Tàn Nho

VÕ HOÀNG

Khu chung cư này, ai cũng biết ngày mai ông Thiên gả đứa con gái lớn. Hồi chiều tới giờ, có hai ba nhóm ông già bà cả đi vô đi ra liền liền. Bà chị Sáng nhà kế bên nói với chồng:

“Con nhỏ coi vậy mà nó có phước thiệt chớ hổng phải chơi, thằng chồng nó tướng đi hiền khô mà gương mặt sáng sủa lắm. Nghe nói cũng làm chung hãng với con Lương. Tụi nó khá lắm.”

Bà Nghĩa ở căn đối diện thì nói với đứa con gái:

“Tao tưởng ông Thiên ăn ở hiền lành thì trời thương, ai dè cưới nhằm thằng rể không ra gì hết. Người gì mà đoản hậu, thiếu âm đức thấy rõ. Nó đi, tao ngó đằng sau lưng, tao biết thứ này không khá được. Mà thôi, chuyện của người ta mình lo làm gì cho mệt.”

Đó là chuyện của nhà ông Thiên. Vợ chồng con cái nhà ông Thiên đương lo và đương mệt. Mệt nhứt là con Lương. Không phải nó mệt vì làm nhiều việc này việc nọ để chuẩn bị cho cái lễ cưới của nó ngày mai. Mọi thứ thì gần như có người khác lo cho hết rồi, nó mệt vì phải nghe ba má nó cắn đắn nhau về những chuyện ở đâu đâu. Rồi ông Thiên mệt vì phải kiếm đủ thứ lý lẽ để nói cho vợ nghe; bà Thiên mệt vì phải kiếm cho có chuyện để cãi lại chồng. Chỉ có mấy đứa em con Lương là không mệt. Tụi nó, đứa lớn thì rủ nhau đóng cửa phòng nghe nhạc, mấy đứa nhỏ ở tuốt ngoài bãi đậu xe chơi trò cút bắt.

Khi ông Thiên biết chắc rằng giờ này hết còn khách khứa tới nhà nữa, ông bắt đầu đổi giọng, lớn tiếng với vợ:

“Bà đừng có tưởng qua tới đây rồi bà muốn làm gì thì làm. Nhà hổng có bàn thờ ông bà thì thôi, mà hễ có thì phải cúng kiến cho đủ lễ. Nói chuyện với ai cũng vậy, lúc nào bà cũng hớt hớt cái miệng rồi cái gì cũng xứng sái cho qua, đâu có được! Tui, hổng lẽ tui nói lại theo ý tui, người ta cho là mình khó tính, người ta cho là vợ chồng với nhau mà ăn nói hai ba đàng. Nín, thì bực chịu hổng nổi.”

Bà vợ gục gặc đầu hai ba cái rồi ngồi sà xuống sa lông, nghiêm nét mặt, gằn từng tiếng:

“Bây giờ ông muốn nói cái gì thì nói cho hết đi. Mai sáng người ta tới nhà thì làm ơn dẹp bỏ cái bản mặt chầm dầm của ông đó. Mà ông làm eo làm sách người ta như vậy có ích gì? Ông nói coi!”

“Tui làm eo làm sách người ta cái gì?”

“Vậy chớ liên tiếp mấy tháng nay, ông bày đủ thứ thập vật để báo người ta. Từ cái lễ gì kêu là nạp thể, vấn danh, rồi nạp cát nạp kiết. Gả thì gả phứt cho rồi còn bày đặt!”

Ông Thiên cười nhạt:

“Cái thân thằng này hồi trước cưới vợ, không bị người ta bày đặt chắc? Bà nên nhớ, phải chi tui đòi vàng vòng bạc nén nhà bà đâu. Đàng này, tui chỉ muốn người ta làm cho đủ lễ đủ nghĩa như ông già tui hồi trước phải làm vậy đó.”

“Bộ ông ức chuyện cũ hả?”

“Cái gì mà ức. Bà đừng có lảng lảng. Người ta nói ‘quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ.’ Cái đạo vợ chồng là cái đạo lớn nhất trong đạo làm người. Bước đầu này, mình không để cho tụi nhỏ nó có ý nghĩ trịnh trọng trong việc cưới hỏi, mai mốt tụi nó dễ coi thường tình nghĩa vợ chồng.”

“Ông đừng nói nho với tui. Chỉ cần nói bây giờ thì ông tính làm sao? Sáng mai là người ta tới, ông không được quạu quọ à nghe!”

“Tui tính làm sao hả? Tính cái gì? Tui muốn rằng tới cái lúc đưa con Lương về bên đó, hai đứa tụi nó cũng phải có bàn thờ ông bà để làm lễ chớ hổng phải rước dâu, rước ra khỏi nhà thì thôi. Người ta mà không coi trọng cái lễ, thì làm sao biết coi trọng họ nhà mình, coi trọng con gái mình. Ý tôi muốn là muốn như vậy đó.”

“Thì hồi nào tới giờ, mình đòi cái gì người ta cũng chịu, có thắc mắc gì đâu. Cho tới bây giờ, bên kia người ta sắm đã đủ đồ đạc hết rồi, ngày mai ông sẽ thấy.”

“Cái bà này –” ông Thiên đứng phắt dậy “– quanh co một hồi bà cũng đều nhắc lại ba cái lễ lộc cưới hỏi. Nó sắm vàng sắm bạc, sắm hột xoàn cho cả đống chớ nó khi dễ thì nó cũng khi dễ hà. Trừ khi nó chịu nghiêm chỉnh làm lễ ông bà thì tui mới cho là nó biết trọng người sống. Bà hổng thấy mấy cái lúc lễ nạp thể, vấn danh sao? Tui sắp đặt đâu đó rồi, ông bà sui hẹn lần hẹn hồi. Tới lễ hỏi, tui quỳ tui vái chớ con mắt tui liếc, tui thấy chớ đâu phải không. Ai đời mình thành khẩn vái ông bà mà người ta khều nhau, rồi cười khúc khích. Cái thứ đó, thiệt tình là lỡ rồi chớ tui mà biết trước, tui hổng thèm tiếp. Còn bà nữa, cứ vuốt đuôi theo người ta rồi rốt cuộc hổng ra gì hết. Hôn nhân nhi luận tài, di lỗ chi đạo dã. Cưới hỏi mà mở miệng ra nói toàn lời của phường mua bán, như cái thứ mọi rợ.”

Bà Thiên băt đầu im lặng, không cố nói nữa. Bà biết, dù sao ông Thiên cũng có lý của ông mặc dầu trong cuộc sống hiện tại, bà thấy nó hơi khắc khe. “Chẳng qua, có nhiều thứ không được vừa ý dồn nén lại, gặp dịp ổng tuôn ra cho đã nư đó mà. Ai đời hai ông bà sui là dân Tây mà ổng nói chuyện, nhứt định xổ nho chùm. Người ta không bực mình sao được. Rồi lần lần người ta cho là gàn, bướng. Nói cái gì người ta cũng ừ ừ hử hử cho qua. Bây giờ giận lẫy, gây với mình.”

Ông Thiên ngồi xuống:

“Thiệt thì tui cũng mong xong cái đám cưới này càng sớm càng tốt, chớ tui bực mình không tui cũng muốn bịnh.”

“Ai biểu ông bực!” bà Thiên nghĩ thầm. “Người gì mà cổ lỗ sỉ, lúc nào cũng khư khư giữ ba cái phép tắc cũ rích, không sợ người ta cười.”

Ông Thiên lại đứng lên:

“Tui hổng muốn thấy điều gì bực mình nữa hết. Ngày mai, người ta qua rước dâu, bà theo, bà đưa về bên đó. Tui hổng đi!”

Con Lương nãy giờ ngồi một góc, im lặng. Không phải chỉ quanh chuyện đám cưới của nó, nó mới phải nghe cái lối nói chuyện này của ba má nó. Mấy năm rồi, ông Thiên sanh cái bịnh gắt gỏng với hết thảy mọi người chung quanh, kể cả với tụi nhỏ. Với gia đình anh Hạnh, đáng lẽ ổng cũng nên để ý tới cái cảm tình thông gia mà nhìn lại mình một chút. Đôi khi, con Lương có cái cảm tưởng ba mình già trước tuổi, sanh tật trước tuổi già rồi, không còn là bịnh như má nó thường nói. “Ổng chưa yên ổn cuộc sống, chưa yên ổn trong lòng nên mang bịnh mà. Từ từ rồi hết, tụi bây lo làm chi.” Bây giờ thì cuộc sống yên rồi, mà bịnh đã thành tật, hết chữa.

Con Lương ngó cái điệu bộ của ba nó, đứng lên nói một câu, ngồi xuống nói một câu bằng cái giọng ngang ngang mà nghe cho kỹ, hết sức chí tình, nó chợt thấy thương. “Hồi còn ở nhà, chiều chiều ổng hay ngồi chồm hổm trước sân, nói tới chuyện gì cũng muốn chửi. Tưởng đâu tại vì cuộc sống khó khăn, gò bó rồi ổng đâm ra bực dọc. Ai dè qua tới bên này mới biết ổng thành tật.”

Nó biết, tự cái mặc cảm của ba nó đối với cuộc đời xa lạ – cái cuộc đời quá nhàn hạ mà thiệt tình ông Thiên không bao giờ muốn có – này đã làm cho ông tiếp tục sống với tâm trạng bị bạc đãi, bỏ rơi. Trước kia ông chán chường bao nhiêu thì bây giờ ông phẫn uất bấy nhiêu. Có hai thực trạng khắc nghiệt đã liên tiếp đeo đuổi và làm khó dễ ông lâu nay. Ở bên kia, có những cái đổi thay làm cho ông phải trầm ngâm từ ngày này qua ngày khác. Bên này, tự dưng ông cảm thấy mình đã đổi thay, rồi lại tiếp tục trầm ngâm. Động tới một chút là nổi cơn lên.

Con Lương đưa tay vuốt tóc, mắt vẫn không rời ba nó. “Cái điệu bộ này, một ngày nào mới đây, ổng im lặng một cách thảm não sau khi vui tay lật sơ qua tập vở của mấy đứa nhỏ.” Lần đó, không nói ra lời chớ trong đầu, con Lương biết rằng ba nó không hiểu gì về những chữ viết, những lời phê trong mấy cuốn tập.

“Mai này mình về nhà chồng rồi” – con Lương nghĩ – “mà ba ổng quạu quọ như vầy, cũng rầu.” Nó đứng dậy, đi về phía bàn thờ. Đưa tay vuốt nhẹ chữ song hỷ bằng giấy chiếu vàng ánh dán trên nhung đỏ, nó nói, như muốn phá tan cái không khí căng thẳng:

“Nhà mà có cái bàn thờ, coi sáng sủa quá hén má!”

Nó chưa dám bắt chuyện với ba nó. Vậy mà nó vừa dứt lời, ông Thiên nói hớt lời vợ:

“Bữa nay, tao nghe mầy nói một câu, nghe được. Xứ mình, đời đời, nhà nào mà không có bàn thờ. Đi ra đi vô thấy hoài riết rồi mình tưởng như không có. Tới lúc kẹt mới biết mình thiếu. Qua cái đám cưới này, tao tháo chữ Song Hỷ ra rồi đưa cái bàn lên cao một chút, để luôn như vậy.”

Ông muốn nói cho bà vợ nghe luôn. Thật ra, cái ý tưởng này cũng mới chớm có đây. Lâu nay, tâm tư giày vò, đầu óc bị dồn ép chớ bản thân ông, ông chưa thực hiện được bất cứ điều gì khiến mình tự làm phôi pha đi cái giày vò, dồn nén đó. Sẵn trớn, ông nói luôn:

“Cho dù con người ta theo Tây theo Mỹ đi nữa, ông bà mình đâu có bỏ quên được. Bởi vậy tao mới nhứt định buộc tụi bây phải nghiêm chỉnh với lễ nghĩa. Sống mà không biết có cái gì là ‘thiên niên thịnh,’ cái gì là ‘vạn đại vương’ thì ưa làm chuyện tầm bậy lắm. Ở bên này, tao coi cái mòi tụi nhỏ lần lần bắt chước người ta, quên hết ông bà, quên hết tổ tiên. Sự vong như sự tồn, chính là cái tình thiệt của con người ta. Mà hổng ai thèm biết, đâu có được.”

Bà vợ chắc không hiểu gì, chỉ hít hít mũi. Ông Thiên không nản, nói tiếp, mắt ngó về phía con Lương:

“Mầy chớ bộ! Ông nội mầy chết để lại cho tao tấm hoành bốn đời rồi. Coi, ở ngoài cửa bước vô nhà, trời có tối cách mấy cũng hổng ăn thua gì, tấm hoành nó sáng trưng, ngó một cái là giựt mình.”

Rồi ông chợt ngừng. Ông vừa biết mình đang có cái cảm giác thảng thốt như là giựt mình mà không phải. “Ẩm hà tư nguyên,” bức hoành mấy đời đã ngả mầu hồng nhạt như hiện ra trước mặt. Rồi bức hoành tụt xuống một đầu, tuột xuống hai đầu, hai thằng thanh niên mỗi đứa một đầu, bỏ hối hả vô đó mấy chục cuốn cổ thi, kinh sách, khệ nệ khiêng ra xe. Bức hoành bị cuốn lại thành một cục, nằm chung với cả trăm cuốn thuộc loại “văn hóa đồi trụy,” lâu rồi.

Con Lương đi trở về ghế, không phải để nghe cho rõ chuyện, mà là để thọc tay xuống cái bàn nhỏ, rút lên cuốn chương trình của đài truyền hình, lật coi.

Ông Thiên liếc qua bà vợ, cũng vừa lúc bà với tay mở cái đèn bàn đặt trên thùng loa cao gần một thước. Ánh sáng phựt một cái, tỏa ra khắp phòng. Ai cũng không để ý trong nhà nãy giờ tối hù.

“Mầy coi, ủi thêm cho tụi nhỏ mỗi đứa một bộ đồ nghe không Lương. Lỡ sáng tụi nó giỡn dơ hết, chiều không có mà bận đi nhà hàng. Tới đó, mình mẩy dơ hầy, người ta cười.

Con Lương gần như không để ý tới lời má nó nói nên không trả lời. Dĩ nhiên, nó quên luôn sự có mặt của ba nó ở đó, nó vừa lật tập chương trình, vừa hát nho nhỏ. Bà Thiên ngồi thu người ở một góc sa lông, ngó về bếp. Hai người, không còn ai muốn nghe chuyện nữa.

Ông Thiên cúi đầu ngẫm nghĩ: “Sao có nhiều chuyện chướng lỗ tai gai con mắt quá, mà đi tới đâu cũng gặp hết. Ở bên nhà thì đi vô đi ra gặp toàn cái thứ ngu dốt nó nói nhăng nói cuội rồi lo tính chuyện đè đầu đè cổ người ta. Qua tới đây, ai người ta cũng tiếng Tây tiếng Mỹ nói ra khói, tưởng đâu đem cái thứ cổ nho ra xài, tụi nó trọng vọng. Dè đâu…”

Ông chợt thấy nóng ran lồng ngực. “Không lẽ cái học của mình hết có chỗ xài rồi sao? Chớ thiếu gì thằng ở bên Tây tự khoe là giỏi tiếng Mỹ, rồi thiếu gì thằng ở đây lại khoe là giỏi tiếng Tây. Tụi nó mà con mắt người ta mà cũng được trọng vọng thua gì…”

Ông ngồi phịch xuống ghế, trợn mắt ngó bà vợ, rồi lại ngó con Lương. Ông muốn quay lại vấn đề cưới hỏi và cố tìm cho được một câu chữ nho thiệt là độc để đánh một cú chót với bà Thiên mà nhứt thời chưa tìm ra, nên hơi thở có vẻ dồn dập. Bà vợ nói nhỏ:

“Thôi ông đi nghỉ đi, chuyện gì rồi ngày mai hãy tính. Ngày mai là ngày vui của con Lương đó, ông liệu mà xử sự cho khéo. Tui cũng mệt lắm rồi.”

Ông Thiên không đáp lời, chỉ ngó trừng trừng vô mắt vợ. Con Lương lúc đó đang lơ đãng ngóng ra cửa sổ. Trời bên ngoài tối rồi.


Đất Lạ, Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: