn anh Phước, anh Phước thì chuyện bồ bịch của ảnh khỏi nói rồi, mà sao quần áo đồ đạc của ảnh nhiều quá! Bốn năm đôi giày mới đủ kiểu.

Nó thẩn thờ suốt buổi chiều hôm đó. Nó hoang mang không biết đường đất nào mà nghĩ. Cuộc sống của nó rồi cũng sẽ như vậy sao? Tối, anh Phước mặc bộ quần áo thiệt bóng, thiệt ngộ, chải cái đầu thiệt lạ xuống xe đi đâu không biết. Nó hỏi con Lài:

“Anh Phước đi đâu vậy?”

“Ảnh đi hoài mà, hỏi làm gì. Chắc phót đi gì đó!”

“Là làm sao?”

“Bạn bè ảnh mời ảnh đó! Dạ vũ, dạ hội gì đó!”

“Ê Lài, ở đây người Mễ chắc ngon lành lắm phải không?”

“Ngon gì. Tụi nó ngu dốt lắm.”

“Kỳ! Ngu sao có nhiều người Việt Nam mình bắt chước ăn bận theo tụi nó, rồi chải đầu theo tụi nó làm chi vậy?”

Con Lài nín khe.

Bây giờ lại thêm anh Hướng ngồi đây. Cũng với cái đầu hớt tóc ngắn mà phùm lên cao, quăn quăn. Rồi nhạc nổi lên bập bùng, anh Phước gác chân lên bàn, nhịp nhịp.

Thằng Thài nhắm mắt lại, chán nản. Nó không muốn nghe nhạc, nó không muốn nhìn hoài cái hình ảnh mà theo nó, “má biết má buồn lắm.”

Hồi gần đi, má nó dặn cái gì? “Qua bển phải bắt chước thằng Phước, sống cho ra sống. Mai mốt về, mới được nhìn mặt tao. Còn không, tụi bây đi luôn, đừng có léo về nữa!”

Thằng Thài nghĩ: “Làm sao về được mà má lo xa. Còn ở bên này sống kiểu nào thì tốt hơn má đừng biết tới. Cứ tưởng y như má nghĩ tới, vậy thôi.”

Bữa nay, anh Phước chỉ mở nhạc vừa đủ để thằng Thài nghe, thành ra nó có thể nghe lọt được tiếng cười hăng hắc của con Lài trong phòng vọng ra. Nó đốt thêm điếu thuốc nữa rồi ngồi ngay ngắn lại, ngước mặt ngó lên trần nhà. Hình như anh Hướng đang nói với anh Phước về một loại vải quần áo nào đó, mà nghe, nó bóng hơn vải sa teng, lúc đi ra đèn quay, nó đổi màu liền liền…

Thằng Thài muốn ngủ quá, nó quên rằng lúc đó chỉ mới có mười một giờ.


Đất Lạ, Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: