Góc Bể Bên Trời (9)

VÕ HOÀNG

05H00, 13-3-78, Hải Đăng Singapore.

06H10, …, Vịnh Singapore.

Thanh ghi thêm vào hải trình những diễn tiến mới. Bây giờ là sáu giờ mười, ngày thứ tư của cuộc hành trình. Ở hướng đông, mặt trời chưa lên khỏi biển nhưng vừng sáng lan rộng ra hơn nửa khoảnh trời. Không có mây thì hôm nay chắc là nắng ghê lắm.

Không biết từ bao giờ, Thanh đã thấy quen được với cái tâm trạng mà trước đây chưa lần nào anh nghĩ tới, tâm trạng của một người chấp nhận dễ dàng và dứt khoát rằng cuộc đời mình gắn liền với sóng và nước, với gió, mưa, nắng và tiếng máy nổ. Mỗi lần chợt nghĩ tới một trong những thứ này, Thanh biết mình phải nghĩ bằng sự cảm nhận hết sức nghiêm chỉnh. “Nó liên quan tới sự sống” chớ đâu có thường! Thanh nhớ lại lời cha anh nói, như nói để chơi chơi:

“Gió, nước, lửa là ba vật thiêng trong trời đất. Nhưng đứng trên bờ thì khó nhận biết được điều này lắm.”

Hồi đó, Thanh muốn tìm xem cái “khó nhận biết” nó như thế nào, mà rồi vẫn chịu. Những tháng ngày lênh đênh trên biển, cũng có khi mưa to gió lớn, nhưng anh vẫn thấy có một chút gì không thật tình với nhau giữa cái nhận biết và tâm tư mình khi đứng trên boong tàu có trọng tải hàng trăm tấn. Nắng với mưa, với gió lúc đó, theo Thanh nghĩ, như một thứ cần thiết nhỏ để điểm trang cho cuộc sống vốn đã có quá nhiều trang điểm. Điều này Thanh càng thấy đúng hơn vào những năm sau đó, lúc anh đọc được trong một quyển sách “loại cấm,” ông Trần Dần khôn khéo đã dùng mưa, gió và nắng trang điểm cho cái sống, ít ra cũng cho cái sống của chính tác giả. Vậy mà cái sống vẫn không khá hơn được.

Nắng với mưa là việc không phải của người, thành ra nói tới nắng tới mưa là rõ ràng muốn vượt qua giới hạn của người, phải “coi chừng.” Thanh mỉm cười một mình. Anh nhớ lại những buổi chuyện trò không dứt với tụi bạn ở một góc quán cà phê chệt Hiền, nhiều lần tụi anh nói tới Trần Dần và những khôn khéo trong một bài thơ, loại thơ chính trị. Thằng bạn, thằng Hà rành lắm, nó nói:

“Mới đầu, đó là Bài Ca Thống Nhất, nói toàn mưa. Thơ chính trị mà nói toàn mưa là đáng ngại lắm phải không. Đâu phải mưa như mưa đàng nam vừa làm vừa chơi, mưa đàng bắc đổ thóc ra phơi.” Xong, nó ngâm với giọng vịt đực:

“Em cúi đầu đi, mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót

Tôi bước đi
Không thấy phố, không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ…

Rồi biết sao không, Hoàng Cầm, Hoàng Cầm là bạn, khuyên nên làm thêm một đoạn nữa để ‘chứng tỏ lập trường’ mới mong đặng được. Thế là anh chàng thêm, và dĩ nhiên phải nói tới nắng. Sửa luôn tên bài là ‘Nhất Định Thắng,’ này nghe.

Hôm nay
Trời xanh, xanh đục
Nắng lên, đỏ phố, đỏ cờ
Cuồn cuộn mít tinh
Những ngày thương xót đã lùi xa

Anh bước đi
Đã thấy phố thấy nhà
Không thấy mưa sa
Chỉ thấy nắng lên, trên màu cờ đỏ…”

Khéo tới vậy mà cũng không khá được. Khéo tới vậy mà rồi cũng phải cứa cổ tự tử cho vừa lòng nhà nước.

Thanh không nhớ là anh đã nghĩ gì thêm lúc bấy giờ, chớ bây giờ thì anh biết rõ và thông cảm với tác giả “Nhất Định Thắng.” Dù sao thì cuộc sống ở đó, luôn luôn vẫn là cuộc sống trên đầu sóng ngọn gió, có khác gì đâu. Có lúc cũng cảm thấy được rằng mình đã từng nghĩ “chưa tới” một sự việc nào đó, người ta mỗi ngày mỗi lớn mà!

Ghe lọt vô vịnh rồi, mặt biển phẳng và xanh thẳm. Bên phải nổi lên xa xa những dãy núi con con chạy dài tới trước. Qua khỏi Mã Lai rồi, còn lại chút đó. Bên trái là những hòn đảo tên là gì cà? Những hòn đảo lớn nhỏ dán vào nhau.

Thanh chuẩn bị một số Ăng Lê trong đầu đủ để đối phó với tụi cảnh sát Singapore. Tụi này nói tiếng Anh thì phải biết, cứ như Mỹ chớ không phải chơi đâu!

Từ sau cái lúc ghé vào Trengganu, Thanh biết mình dở ẹt nhất là thứ Ăng Lê chó đẻ này. Hôm trước, bọn anh vào cửa vịnh với ý định kiếm thêm dầu đủ để tới thẳng Djakarta vì anh biết sẽ gặp rất nhiều rắc rối khi phải bắt buộc ghé Singapore. Nói, nó không thèm hiểu, cũng không cho lên bờ làm sao mà viết cho nó hiểu. Cuối cùng, thằng cảnh sát phóng xuống ghe đi lòng vòng xem xét đồ đạc, nó biểu phải ở đây và đợi làm thủ tục nhập trại Poulo Bésa, “trong đó, người Việt Nam đông lắm.” Tụi này man rợ không thua gì tụi Thái, Thanh đã nói với nó:

“Tụi tao không muốn ở đây. Tụi tao muốn đi Úc Đại Lợi.”

“Không được, mầy phải ở đây.”

“Không,” Thanh cố nói. “Mầy cho tao dầu máy, tao đi ngay.”

“Không được, mầy phải ở đây.”

“Mầy bán dầu cho tao. Tao có tiền Mỹ.”

“Không được!” nó hét lên. “Mầy phải ở đây.”

Thanh nhìn lên bờ, người ta bu quanh cầu tàu nhìn bọn anh với những con mắt tò mò bình thản. Anh thấy bóng dáng một thằng mũi cao tóc vàng, anh phóng lên bờ, cố tìm chữ để nói cho nó hiểu và giúp đỡ vì nghĩ rằng mình lỡ vào đây, khó mà thoát ra được. Cuối cùng anh chỉ nói được những gì đã nói với thằng cảnh sát. Người Tây phương lắc đầu, hắn bảo hắn là du khách Ý Đại Lợi và hắn không giúp được gì.

Thằng cảnh sát bắn chỉ thiên một phát, Thanh phải nhảy về ghe sau khi chửi thề một tiếng.

“Ra ngoài đó, và ở đó. Đợi!”

Sếp của thằng cảnh sát ra lệnh. Thanh cho ghe ra giữa sông và trong khi Chí, Văn sửa soạn lại đường dây neo, anh bất thần tống ga phóng tuốt ra cửa biển trước bao nhiêu cặp mắt ngạc nhiên của bọn trên ghe, bọn trên bờ. ”Mẹ mầy, không cho dầu ông cũng phải đi, không thèm ở đây. Ông đi Úc, ông phải tới Úc.”

Vậy mà cảnh sát Mã Lai bắn theo hai ba tiếng lẻ tẻ rồi thôi. Thanh biết như thế vì bọn này có rảnh rang đâu mà thèm làm những cử chỉ ra điều săn sóc đám tỵ nạn lơ thơ ở đâu tới làm phiền. “Đó là một kinh nghiệm chỉ nên tìm dầu ở ngoài biển, kẹt lắm mới phải vào bờ,” Thanh nhủ thầm.

Và hôm nay, bọn anh đã ở vào thế kẹt.

“Thế nào mình cũng phải ghé Tân Gia Ba, tụi nó không nhận người tỵ nạn đâu, mà mình cũng đâu có thèm. Làm gì nó cũng cho dầu để mình đi tiếp, đi đâu cũng được miễn ra khỏi hải phận tụi nó.” Thanh bàn với Triều, Chí, Văn chiều hôm qua và quyết định sáng nay sẽ ghé vào Singapore, như một kiểu làm nũng. Còn không đầy phuy dầu thì đi tới đâu, mong manh quá!

Có nắng. Mặt trời lên, rồi lên cao dần. Bọn Thanh đã nhìn thấy được hình dáng mờ mờ của những tòa nhà cao nằm san sát nhau trên hòn đảo nhỏ. Một vùng sương mù chưa tan kịp như mong manh lên đó và kéo dài ra, xuống thấp, rồi dính liền với mặt biển.

Trước mặt là một đất nước tự do thật sự, nhưng thật tình Thanh không thể tưởng tượng ra được chuyện gì sẽ xảy đến với bọn anh chút nữa đây. “Cứ nhắm thẳng trước mặt mà đi, may rủi không phải là việc của mình,” Thanh nghĩ như vậy. Bao lần rồi, anh cảm thấy cuộc sống sắp tới sẽ dính líu tới nhiều những phiền nhiễu mà một thời gian trước, ở bên nhà, mình không thể nào tưởng tượng được.

Cái “thân phận bé không đâu” của anh, của tụi Triều, Chí, của bao nhiêu người ở Songkhla, ở Poulo Besa và mấy trại tỵ nạn khác, của mấy chục triệu con người ở bên nhà quả là cái thân phận “không đâu.” Có điều, bé mà quá vất vả, vất vả đủ thứ chuyện, vất vả ở khắp mọi nơi.

Lúc này thì trên ghe hình như ai cũng thức hết rồi. Mấy bà nói chuyện với nhau và cười ầm ầm. Ba bốn đứa ngồi chùm nhum đàng trước tranh nhau chỉ trỏ và nói về vẻ đồ sộ của thành phố Tân Gia Ba mà trước đây chỉ có nghe nói, chưa hề thấy bao giờ. Tiếng vợ thằng Phong lớn nhất, át cả tiếng máy nổ.

Lúc bọn Thanh dọn dẹp sàn tàu sạch sẽ và dời các thùng phuy đang cột bè dang dở về phía cabine xong cũng là lúc bọn anh thấy bóng dáng nhiều chiếc ca nô của quan thuế Singapore tiến về phía ghe. Chắc chắn là tụi này thấy mình từ khuya rồi, tụi này giàu có và văn minh mà.

Thanh đi vòng ra sau múc lon nước, “cái bình hơi” nhìn anh, gật đầu chào và hỏi:

“Mình ghé Tân Gia Ba hả anh Thanh?”

“Không ghé, nhưng phải gặp tàu xin dầu.”

“Tụi này không cho ghé vô đâu, có khi còn làm khó dễ nữa đó. Sao anh không chạy thẳng rồi ghé qua mấy hòn đảo của Nam Dương?”

“Ở đó đâu có chắc là có dầu. Mà phải đi xa con đường hàng hải có nhiều tàu buôn quốc tế thì mình phải chuẩn bị nhiều dầu mới dám đi chớ.”

“Cái bình hơi” gục gặc đầu ra chiều đồng ý, xong ỏn ẻn cười với Thanh:

“Mấy bữa nay thấy anh Thanh có vẻ mệt dữ há!”

Mệt là cái chắc, nhưng Thanh thật tình “không dám” nói chuyện lâu với người con gái này. Anh biết mình hơi vô lý nhưng cố gắng không tìm xem vô lý ở chỗ nào. Thanh nhướng mắt chào rồi bước về phía trước, thở nhè nhẹ.

Bất chợt, anh quay lại, nhưng để nói với A Kiếu:

“Ờ nè, A Kiếu, chút nữa A Kiếu ra nói chuyện với tụi cảnh sát Tân Gia Ba nghe. Tụi nó nói tiếng Quảng phải không? Hay nói tiếng Phổ thông? A Kiếu nói tiếng Phổ thông được không?”

A Kiếu đang nằm sấp chống cằm nhìn ra xa, nghe Thanh hỏi thì ngồi dậy, nhanh nhẩu:

“Được, A Kiếu nói được hai thứ hết trơn.”

“Ờ, chút nữa ra ngoài trước nghe, chớ trên ghe ai cũng nói Ăng Lê dở ẹt hà, nghe.”

“Được, chút nữa A Kiếu ra.”

Thanh nói với “cái bình hơi”:

“Chị làm ơn dọn dẹp mền gối, xếp lại cho gọn ghẽ. Kêu đứa nào bắt ống nước phun rửa sau lái và mấy cái nồi cho sạch sẽ. Để như vậy thấy ghê quá.”

“Cái bình hơi” gật đầu tuột xuống khỏi chỗ nằm. “Cô thịt chó” lẹ làng theo sau trong lúc vợ thằng Phong với tay kéo tấm mền đắp thêm lên cái đầu rối nùi, lầm bầm những gì nghe không rõ.

Thanh bước ra ngoài. Bốn chiếc ca nô đã đến gần lắm rồi, trông đã rõ những đường nét trên lá cờ, một thứ cờ trong Liên Hiệp Anh. Những người cảnh sát mặc quần đùi đứng lố nhố nhìn qua bên này. Thanh nhìn đồng hồ, 9 giờ 35.

Thằng Văn soạn lại đường dây neo xong phăng ra mấy sải tay khoanh tròn, thảy sát vô be, nó hét:

“Coi lại dây đằng sau nghe, Hồng. Chút nữa cột cặp ca nô.”

Nhưng tụi cảnh sát Tân Gia Ba không dùng dây của thằng Văn. Hai thằng hai chiếc ca nô cặp hai bên nhảy phóc qua ghe gọn như sóc, tụi nó chòng thòng lọng vào cột. Một thằng trông “giống như Tàu” nói lớn:

“Good morning.”

“Good morning,” thằng Chí đáp lại.

Thanh nhả ga, bước ra ngoài. Hai chiếc kia không cặp, chỉ lửng thửng ngoài xa. “Mình là tỵ nạn mà tụi nầy làm thấy ghê quá, súng ống gì mà dữ vậy!” Thanh nghĩ. Anh lách mình nhường lối đi theo A Kiếu. Thằng cảnh sát kia hỏi Chí:

“Ai là thuyền trưởng? Mầy nói tiếng Anh được không?”

Chí lắc đầu, nó ngó lại Thanh. Thằng cảnh sát hỏi Thanh:

“Mầy là thuyền trưởng, phải không?”

“Phải,” Thanh đáp. “Nhưng tao nói tiếng Anh không thạo. Mầy nói tiếng Tàu được không?”

Thằng cảnh sát nhướng mắt:

“Tiếng Tàu? Được, được.”

Xong nó xổ một hơi tiếng Tàu. Thanh ngoái ra sau tìm kiếm A Kiếu. Đâu đó có tiếng thằng nào phì cười.

A Kiếu chờ thằng cảnh sát nói dứt câu xong, tằng hắng lấy giọng và kê sát mặt nó, nói lớn. Thanh chỉ nghe được hai tiếng “Úc Châu,” phát âm giống hệt tiếng Việt, còn bao nhiêu gió thổi đi tuốt.

Câu chuyện không biết đã tới đâu, chỉ thấy thằng cảnh sát nói lại với giọng dịu hẳn, gương mặt nó có vẻ thông cảm ghê lắm. Thằng cảnh sát “giống như Tàu” hồi nãy đã nhẩy trở về ca nô, đổi lại một thằng khác da ngăm ngăm đen, mặc civil, cái mặt không có cảm tình mấy. Thanh lầm bầm:

“Mẹ, lại gặp mọi. Thằng này chắc làm khó làm dễ gì nữa đây!”

Thật! “Thằng mọi” đi thẳng vô cabine lục lạo một hồi, lúc trở ra, nó cầm theo hai bao thuốc lá Samith và Gold mà bọn Thanh đem theo từ Songkhla. Nó quăng mạnh xuống sàn ghe, hỏi lớn:

“Tụi mầy người Thái?”

Mẹ nó, nó nghĩ tụi mình là Thái Lan! Thanh đáp:

“Không, Việt Nam!”

“Không! Thái!” nó hét lên.

Rồi nó trở vô cabine. Thanh cúi đầu ngẩm nghĩ, thật khó mà diễn tả cho đúng được tình trạng của bọn anh và nhất là sự có mặt ở đây trong một tư thế khác hẳn tư thế của những người Việt tỵ nạn đã tới Singapore trước. Không khéo lại dính líu tới luật pháp! Tụi cảnh sát Thái Lan có thưa gởi gì với Liên Hiệp Quốc không?

“Thằng mọi” trở ra, lần này cầm theo hai ba cục pin mang nhãn hiệu “Con Ó” và hai óp nhang Từ Hương! Nó ngồi cạnh A Kiếu, nghe chuyện vẫn với cái bản mặt hầm hầm.

A Kiếu chắc đang diễn tả đời sống ở trại tỵ nạn Songkhla. Thanh thấy cô ta vừa nói vừa chỉ cái xà rông của thằng Giàu đang vận. Thanh khều A Kiếu:

“Nói cho nó biết ghe này của người Việt Nam tới trại bỏ dưới bến, mình lấy đi nghe A Kiếu.”

“Chỉ cho nó coi hầm nước đá,” thằng Chí xen vào. “Nước đá Việt Nam nhỏ, có bọng ở giữa, nước đá Thái Lan lớn hơn.”

“Tụi này làm chó gì mà biết được điều đó!” Thằng Triều xía vô một câu.

“Nó thấy chữ “Con Ó” là biết liền chớ gì mà nói. Chữ Thái Lan lăng quăng như con lãi chớ đâu được vậy!”

A Kiếu quay lại Thanh:

“Người cảnh sát nói với A Kiếu đó, là nước Tân Gia Ba không nhận người Việt Nam vô nữa. A Kiếu nói A Kiếu biết rồi, A Kiếu xin dầu nó, nó nói nó cho.”

“A Kiếu hỏi nó chừng nào cho?”

“Chiều lận. Nó nói đợi tàu đi tuần tới.”

“Nó hỏi mình ở đâu tới phải không?”

“Ờ. A Kiếu kể cho nó nghe mình bị cảnh sát Thái Lan đánh hoài, nên mình sợ, mình đi ấy ghe của người Việt mới tới trại, mình đi Úc Châu.”

“A Kiếu giỏi quá! Có nói với nó là mình tỵ nạn tụi Việt Cộng không?” Chí vừa cười vừa hỏi.

“Có chớ. A Kiếu nói Việt Cộng dữ hơn cảnh sát Thái Lan. Nó nói nó biết rồi.”

Vậy là phải bấp bênh ở đây chờ chiều mới có dầu. Thanh nghĩ tới mà nóng lòng ghê. Tuy vậy, anh an tâm vì không gặp rắc rối thêm nữa, ít nhất cũng hết ngày hôm nay.

Thằng Giàu lom khom kéo cái neo về be, quay lại ra ý hỏi “thằng mọi,” nhưng thằng này đâu phải là “cớm,” nó nói một hơi với thằng kia, thằng kia gật đầu, xong nó gật đầu với Giàu. Cái neo lộn ùm xuống, tiếng dội lạc lõng giữa biển nước. Trên ghe ai cũng im lặng, hai thằng cảnh sát cũng im lặng, bốn chiếc ca nô và cả VNKG 0042 cũng thôi không nổ máy nữa.

Mười giờ sáng. Mười giờ sáng trong eo biển nhỏ xíu này yên lặng thật. Mấy người cảnh sát Singapore đã trở về ca nô và đùa giỡn với nhau. Thỉnh thoảng Thanh nghe tiếng rè rè của máy liên lạc. Thanh lục lại lá thơ và lôi ra ghi thêm một hàng tái bút: “Gởi lúc 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật, 11 tháng 3 năm 1978 tại hải phận Singapore.” Anh đọc lại lá thơ gởi về trại Songkhla, cảm thấy một ít xót xa.

Hai mươi tám người chúng tôi nhớ hoài những ngày đã sống ở Songkhla. Ở đây, mất đi cái thú ‘chờ nghe tên mình có thơ,’ chúng tôi thấy mất mát nhiều lắm. Cái âu lo của chúng tôi, có lẽ cũng không khác gì cái âu lo của bà con ở trại, làm thế nào có được một cuộc sống kế tiếp mà trong đó, con người ta còn nghĩ rằng mình sống mà làm được những điều mình muốn.

Chúng tôi chỉ mong được tới Úc bình an. Gạo, hôm đi bà con cho đến nay sắp hết, không hiểu rồi mai có được thêm chút nào không chứ hiện tại, chỉ còn ước mơ và niềm tin. Tên Minh, người Quảng Ngãi, Công Giáo, nhưng đã nhận công việc thắp nhang van vái ơn trên mỗi buổi chiều, y cũng không quên câu ‘bình an dưới thế cho người thiện tâm.’ Ở đó, có dịp, bà con cũng cầu nguyện cho chúng tôi với…

Thanh định thầm sẽ viết nhiều lá thơ liên tiếp, gặp bất cứ tàu nào cũng nhờ họ gởi. “Mình gởi thơ về trại, ai không có thân nhân chắc cũng cảm thấy được an ủi.”

Buổi sáng trời trong thật trong, chút nữa mặt trời lên cao hơn nữa sẽ nóng ghê lắm. Mười giờ mà ngước mặt lên nhìn trời đã muốn nhảy mũi. Sắp tháng ba ta rồi, ngày dài dần ra cho tới tháng bảy. “Tháng ba đàn bà đi biển,” gió “lồng trung” sắp đổi sang nồm thành ra cả vịnh Thái Lan biển êm láng. Thanh nghĩ vẩn vơ một hồi cũng đành nằm dài cố dỗ giấc ngủ. “Kệ nó, bây giờ nằm trong vịnh làm sao biết được bên kia đảo Sumatra gió thổi ra làm sao. Đàng nào mình cũng đi tới đó, vấn đề là có vượt qua được hay không thôi. Nghĩ hoài cũng mệt mệt!”

Anh nhỏm dậy nhìn ra hai bên. Bốn chiếc ca nô vẫn nằm im ở đấy, hiền từ nhưng không kém vẻ đe dọa. Đằng trước ba bốn thằng chụm đầu vào nhau đánh cờ tướng, thỉnh thoảng cãi cọ qua lại. Đàng sau, “cô thịt chó” thủ thỉ với A Kiếu chuyện gì đó, lâu lâu hai người phá lên cười. Một số rút xuống mấy cái hầm được chống nắp che bớt nắng. Đã bắt đầu nóng.


Góc Bể Bên Trời, Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: