Tàn Nho

VÕ HOÀNG

Khu chung cư này, ai cũng biết ngày mai ông Thiên gả đứa con gái lớn. Hồi chiều tới giờ, có hai ba nhóm ông già bà cả đi vô đi ra liền liền. Bà chị Sáng nhà kế bên nói với chồng:

“Con nhỏ coi vậy mà nó có phước thiệt chớ hổng phải chơi, thằng chồng nó tướng đi hiền khô mà gương mặt sáng sủa lắm. Nghe nói cũng làm chung hãng với con Lương. Tụi nó khá lắm.”

Bà Nghĩa ở căn đối diện thì nói với đứa con gái:

“Tao tưởng ông Thiên ăn ở hiền lành thì trời thương, ai dè cưới nhằm thằng rể không ra gì hết. Người gì mà đoản hậu, thiếu âm đức thấy rõ. Nó đi, tao ngó đằng sau lưng, tao biết thứ này không khá được. Mà thôi, chuyện của người ta mình lo làm gì cho mệt.”

Đó là chuyện của nhà ông Thiên. Vợ chồng con cái nhà ông Thiên đương lo và đương mệt. Mệt nhứt là con Lương. Không phải nó mệt vì làm nhiều việc này việc nọ để chuẩn bị cho cái lễ cưới của nó ngày mai. Mọi thứ thì gần như có người khác lo cho hết rồi, nó mệt vì phải nghe ba má nó cắn đắn nhau về những chuyện ở đâu đâu. Rồi ông Thiên mệt vì phải kiếm đủ thứ lý lẽ để nói cho vợ nghe; bà Thiên mệt vì phải kiếm cho có chuyện để cãi lại chồng. Chỉ có mấy đứa em con Lương là không mệt. Tụi nó, đứa lớn thì rủ nhau đóng cửa phòng nghe nhạc, mấy đứa nhỏ ở tuốt ngoài bãi đậu xe chơi trò cút bắt.

Khi ông Thiên biết chắc rằng giờ này hết còn khách khứa tới nhà nữa, ông bắt đầu đổi giọng, lớn tiếng với vợ:

“Bà đừng có tưởng qua tới đây rồi bà muốn làm gì thì làm. Nhà hổng có bàn thờ ông bà thì thôi, mà hễ có thì phải cúng kiến cho đủ lễ. Nói chuyện với ai cũng vậy, lúc nào bà cũng hớt hớt cái miệng rồi cái gì cũng xứng sái cho qua, đâu có được! Tui, hổng lẽ tui nói lại theo ý tui, người ta cho là mình khó tính, người ta cho là vợ chồng với nhau mà ăn nói hai ba đàng. Nín, thì bực chịu hổng nổi.”

Bà vợ gục gặc đầu hai ba cái rồi ngồi sà xuống sa lông, nghiêm nét mặt, gằn từng tiếng:

“Bây giờ ông muốn nói cái gì thì nói cho hết đi. Mai sáng người ta tới nhà thì làm ơn dẹp bỏ cái bản mặt chầm dầm của ông đó. Mà ông làm eo làm sách người ta như vậy có ích gì? Ông nói coi!”

“Tui làm eo làm sách người ta cái gì?”

“Vậy chớ liên tiếp mấy tháng nay, ông bày đủ thứ thập vật để báo người ta. Từ cái lễ gì kêu là Nạp thể, Vấn danh, rồi Nạp cát nạp kiết. Gả thì gả phứt cho rồi còn bày đặt!”

Ông Thiên cười nhạt:

“Cái thân thằng này hồi trước cưới vợ, không bị người ta bày đặt chắc? Bà nên nhớ, phải chi tui đòi vàng vòng bạc nén nhà bà đâu. Đàng này, tui chỉ muốn người ta làm cho đủ lễ đủ nghĩa như ông già tui hồi trước phải làm vậy đó.”

“Bộ ông ức chuyện cũ hả?”

“Cái gì mà ức. Bà đừng có lảng lảng. Người ta nói ‘quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ.’ Cái đạo vợ chồng là cái đạo lớn nhất trong đạo làm người. Bước đầu này, mình không để cho tụi nhỏ nó có ý nghĩ trịnh trọng trong việc cưới hỏi, mai mốt tụi nó dễ coi thường tình nghĩa vợ chồng.”

“Ông đừng nói nho với tui. Chỉ cần nói bây giờ thì ông tính làm sao? Sáng mai là người ta tới, ông không được quạu quọ à nghe!”

“Tui tính làm sao hả? Tính cái gì? Tui muốn rằng tới cái lúc đưa con Lương về bên đó, hai đứa tụi nó cũng phải có bàn thờ ông bà để làm lễ chớ hổng phải rước dâu, rước ra khỏi nhà thì thôi. Người ta mà không coi trọng cái lễ, thì làm sao biết coi trọng họ nhà mình, coi trọng con gái mình. Ý tôi muốn là muốn như vậy đó.”

“Thì hồi nào tới giờ, mình đòi cái gì người ta cũng chịu, có thắc mắc gì đâu. Cho tới bây giờ, bên kia người ta sắm đã đủ đồ đạc hết rồi, ngày mai ông sẽ thấy.”

“Cá bà này.” Ông Thiên đứng phắt dậy. “Quanh co một hồi bà cũng đều nhắc lại ba cái lễ lộc cưới hỏi. Nó sắm vàng sắm bạc, sắm hột xoàn cho cả đống chớ nó khi dễ thì nó cũng khi dễ hà. Trừ khi nó chịu nghiêm chỉnh làm lễ ông bà thì tui mới cho là nó biết trọng người sống. Bà hổng thấy mấy cái lúc lễ Nạp thể, Vấn danh sao? Tui sắp đặt đâu đó rồi, ông bà sui hẹn lần hẹn hồi. Tới Lễ hỏi, tui quỳ tui vái chớ con mắt tui liếc, tui thấy chớ đâu phải không. Ai đời mình thành khẩn vái ông bà mà người ta khều nhau, rồi cười khúc khích. Cái thứ đó, thiệt tình là lỡ rồi chớ tui mà biết trước, tui hổng thèm tiếp. Còn bà nữa, cứ vuốt đuôi theo người ta rồi rốt cuộc hổng ra gì hết. Hôn nhân nhi luận tài, di lỗ chi đạo dã. Cưới hỏi mà mở miệng ra nói toàn lời của phường mua bán, như cái thứ mọi rợ.”

Bà Thiên băt đầu im lặng, không cố nói nữa. Bà biết, dù sao ông Thiên cũng có lý của ông mặc dầu trong cuộc sống hiện tại, bà thấy nó hơi khắc khe. “Chẳng qua, có nhiều thứ không được vừa ý dồn nén lại, gặp dịp ổng tuôn ra cho đã nư đó mà. Ai đời hai ông bà sui là dân Tây mà ổng nói chuyện, nhứt định xổ nho chùm. Người ta không bực mình sao được. Rồi lần lần người ta cho là gàn, bướng. Nói cái gì người ta cũng ừ ừ hử hử cho qua. Bây giờ giận lẫy, gây với mình.”

Ông Thiên ngồi xuống:

“Thiệt thì tui cũng mong xong cái đám cưới này càng sớm càng tốt, chớ tui bực mình không tui cũng muốn bịnh.”

“Ai biểu ông bực!” bà Thiên nghĩ thầm. “Người gì mà cổ lỗ sỉ, lúc nào cũng khư khư giữ ba cái phép tắc cũ rích, không sợ người ta cười.”

Ông Thiên lại đứng lên:

“Tui hổng muốn thấy điều gì bực mình nữa hết. Ngày mai, người ta qua rước dâu, bà theo, bà đưa về bên đó. Tui hổng đi!”

Con Lương nãy giờ ngồi một góc, im lặng. Không phải chỉ quanh chuyện đám cưới của nó, nó mới phải nghe cái lối nói chuyện này của ba má nó. Mấy năm rồi, ông Thiên sanh cái bịnh gắt gỏng với hết thảy mọi người chung quanh, kể cả với tụi nhỏ. Với gia đình anh Hạnh, đáng lẽ ổng cũng nên để ý tới cái cảm tình thông gia mà nhìn lại mình một chút. Đôi khi, con Lương có cái cảm tưởng ba mình già trước tuổi, sanh tật trước tuổi già rồi, không còn là bịnh như má nó thường nói: “Ổng chưa yên ổn cuộc sống, chưa yên ổn trong lòng nên mang bịnh mà. Từ từ rồi hết, tụi bây lo làm chi.” Bây giờ thì cuộc sống yên rồi, mà bịnh đã thành tật, hết chữa.

Con Lương ngó cái điệu bộ của ba nó, đứng lên nói một câu, ngồi xuống nói một câu bằng cái giọng ngang ngang mà nghe cho kỹ, hết sức chí tình, nó chợt thấy thương. “Hồi còn ở nhà, chiều chiều ổng hay ngồi chồm hổm trước sân, nói tới chuyện gì cũng muốn chửi. Tưởng đâu tại vì cuộc sống khó khăn, gò bó rồi ổng đâm ra bực dọc. Ai dè qua tới bên này mới biết ổng thành tật.”

Nó biết, tự cái mặc cảm của ba nó đối với cuộc đời xa lạ – cái cuộc đời quá nhàn hạ mà thiệt tình ông Thiên không bao giờ muốn có – này đã làm cho ông tiếp tục sống với tâm trạng bị bạc đãi, bỏ rơi. Trước kia ông chán chường bao nhiêu thì bây giờ ông phẫn uất bấy nhiêu. Có hai thực trạng khắc nghiệt đã liên tiếp đeo đuổi và làm khó dễ ông lâu nay. Ở bên kia, có những cái đổi thay làm cho ông phải trầm ngâm từ ngày này qua ngày khác. Bên này, tự dưng ông cảm thấy mình đã đổi thay, rồi lại tiếp tục trầm ngâm. Động tới một chút là nổi cơn lên.

Con Lương đưa tay vuốt tóc, mắt vẫn không rời ba nó. “Cái điệu bộ này, một ngày nào mới đây, ổng im lặng một cách thảm não sau khi vui tay lật sơ qua tập vở của mấy đứa nhỏ.” Lần đó, không nói ra lời chớ trong đầu, con Lương biết rằng ba nó không hiểu gì về những chữ viết, những lời phê trong mấy cuốn tập.

“Mai này mình về nhà chồng rồi,” con Lương nghĩ, “mà ba ổng quạu quọ như vầy, cũng rầu.” Nó đứng dậy, đi về phía bàn thờ. Đưa tay vuốt nhẹ chữ Song Hỷ bằng giấy chiếu vàng ánh dán trên nhung đỏ, nó nói, như muốn phá tan cái không khí căng thẳng:

“Nhà mà có cái bàn thờ, coi sáng sủa quá hén má!”

Nó chưa dám bắt chuyện với ba nó. Vậy mà nó vừa dứt lời, ông Thiên nói hớt lời vợ:

“Bữa nay, tao nghe mầy nói một câu, nghe được. Xứ mình, đời đời, nhà nào mà không có bàn thờ. Đi ra đi vô thấy hoài riết rồi mình tưởng như không có. Tới lúc kẹt mới biết mình thiếu. Qua cái đám cưới này, tao tháo chữ Song Hỷ ra rồi đưa cái bàn lên cao một chút, để luôn như vậy.”

Ông muốn nói cho bà vợ nghe luôn. Thật ra, cái ý tưởng này cũng mới chớm có đây. Lâu nay, tâm tư giày vò, đầu óc bị dồn ép chớ bản thân ông, ông chưa thực hiện được bất cứ điều gì khiến mình tự làm phôi pha đi cái giày vò, dồn nén đó. Sẵn trớn, ông nói luôn:

“Cho dù con người ta theo Tây theo Mỹ đi nữa, ông bà mình đâu có bỏ quên được. Bởi vậy tao mới nhứt định buộc tụi bây phải nghiêm chỉnh với lễ nghĩa. Sống mà không biết có cái gì là ‘thiên niên thịnh,’ cái gì là ‘vạn đại vương’ thì ưa làm chuyện tầm bậy lắm. Ở bên này, tao coi cái mòi tụi nhỏ lần lần bắt chước người ta, quên hết ông bà, quên hết tổ tiên. Sự vong như sự tồn, chính là cái tình thiệt của con người ta. Mà hổng ai thèm biết, đâu có được.”

Bà vợ chắc không hiểu gì, chỉ hít hít mũi. Ông Thiên không nản, nói tiếp, măt ngó về phía con Lương:

“Mầy chớ bộ! Ông nội mầy chết để lại cho tao tấm hoành bốn đời rồi. Coi, ở ngoài cửa bước vô nhà, trời có tối cách mấy cũng hổng ăn thua gì, tấm hoành nó sáng trưng, ngó một cái là giựt mình.”

Rồi ông chợt ngừng. Ông vừa biết mình đang có cái cảm giác thảng thốt như là giựt mình mà không phải. “Ẩm hà tư nguyên,” bức hoành mấy đời đã ngả mầu hồng nhạt như hiện ra trước mặt. Rồi bức hoành tụt xuống một đầu, tuột xuống hai đầu, hai thằng thanh niên mỗi đứa một đầu, bỏ hối hả vô đó mấy chục cuốn cổ thi, kinh sách, khệ nệ khiêng ra xe. Bức hoành bị cuốn lại thành một cục, nằm chung với cả trăm cuốn thuộc loại “văn hóa đồi trụy,” lâu rồi.

Con Lương đi trở về ghế, không phải để nghe cho rõ chuyện, mà là để thọc tay xuống cái bàn nhỏ, rút lên cuốn chương trình của đài truyền hình, lật coi.

Ông Thiên liếc qua bà vợ, cũng vừa lúc bà với tay mở cái đèn bàn đặt trên thùng loa cao gần một thước. Ánh sáng phựt một cái, tỏa ra khắp phòng. Ai cũng không để ý trong nhà nãy giờ tối hù.

“Mầy coi, ủi thêm cho tụi nhỏ mỗi đứa một bộ đồ nghe không Lương. Lỡ sáng tụi nó giỡn dơ hết, chiều không có mà bận đi nhà hàng. Tới đó, mình mẩy dơ hầy, người ta cười.

Con Lương gần như không để ý tới lời má nó nói nên không trả lời. Dĩ nhiên, nó quên luôn sự có mặt của ba nó ở đó, nó vừa lật tập chương trình, vừa hát nho nhỏ. Bà Thiên ngồi thu người ở một góc sa lông, ngó về bếp. Hai người, không còn ai muốn nghe chuyện nữa.

Ông Thiên cúi đầu ngẩm nghĩ: “Sao có nhiều chuyện chướng lỗ tai gai con mắt quá, mà đi tới đâu cũng gặp hết. Ở bên nhà thì đi vô đi ra gặp toàn cái thứ ngu dốt nó nói nhăng nói cuội rồi lo tính chuyện đè đầu đè cổ người ta. Qua tới đây, ai người ta cũng tiếng Tây tiếng Mỹ nói ra khói, tưởng đâu đem cái thứ cổ nho ra xài, tụi nó trọng vọng. Dè đâu…”

Ông chợt thấy nóng ran lồng ngực. “Không lẽ cái học của mình hết có chỗ xài rồi sao? Chớ thiếu gì thằng ở bên Tây tự khoe là giỏi tiếng Mỹ, rồi thiếu gì thằng ở đây lại khoe là giỏi tiếng Tây. Tụi nó mà con mắt người ta mà cũng được trọng vọng thua gì…”

Ông ngồi phịch xuống ghế, trợn mắt ngó bà vợ, rồi lại ngó con Lương. Ông muốn quay lại vấn đề cưới hỏi và cố tìm cho được một câu chữ nho thiệt là độc để đánh một cú chót với bà Thiên mà nhứt thời chưa tìm ra, nên hơi thở có vẻ dồn dập. Bà vợ nói nhỏ:

“Thôi ông đi nghỉ đi, chuyện gì rồi ngày mai hãy tính. Ngày mai là ngày vui của con Lương đó, ông liệu mà xử sự cho khéo. Tui cũng mệt lắm rồi.”

Ông Thiên không đáp lời, chỉ ngó trừng trừng vô mắt vợ. Con Lương lúc đó đang lơ đãng ngóng ra cửa sổ. Trời bên ngoài tối rồi.


Đất Lạ, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Rồi Tiệc Cũng Tàn

VÕ HOÀNG

Đám tiệc gần tan rồi ông Thảo mới tới. Con bé Hai hé tấm màn cửa ra, vừa chấp chấp cái miệng, vừa nói:

“Bác Sáu, ba ơi, bác Sáu, bác Sáu đi xéo qua xéo lại, bác Sáu cũng say rồi.”

Những người trong nhà, có người định sẽ giở cái giọng móc họng ra nói với ông Thảo về cái tội tới trễ, nghe con bé Hai nói như vậy, hơi cụt hứng, tiếng ồn ào giảm bớt xuống. Anh Cường lẩm bẩm:

“Thằng chả tính chơi cái đòn đá nước khuya chắc! Để coi…”

Ông Thảo không thèm gõ cửa. Cái nắm tay lắc qua lắc lại hai lần thì bung ra. Mà kìa! Đàng sau ông Thảo có bóng dáng một người con gái. Những tiếng ồn ào ngưng hết. Ông Thảo phân trần:

“Ghé qua thằng Nhạc chở cái máy chơi ghem, đúng lúc nó đi câu cua về. Dộng một hơi mấy ly rượu mạnh, muốn bá thở, mới trễ đó chớ. Tao có rủ nó qua đây, nó kêu nó đi hết nổi rồi. Cháu tao, con Nương ở Gia Nã Đại qua tuần trước. Ở đây có thằng Tường biết rồi nè. Còn đây chú Cường chủ nhà, anh Nhân, anh Công, anh Thái, anh Bá, quen hết, bạn hết. Mầy ngồi chơi đi Nương.”

“Thằng Tường” ngồi dựa ngửa ra lắc lắc cái đầu:

“Bữa nay cô Nương bận áo đầm, đẹp quá cỡ hé!”

Người con gái ấp úng rồi đi lại ghế, nhẹ nhẹ ngồi xuống. Ông Thảo kéo ghế:

“Vợ mầy đâu, Cường. Kêu nó ra nói chuyện với con nhỏ cho vui. Bỏ nó mình ênh tội nghiệp.”

“Đi chợ rồi. Cuối tuần mà anh Sáu. Bữa nay tiệm mở tới chín mười giờ lận mà.”

“Mầy làm như nó đi chợ tới chừng nào người ta đóng cửa mới chịu về vậy. Thằng…”

Anh Cường phì cười cho qua. Thiệt tình, ông Thảo nói trúng phóc. Vợ anh đi chợ thì phải biết! Anh Thái khòm người xuống gầm bàn xách lên một xâu la de, giựt ra cho mỗi người một lon, nói lớn giọng:

“Tới đâu thì tới, bây giờ tiếp tục đi. Anh Sáu nó tới trễ làm đấp-bồ nghe. Thằng Nhân mầy uống đi mầy, để dồn đống hai ba lon như vậy coi sao được. Mẹ, thằng này lần nào cũng vậy.”

Anh Nhân:

“Thì từ từ, trước sau gì tao cũng xong chớ có chạy đâu. Mầy ở đó mà lo cho tao.”

Ông Thảo:

“Ý đâu có được mầy. Tao làm bên kia là nhừ tử rồi. Thủng thẳng chớ. Công chuyện tới đâu rồi?”

Cứ hai tuần, những người này gọi nhau, họp lại, nói hoài cái chuyện hội ái hữu những thuyền nhân tàu Đại Thắng. Mới kỳ trước, ý kiến của anh Cường nghe hay:

“Rải rác các nơi thì không biết bao nhiêu, chớ theo chỗ tui biết, ở cái thành phố này với lại vùng lân cận có tới gần năm chục người đi chung tàu mình. Lâu lâu, gặp ngoài chợ, cũng mừng rỡ, chào hỏi. Tui nghĩ như vậy chưa đủ. Mình phải làm một cái gì cho nó có vẻ rầm rộ hơn. Ý tui, nhân kỳ trung thu sắp tới, còn một tháng nữa chớ mấy, mình tổ chức họp mặt ở một cái công viên nào đó, gọi hết, tìm hết những người đi chung tàu lại, biểu dắt theo con em, cho tụi nó ca hát, xách lồng đèn đi lòng vòng. Để tui lo chuyện đó. Mình chỉ cần bàn lại cách thức tổ chức.”

Bây giờ thì họp. Chờ ông Thảo, có năm sáu người uống gần hết xâu rồi. Anh Cường báo cáo:

“Tụi này chờ anh hoài. Dù sao cũng là thuyền phó chớ bộ. Mà thằng Công thì hứa sẽ phụ tôi tập hát cho mấy đứa nhỏ với lại làm lồng đèn. Thằng Bá sẽ nhận nhiệm vụ liên lạc hết những người mình ở đây. Đó mới sơ sơ, anh bàn tiếp đi.”

Ông Thảo kéo nắp bia, nghe cái bụp:

“Chuyện có vậy mà tụi bây cũng phải bàn tới bàn lui mất công quá vậy. Chỉ cần tập hợp lại rồi mỗi người chia một ít việc, ai cũng phải có trách nhiệm, làm tới đâu nữa kìa. Theo tao, thằng Bá nên liên lạc xin hết địa chỉ, số phôn của người mình rồi về soạn một lá thư ngỏ gởi hết. Nói ra mục đích của mình, lần lần mới tập hợp được.”

Anh Cường vừa đặt một cái đĩa gỏi cuốn đầy ắp trước mặt ông Thảo, ngắt lời:

“Chuyện gì thì chuyện. Phần anh đó, tụi này để dành cho anh. Tui lấy cái đĩa nhỏ, xớt ra cho cô Nương…”

Ông Thảo cười cười:

“Chà chà, bữa nay lo lót tao kỹ quá. Mày muốn cái nhà này tan nát hay làm sao mà lo kỹ quá vậy? Mấy thằng độc thân nầy sao không lo để nó lo?”

Ba bốn anh thanh niên, người nhún vai, kẻ lắc đầu, trề môi ra chiều coi thường câu nói đùa. Anh Thái nói:

“Mình giải quyết nhanh rồi rút mấy cha ơi, tui thấy trong mình lờ khờ quá rồi.”

Anh ngó qua Nhân, lắc lắc cái đầu:

“Tao cũng gần quẹo rồi!”

“Ừ!”

Anh Cường:

“Bộ giỡn chơi hả. Anh Thảo mới tới, chuyện chưa tới đâu, mà xong cái gì mầy?”

Công, từ nãy giờ lầm lì chỉ có uống, bây giờ nhích người kéo ghế sát vô bàn, liếc con mắt về phía cô Nương một cái, nói chầm chậm:

“Phần tui, tui có hứa với anh Cường về việc phụ ảnh lo tập hát, lo sinh hoạt cho mấy đứa nhỏ. Tui nghĩ, chuyện này tui làm được. Hồi trước, dầu gì tui cũng đã từng sinh hoạt trong các đoàn hướng đạo, rồi sau đó, mấy đoàn du ca. Tui có thằng bạn, nó gom đủ hết những bài hát sinh hoạt cộng đồng. Tui nói một tiếng, nó đưa liền chớ gì. Nó là bạn cùng khóa trường võ bị với tui mà. Tui đề nghị thêm là mình lập hẳn hoi ra một ban điều hành để lo cho việc sinh hoạt người hội mình chớ như tui thấy lâu nay, công việc người này đá qua người kia rốt cuộc không đi tới đâu hết. Tui thắc mắc sao lâu nay mình không liên lạc được với ông Bằng thuyền trưởng để xúc tiến vụ này.”

Ông Thảo:

“Ổng ở gần xịt đây chớ mấy, cách có hai ba giờ lái xe. Mà hình như lúc sau này ổng không muốn tiếp xúc với ai hết. Sợ mình kêu ổng hơi khó. Nghe đâu có lúc ổng ngồi quận trưởng ở cái quận nào miền biển, mà dân quận đó ở vùng này đông lắm, ổng né. Cũng kẹt cho ổng.”

Tường tặc lưỡi:

“Chà, cái thân phận ổng cỡ đó, chắc gì ổng làm chuyện nhỏ nhen như vầy.”

Mọi chuyện mình lo đi, kêu ổng làm gì.

“Tao cũng nghĩ vậy, ông Thảo nói. Hình như trong mấy kỳ họp, sinh hoạt, tao cũng còn thấy ổng mới đây thôi.”

Thái nhón người, đỡ lon bia của thằng Nhân, rẫy nẩy:

“Ý chời. Một lon chưa hết, hai lon còn nguyên. Mầy chơi như vậy mầy chơi với ai mậy!”

Rồi anh ngó qua ông Thảo:

“Tui nói thiệt với anh, đừng buồn nghe anh Thảo. Thiệt tình tui tới đây là để nhậu chớ không phải để nghe mấy cái chuyện lòng vòng, lẩn quẩn này. Anh Cường cũng đừng buồn tui. Tui đã nói trước với anh rồi. Mấy lần gặp nhau, tỉnh táo sao không ai nói gì hết? Uống vô một hồi, nói lăng nhăng.”

Mấy người đang nói, ngưng nói, đang cười, ngưng cười, cùng quay về phía Thái.

Có lẽ anh cảm thấy hơi kỳ, anh gãi đầu:

“Mà thôi, mình giải quyết lẹ, rồi về.”

Anh Công tằng hắng, giọng nghiêm chỉnh:

“Sao tự dưng thằng này kỳ cục vậy mầy. Mầy không vừa ý thì để bụng, nói ra mích lòng anh em. Nên giữ ý tứ một chút chớ!”

Anh Thái lừ đừ cặp mắt, ngó Công:

“Ý tứ là làm sao?”

“Tự mầy biết.” Công liếc nhanh về phía cô Nương.

Thái ngồi chồm hổm lên ghế:

“Mẹ, xin lỗi anh Thảo, anh Cường nghe, để tui nói cho nó nghe. Trong đời tao ghét nhứt là mấy thằng làm dáng. Trước hết, mầy biểu tao không vừa ý thì để bụng. Đó là thái độ của một thằng vô trách nhiệm. Mầy coi công việc mầy đang định làm là chuyện chơi. Tao không thèm tìm hiểu chớ tao đi guốc trong bụng mấy cái thằng như mầy mà. Tụi bây tưởng tụi bây có cái quá khứ như thế này như thế kia là tụi bây đáng lẽ phải được điều này điều nọ. Qua đây, mất tuốt luốt hết rồi đâm ra mặc cảm. Có dịp, có cớ là quên ngay mình là một thằng vô trách nhiệm, nói lăng nhăng, nhắc đủ thứ, hết rượu mới hết nói. Tỉnh người ra thì đếch dám nhớ tới những gì mình đã nói. Vậy mà tao biết mầy cũng rán cho rầng mầy đang sinh hoạt, đang làm công việc đấu tranh. Mẹ…”

Anh Công tái ngắt mặt, quơ tay:

“Thằng này, bữa nay…”

“Mầy để tao nói, mầy say rồi, mầy nín đi. Thấy không, mầy có lần nào mầy nghĩ rằng mầy gạt chính mầy không? Tại sao mầy phải mong có người cỡ ông Bằng thuyền trưởng lo cái chuyện lập hội lập hè có mấy chục mạng. Chắc gì ổng chịu làm? Ngó thẳng vô thực tế đi ! Nhậu thì nhậu cho đã rồi về ngủ. Mọi chuyện, tỉnh hãy nói. Còn như họp thì phải đàng hoàng một chút, có đâu như vầy. Đi họp mà phải có tài xế đưa về mới về nổi thì còn non nước gì nữa.”

Ông Thảo cười cười:

“Thằng này nói móc tao mà! Ngồi xuống đàng hoàng đi Thái, tao nói mầy nghe. Chuyện gì thì cũng phải có lớp lang. Tao đồng ý với mầy, có khi mình coi thường sự họp mặt anh em lại. Ở xứ này, gặp nhau đâu phải dễ. Mà điều bỏ qua chuyện đó đi. Nói tới cái ý nghĩa của một nhóm thân hữu, nếu mình ngó thấy cái hay của nó, mình mới ngó thấy cái hay của các tổ chức lớn hơn. Con đường đó, đàng nào mình cũng phải đi tới mà. Cũng như…”

“Tui biết, tui biết. Tui biết thành ra tôi chán lắm. Mình họp bao nhiêu lần rồi? Tui đố mấy ông, sau khi từ ở đây về, mấy ông biết mấy ông phải làm cái gì. Vấn đề không phải là họp được bao nhiêu lần, rõ ràng như vậy.”

Anh ngó qua Cường:

“Đó, cái hội của anh đó! Hội của một binh chủng lận chớ không phải chơi à nghe. Đi picnic, cắm trại thì đông nghẹt, làm tờ báo, không ai làm nổi, phải mướn mấy cái thằng ở ngoài hội làm. Anh thấy không? Vấn đề không phải ra cho được tờ báo là hết. Bây giờ thì theo tui, uống nữa thì uống, còn như cần phải bàn bạc công chuyện thì tui về.”

Anh kéo ghế dợm đứng dậy. Tường ngồi cạnh đó, ấn xuống, cằn nhằn:

“Mầy, có cô Nương ở đây mầy lịch sự một chút.”

Ông Thảo đòi về:

“Chuyện gì thì để nói sau đi, bữa nay mất vui. Thằng Thái kỳ quá. Mà tao phải đưa con nhỏ về, nó ngồi mình ênh, tội nghiệp.”

Anh Cường:

“Thì cứ ở chơi. Chút nữa vợ tui về mà. Anh mới tới, mà đòi về sớm, coi sao được!”

Anh Thái:

“Ừ, anh Thảo về đi. Họp thì kỳ tới họp, còn bây giờ muốn nhậu thì ở nhậu.”

Cô Nương đứng dậy. Ông Thảo cũng đứng dậy, ông ngó Cường:

“Có cái gì thì gọi lại, nghe. Không chừng tuần tới tao có họp đằng ông Bảy, sợ chịu không nổi. Tụi bây ở lại chơi, nhậu đi.”

Cô Nương gật đầu chào hết mọi người. Đầu đuôi, cô không nói một tiếng. Mười lăm phút vừa rồi đối với cô, không đến nỗi khó chịu. Hồi đi, ông Thảo nói: “Ở xứ này, người ta sinh hoạt với nhau, ai cũng rán nghĩ tới việc làm thế nào tạo sự thoải mái cho nhau. Có an tâm, làm việc mới được, phải không cháu?” Cô chỉ cười cười. Bây giờ ra khỏi nhà anh Cường, cô nghĩ: “Anh Thái cảm thấy uống rượu không còn thoải mái nữa nên không muốn sinh hoạt tiếp. Tốt hơn, chỉ nên uống rượu.” Cô cũng quên không để ý tới chuyện tổ chức làm lồng đèn, tập hát cho tụi nhỏ tới đâu rồi, còn có một tuần lễ.

Lúc hai chú cháu ra tới xe, vợ anh Cường cũng vừa về tới. Chị quay kiếng xe, hỏi lớn:

“Họp xong rồi hả anh Sáu? Về hả? Con bé Hai ngủ chưa?”

“Xong rồi. Tui về. Mấy chả còn trỏng. Chắc tiệc cũng tàn rồi à. Con nhỏ chưa ngủ!”

Trong nhà, tiếng anh Thái nói hình như với Công:

“Mầy bỏ qua đi. Rồi nín đi, uống đi, cho hết lẹ, mình về.”


Đất Lạ, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Đất Lạ

VÕ HOÀNG

Qua hết hai tuần lễ khù khù khờ khờ trên xứ người thì cũng phải tới lúc thằng Thài bắt đầu thấy được nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trước hết, nó nói mà gần như ra lệnh cho em, con Lài, mười bốn tuổi:

“Kể từ bây giờ trở đi, mầy nói chuyện với tao, mà nói bằng tiếng Mỹ thì đừng có hòng tao trả lời mầy.”

Con nhỏ chỉ liếc xéo một cái rồi thôi. Thằng Thài tiếp tục:

“Còn mỗi khi anh Phước mở nhạc, mầy làm ơn nói với ảnh là mở nho nhỏ một chút. Tao ghét nhứt là cái vụ đó. Nhạc gì mà mở ì ì như khùng như điên, nghe làm sao được!”

Bây giờ thì con Lài lên tiếng:

“Sao anh không nói với ảnh mà bắt tui nói? Bộ sợ ảnh hả?”

“Sợ gì mà sợ!”

“Ảnh mở nhạc lớn thì tự nhiên vặn bớt lại, cần gì phải nói.”

“Tại tao không thích!”

Thằng Thài không thích thiệt tình chớ không phải nó sợ. Dưới mắt nó, kể từ lúc bắt đầu cuộc sống lưu lạc, anh Phước là một người phải có trách nhiệm hướng dẫn và bảo bọc nó trong cuộc sống xa lạ này. Hồi còn ở trại tỵ nạn, nó thường tìm cách kể cho tụi bạn nó nghe về những đức tính của anh nó. Có bao nhiêu điều tốt, nó rán nhớ cho hết để kể ra cho hết. Lâu lâu nhận được thơ và tiền gởi qua, nó khoe đầu này đầu kia như trưng ra cái bằng chứng mà nó đã kể về anh nó.

Qua tới đây, mặc dầu chưa biết rõ được cái lối sống sắp tới của mình, cái lối sống đang có của anh Phước, của con Lài như thế nào chớ chỉ riêng cái việc tối tối trước nhà thì nhạc mở lùng bùng, anh Phước với hai ba người bạn ngồi nhún nhún phê bình ban nhạc này, ban nhạc nọ, lâu lâu thay dĩa, thay băng, trong phòng thì con Lài ngồi thụt xuống một góc giường nói điện thoại với ai không biết, chút chút nói một hơi tiếng Mỹ, chút chút nói một hơi tiếng Việt rồi cười hích hích, nói mệt thì bỏ đó đi rót ly nước bưng trở lại nói tiếp, nó thấy nó bực quá.

Thiệt thì cũng đã có một lần, cảm thấy cái đầu nhức quá, nó tự động với tay bấm nhỏ bớt nhạc của anh Phước lại rồi vì vô ý, thay vì bấm bớt, nó bấm lớn thêm. Anh Phước rầy nó:

“Cái gì mày không biết thì đừng có thọc tay thọc chân vô, hư của người ta.”

Thấy nó có vẻ buồn, anh Phước lại dạy:

“Muốn cho nó hát nhỏ lại thì bấm nút bên trái, đè ngón tay xuống, vừa nghe thì buông ra, còn muốn cho nó hát lớn lên thì bấm nút bên mặt…”

Rồi vui miệng, anh chỉ cho nó biết công dụng của những cái nút khác, ấm có, chát có, loa bên trái có, loa bên phải có, nó nhớ không hết. Bây giờ thì chắc chắn nó biết bấm cho hát nhỏ lại rồi, nhưng không thích thôi.

Ba anh em nó ở trong một chung cư có nhiều người Việt Nam. Căn nhà có hai phòng ngủ mà anh Phước ở riêng một phòng. Nó mới qua, đồ đạc có chút đỉnh để bên phòng con Lài, tối thì ôm cái mền ngủ trên bộ sa lông. “Chờ ít lâu, tao kiếm cái nhà khác, mầy ngủ giường đàng hoàng,” anh Phước nói với nó như vậy. Có đêm, nó đi ra đi vô tới một hai giờ sáng chờ bạn bè anh Phước về rồi mới có chỗ ngủ, nó cũng bực vụ này lắm mà chưa nói ra.

Con Lài theo anh Phước đi hồi năm bảy mươi tám. Mới có ba bốn năm nay mà nó nói tiếng Mỹ hay thiệt. Có điều thằng Thài đôi lúc không hiểu em nó nói cái gì mà không dám hỏi lại. Riết rồi nó ít dám nghe con nhỏ nói chuyện. Bữa nay anh Phước đi vắng, nó bắt đầu kiếm chuyện. Nó lặp lại:

“Mầy làm ơn nói chuyện với tao bằng tiếng Việt. Cái gì không biết thì thôi, đừng có nói tiếng Mỹ, tao ghét lắm. Bộ mầy tưởng như vậy là mầy giỏi hả?”

“Giỏi cái gì?” Con Lài nhương nhướng mắt. “Tui quen miệng tui nói như vậy. Anh không hiểu mà bạn tui nó hiểu thì thôi chứ.”

“Hừ, bạn mầy. Mầy mở miệng ra là nói tới bạn mầy. Bạn mầy mà cũng như mầy thì hết xài.”

“What do you mean hết xài?”

Thằng Thài nghe được một câu nửa nạc nửa mỡ thì định nổi sùng nhưng kịp nghĩ rằng câu chuyện đã lạc đề rồi, nó nhỏ giọng lại:

“Mầy nói chuyện trong điện thoại cái gì mà một lần hai ba tiếng đồng hồ không sợ sưng cần cổ sao. Có bồ rồi hả?”

“Xí, bạn gái mà.”

Thằng Thài kéo hộc tủ móc ra một gói thuốc. Nó rút một điếu gõ gõ xuống bàn, cúi đầu im lặng. Anh em tụi nó theo như má nó nói, tuổi đâu có kỵ nhau mà sao nó cảm thấy cứ cái đà này, cứ cái kiểu sống này, ngày nào cũng có chuyện cãi nhau, xí xó nhau. Hồi ở nhà đâu có như vậy! Nó nhớ, mùa nắng cuối cùng của con Lài ở bên nhà, hai anh em nó lãnh mối xẻ cá làm khô cho người ta, từ sáng tới tối không lớn tiếng với nhau một lần, hết mùa như vậy mà.

Hình như có những cái bực dọc của nó đối với anh Phước, nó mang ra trút lên đầu con em. Hôm qua thiếu chút nữa nó đưa tay lên vả vô mặt con nhỏ. “Ai đời, kêu nó chỉ cho cách gọi điện thoại đi tiểu bang khác, nó hỏi gặng hai ba lần coi có cái gì cần thiết không, nếu không thì thôi, chờ người ta gọi lại, khỏi tốn tiền, rồi cuối cùng, nó biểu anh Phước cấm gọi đi xa.”

Thằng Thài cố nghĩ có lẽ anh Phước nó dặn như vậy thiệt. Nó nói với con Lài:

“Bây giờ tao có hai ba cái giấy tờ trong mình rồi, mầy phải nói cho tao nghe, cái nào để làm cái gì, cái nào phải mang theo người, cái nào nên để ở nhà…”

Nó lại kéo hộc tủ, vừa thở dài vừa lôi ra mấy cái bao thư. Nó biết cuộc sống của nó rồi đây phải dính líu tới ba cái thứ lắt nhắt này, mà cho dù nó có cố tránh né tới đâu cũng không khỏi được. Con Lài thấy anh có vẻ thảm não quá, chợt thương. Con nhỏ sà lại, giằng lấy mấy cái bao thơ, rút trong đó ra những mẩu giấy lớn nhỏ đủ cỡ, dịu giọng giải thích cho anh.

“Ngày mai đi chợ Việt Nam, mầy nhắc giùm anh Phước mua cho tao cuốn tự điển nghe Lài. Thế nào thì tao cũng phải có một cuốn riêng để ở nhà, tao học cầm chừng…”

Con Lài đưa tay quạt quạt khói thuốc:

“Anh phải chịu khó mới được. Hồi em với anh Phước mới qua cũng khổ lắm, rồi từ từ…”

Con nhỏ hơi ngượng vì đổi cách xưng hô lẹ quá. Thằng Thài không kịp để ý, nó hỏi:

“Mầy học ba tháng mầy nói chuyện được chưa?”

“Cầu cả năm đó chớ. Mà anh phải làm quen với Mỹ mới được.”

Rồi hai anh em yên lặng. Trong lúc con Lài xếp mấy mẩu giấy lại để vô bao thơ thì thằng Thài cúi đầu dụi tàn thuốc, nó nghĩ vẩn vơ. “Rồi mình cũng phải làm quen với cuộc sống ở đây. Thằng Bằng, thằng Chiến qua trước mình hai ba tháng chắc đã đỡ nhiều. Hồi ở trại tỵ nạn coi vậy mà vui hơn, khổ mà vui. Bữa nay chắc anh Phước dẫn về mấy người bạn rồi làm ì ì cả đêm nữa…”

Nó chợt nhớ tới lá thơ gởi về cho má nó đang viết lở dở, nó ngước lên:

“Mầy viết cho má ít chữ nghe Lài, bỏ vô bao thơ của tao luôn. Mai tao gởi về. Má đợi thơ tụi mình…”

Nó nghĩ tới anh Phước lại bực mình. “Năm trước, gởi hình về, má coi má tủi má khóc. Vậy mà cũng không biết. Bữa mới qua, ảnh lại nhất định bắt ba đứa đứng chung trước mũi xe chụp một tấm, đứng cạnh dàn máy hát chụp một tấm, rồi người cầm điện thoại, người cầm lon bia chụp, chụp, gởi về bển bả còn tủi thân hơn nữa.”

Thằng Thài có cảm tưởng, anh Phước nó thay đổi hoàn toàn cái quan niệm thế nào là cuộc sống có ý nghĩa tối thiểu để làm vui lòng cha mẹ. “Hồi ba chưa ở tù, ba biết anh Phước và bạn bè ảnh tụm năm tụm ba làm truyền đơn rải, vậy mà ba vui. Lo mà vui. Tới lúc má lo cho đi được, ba hay ba không buồn một chút. Qua tới đây rồi mới biết.”

Điện thoại reo nữa. Con Lài nhoài người chụp liền. Nó ậm ừ hai ba tiếng thì liếc xéo về thằng Thài một cái rồi để điện thoại xuống, đi vô buồng. Một chút, nó trở ra gác điện thoại, lại đi vô.

Còn lại một mình, thằng Thài đứng dậy, thọc hai tay vô túi quần, bước lửng thửng ra đứng cạnh cửa sổ ngó xuống đường.

Bữa nay, cuối tuần, bãi đậu xe trống trơn. Người ta kéo nhau đi coi hát, đi chợ, đi chơi hết. Nó cảm thấy lạc lõng quá.

Trời sụp tối thì anh Phước nó về, có dắt theo một người bạn.

“Mầy nhớ mặt thằng này không Hướng? Mầy nhìn nó có ra không? Ở trại mới qua đen thui thấy mà ghê.”

Bạn anh Phước chớp chớp mắt ngó thằng Thài, một chút gật gật:

“Ừ. Mà lúc này nó cao quá!”

“Mười bảy rồi còn gì nữa. Còn ở bển là phải đi lính rồi đó chớ.”

Thằng Thài mỉm cười, ngồi xuống ghế. Nó không cảm thấy buồn vì lời giới thiệu kỳ cục của anh nó nhưng nó hơi bực vì anh Phước đã vô ý không coi sự có mặt của nó vô đâu hết. “Đáng lẽ anh phải nói cho mình biết bạn ảnh là ai mặc dù có thể mình biết rồi.”

Thằng Thài biết anh Hướng. Năm bảy mươi lăm anh mới còn là học sinh luyện thi tú tài. Một hai năm sau đó, anh có tới nhà Thài vài lần, nói chuyện với anh Phước ít tiếng rồi đi liền. Thằng Thài chỉ đoán lờ mờ là anh cũng chung “băng” với anh Phước, làm truyền đơn, dán bích chương vậy thôi. “Hồi này ảnh mập quá nhưng cái lỗ mũi gãy cúp, ngó một cái là nhớ liền.”

“Nhớ tao không Thài?”

Thằng Thài giật mình:

“Dạ nhớ chớ anh. Nghe anh Phước kêu tên anh là em nhớ liền. Lúc này anh có đi làm chưa?”

“Làm cái mẹ gì! Mới bị lây-óp đó.”

“Là làm sao?”

“Thất nghiệp! Cũng như anh Phước mầy vậy đó.” Ngừng một chút anh Hướng hỏi nó:

“Sao? Thấy ở Mỹ sướng không? Vui không?”

“Ừ! Cũng sướng, cũng vui.”

Rồi thằng Thài với tay lấy gói thuốc. Nó hết muốn nói chuyện với anh Hướng rồi. Ngày trước, mới mười ba mười bốn tuổi chớ nó nhìn thấy công việc làm của anh Phước với mấy người bạn của ảnh vĩ đại và anh hùng ghê lắm.

Tới trại tỵ nạn, đêm đêm nó nằm gác tay lên trán nghĩ về cuộc sống sắp tới với những nét anh hùng và vĩ đại như anh Hướng, như bạn bè của anh. “Ở xứ tự do này, chắc mấy anh làm việc dễ dàng hơn và hăng hái hơn nhiều…”

Vậy mà ngay trong ngày thứ hai ở Mỹ, nó biết anh Phước đã làm nó lầm từ mấy năm nay rồi. Tuần trước, anh Phước đi chơi, con Lài đi làm, nó tò mò rảo khắp nhà, gặp cái gì cũng giở ra coi, gặp cái gì cũng rán rờ một cái cho được.

Rồi suốt buổi chiều, nó buồn. Con Lài từ nhỏ tới lớn, kể cả hồi trước gia đình còn dư giả, chưa có lần nào ăn sinh nhựt, qua đây hai ba năm, làm liên tiếp hai ba cái. Con Lài để trong album toàn hình ảnh của nó và bạn bè. Ba má, mấy em gởi hình qua, nó còn để nguyên trong bao thơ.

Ở bên trại thằng Thài gởi hình qua, nó còn để nguyên trong bao thơ. Con Lài biết nhảy đầm! Còn anh Phước, anh Phước thì chuyện bồ bịch của ảnh khỏi nói rồi, mà sao quần áo đồ đạc của ảnh nhiều quá! Bốn năm đôi giày mới đủ kiểu.

Nó thẩn thờ suốt buổi chiều hôm đó. Nó hoang mang không biết đường đất nào mà nghĩ. Cuộc sống của nó rồi cũng sẽ như vậy sao? Tối, anh Phước mặc bộ quần áo thiệt bóng, thiệt ngộ, chải cái đầu thiệt lạ xuống xe đi đâu không biết. Nó hỏi con Lài:

“Anh Phước đi đâu vậy?”

“Ảnh đi hoài mà, hỏi làm gì. Chắc phót đi gì đó!”

“Là làm sao?”

“Bạn bè ảnh mời ảnh đó! Dạ vũ, dạ hội gì đó!”

“Ê Lài, ở đây người Mễ chắc ngon lành lắm phải không?”

“Ngon gì. Tụi nó ngu dốt lắm.”

“Kỳ! Ngu sao có nhiều người Việt Nam mình bắt chước ăn bận theo tụi nó, rồi chải đầu theo tụi nó làm chi vậy?”

Con Lài nín khe.

Bây giờ lại thêm anh Hướng ngồi đây. Cũng với cái đầu hớt tóc ngắn mà phùm lên cao, quăn quăn. Rồi nhạc nổi lên bập bùng, anh Phước gác chân lên bàn, nhịp nhịp.

Thằng Thài nhắm mắt lại, chán nản. Nó không muốn nghe nhạc, nó không muốn nhìn hoài cái hình ảnh mà theo nó, “má biết má buồn lắm.”

Hồi gần đi, má nó dặn cái gì? “Qua bển phải bắt chước thằng Phước, sống cho ra sống. Mai mốt về, mới được nhìn mặt tao. Còn không, tụi bây đi luôn, đừng có léo về nữa!”

Thằng Thài nghĩ: “Làm sao về được mà má lo xa. Còn ở bên này sống kiểu nào thì tốt hơn má đừng biết tới. Cứ tưởng y như má nghĩ tới, vậy thôi.”

Bữa nay, anh Phước chỉ mở nhạc vừa đủ để thằng Thài nghe, thành ra nó có thể nghe lọt được tiếng cười hăng hắc của con Lài trong phòng vọng ra. Nó đốt thêm điếu thuốc nữa rồi ngồi ngay ngắn lại, ngước mặt ngó lên trần nhà. Hình như anh Hướng đang nói với anh Phước về một loại vải quần áo nào đó, mà nghe, nó bóng hơn vải sa teng, lúc đi ra đèn quay, nó đổi màu liền liền…

Thằng Thài muốn ngủ quá, nó quên rằng lúc đó chỉ mới có mười một giờ.


Đất Lạ, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Cơm Chiều

VÕ HOÀNG

Chiều, khi thằng Ngôn bưng nồi cá kho lòn cửa sau vô chòi thì đúng lúc Hàng thức giấc. Ngủ một hơi mấy tiếng đồng hồ như vậy mà cũng thấy trong người ngây ngây, Hàng phát giác mình đang còn có cái cảm tưởng của những ngày mới tới. Cái cảm tưởng đau điếng đầu óc, thân xác rã rời của nửa khuya chợt thức sau một ngày vật lộn với công việc ở nông trường Cây số Tám.

Anh nằm yên lặng thêm một lúc nữa thì chợt nhận ra nãy giờ, mình nhìn vào cái xách tay Air Việt Nam treo trên vách mà đầu óc nghĩ ngợi đâu đâu. “Vậy mà cũng ở đây hết tháng thứ tám như ai rồi…” Hàng ngồi dậy, cái võng nhún nhẩy và kéo ghì hai đầu cột chòi lại, cánh kèo phùn lên ép vào mái thiếc phát ra những tiếng lèng xèng làm bất cứ ai nghe thấy cũng khó chịu và ái ngại. Anh nói vọng ra sau:

“Đi xếp hàng lấy nước chút nữa mình tắm sông rồi xả, Ngôn à. Mầy ăn cái gì chưa? Bữa nay có ghe nào vô không?”

Thằng Ngôn có lẽ không biết trả lời câu nào trước chỉ đáp trỏng:

“Gần tối rồi, tắm sông gì nữa. Anh Hàng chụm lửa hâm cơm lại cho nóng đi, tui có cá kho nè.”

Hàng rời võng, anh thuận tay cuốn tấm lều vải lại, quăng mạnh vô góc chòi, lầm bầm:

“Ừ, thì chụm lửa. Cá kho ở đâu vậy?”

“Cá mòi, kho lại. Của anh Nhượng.”

“Tụi nó ăn còn dư hả?”

“Giỡn hoài, mới kho, tui sớt phân nửa.”

“Sao tụi nó cho nhiều vậy?” Hàng giở tấm giấy thùng sữa đậy nồi cá kho ra, đưa mặt úp sát xuống đó.

“Cho ở đâu mà cho! Tui sớt đại. Không có ai trong chòi. Mấy chả xuống bến coi ghe vô.”

“Mẹ, ăn cắp mà cũng lớn giọng. Mà ghe nào vô vậy?”

“Ai mà biết!”

“Mẹ, tao muốn hỏi ghe tỉnh nào?”

“Tui nghe Vũng Tàu. Thành ra tui đâu có thèm xuống bến.”

“Vũng Tàu hả? Kệ mẹ nó! Không có người quen đâu!”

Hàng bước ra ngoài, vươn vai vặn người qua lại hai ba cái xong chống nạnh hai tay nhìn về phía chòi chệt Khoai. Một lúc, anh lững thững bước về đó. Người ta phần đông đều dồn xuống bờ sông coi ghe mới vô, trên này vắng lưa thưa người. Hàng cúi người xuống dạ sàn chòi chệt Khoai rút ra hai ba cây củi lớn, xong kéo thật nhanh về. Thằng Ngôn lú ra, nhoẻn cười:

“Nghề thiệt!”

“Mẹ, đi xé ít tấm giấy dầu về nhúm lửa. Ở đó mà nghề. Mầy còn nghề hơn tao nữa mà.”

Hàng nói chưa hết câu, thằng Ngôn đã đi xa. Anh nhìn theo bộ dạng của nó, mắc tức cười. Cái áo sơ mi bó sát thân người gầy còm cộng thêm cái xà rông rộng phùng phình bên dưới làm cho thằng nhỏ có vẻ là một tên híp-pi tân thời nhất, một thứ híp-pi ngoại hạng mà đã lâu Hàng không còn nhìn thấy được, thứ híp-pi con ông cháu cha sót lại sau các đợt chiến dịch vì dân, “tóc dài hơn con gái, da vàng hơn con lãi.” Có điều, nước da thằng Ngôn cũng vàng, mà vàng sậm, vàng vì thiếu ăn và sậm vì ở dơ lâu ngày.

“Cơm nước gì chưa, đại ca?”

Hàng quay lại. Anh chàng người Phan Thiết bên cạnh vừa vòng tay gãi lưng, vừa hỏi. Xong, thấy Hàng một tay cầm cây củi lớn, một tay cầm cây búa nhỏ, y nói luôn:

“Mới bửa củi thôi hả?”

“Chưa,” Hàng đáp. “Tính hâm cơm nguội lại, ăn cho ngon mà tự nhiên làm biếng bửa củi, muốn thôi.”

“Cơm nguội cơm nóng, cũng không ngon lành gì đâu. Đàng nào cũng ăn với trứng luộc, nước mắm. Sao đại ca không xuống bến coi ghe vô. Tui nghe nói ghe Vũng Tàu mà.”

“Vũng Tàu thì vũng, ăn nhằm gì tới tui.”

Lúc này thì Hàng đã quăng búa và ngồi hẳn lên cây củi, vén quần gãi vào ống chân đang mọc lấm tấm những mụn ghẻ ngứa. Anh chàng người Phan Thiết muốn nói gì thêm nữa chợt thấy đằng sân trại người ta nhốn nháo, tấp nập một rừng người từ dưới bến đi lên, về phía văn phòng, y bỏ mặc Hàng, phóng một mạch. Hàng nhìn theo, hình như người ta khênh ai đó trong một tấm lều vải.

Tới lúc Hàng chẻ những mảnh củi cuối cùng thì thằng Ngôn trở về. Nó trề môi một cái rồi bô bô:

“Có người gần chết trên ghe. Té từ trên xuống hầm máy, chắc gãy xương sống, mê mê cả tuần nay rồi, tay chân không cục cựa gì hết. Ghe đi ra tới khỏi mũi Đá Bạc thì bị sóng lớn, ghé vô hòn Khoai ban đêm rồi sáng chạy tiếp tục, gan thiệt! Từ Vũng Tàu đi tới khi gặp được ghe Thái Lan mà gần nửa tháng. Hết dầu thả trôi bốn năm ngày lận mà. Chết hết một đứa con nít ba tuổi, liệng xuống biển. Người bị gãy xương sống là anh của đứa con nít, còn bà vợ, bả khóc quá chừng.”

Hàng chờ cho nó nói dứt, hất mặt hỏi:

“Mới đây mà sao mầy biết nhiều quá vậy?”

“Thì nghe nói. Anh mà đi từ dưới bến lên phòng đại diện, đi chậm chậm thôi, tới phòng là nghe đủ hết rồi, cần gì phải hỏi ai. Tui còn biết tới số ghe nữa mà.”

“Thôi chụm lửa đi, chuyện của người ta, kệ người ta, hơi đâu mà lo. Mà thôi, để đó tao. Mầy đem củi vô đi, chừa cho tao ít cây. Mẹ lo chuyện bao đồng.”

Thằng Ngôn thoáng một chút ngạc nhiên, nhìn trừng Hàng, xong cúi người xốc một nắm củi đã chẻ, chui vào chòi.

Một thoáng ngạc nhiên của nó làm Hàng sững sờ. “Cũng phải! Hồi nào mình sốt sắng lo đủ thứ công việc trong trại, từ vụ thành lập toán thanh niên vệ sinh, đào giếng, móc mương, cất cầu tắm tới lãnh phần phân phối thực phẩm, thông dịch, làm giấy tờ… Rồi tự nhiên bỏ hết, ăn rồi ngủ, chưởi thề tứ tung, còn sanh ra ăn cắp ăn trộm.”

Anh chàng người Phan Thiết cũng trở lại, y vẫn gãi gãi lưng, nói nho nhỏ:

“Lúc nào cũng có chuyện, không chuyện này cũng chuyện nọ. Thiệt, đi cũng khổ mà không đi cũng khổ.”

Hàng nhướng mắt chứng tỏ cho anh ta biết mình đang nghe. Y tiếp, giọng lớn hơn:

“Ê, đại ca biết không, người ta gãy xương mà cha bác sĩ đặt ống nghe tùm lum chỗ. Thấy người ta bu đông quá, chả đuổi không cho coi, sợ quê chắc. Bác sĩ thứ thiệt mà quê nỗi gì.”

Y phủi đít ngồi bệp xuống đất, chồm người tới phun một bãi nước bọt, chấp chấp miệng:

“Cha này, có ai đó nói chả là trung sĩ nhất quân y ở Mỹ Tho mà, bệnh viện Đồng Tâm gì đó. Giải phóng rồi cũng còn làm việc, bác sĩ gì thằng chả.”

Hàng vẫn im lặng. Hơi đâu anh để ý những chuyện bá vơ như vậy. Qua tới đây rồi, mọi chuyện trở thành lộn xộn hết, ai muốn làm gì thì làm. Chẳng qua, người ta sắp đặt lại cuộc sống của mình trong một tâm trạng thăng bằng nhất sau mấy chục năm vì thời thế, chán chường và khủng hoảng. “Thì hồi trước làm y tá, thấy bác sĩ được trọng vọng, nể nang, mơ được làm bác sĩ. Qua tới đây, biết chút tên thuốc, làm đại ai cấm. Cả chục ngàn bác sĩ, biết đâu mà mò cho ra.” Hàng thấy mình có lý mỗi khi anh phóng tâm gạt những chuyện xảy ra trước mắt qua một bên, “miễn mình đừng đưa bụng cho nó khám thì thôi, nó bác sĩ kệ nó.”

“Đại ca không gác củi chéo chéo, tới chừng nào lửa mới bắt được? Chà, củi của chệt Khoai chắc!” Y nhìn Hàng, nheo một con mắt.

Hàng cười gượng:

“Còn hỏi. Nó có nhiều, mình không có, mà quá cần thì lấy xài, ăn nhằm gì!”

“Cha chệt biết hết, mà không nói đâu. Chả giàu lắm mà. Chủ tàu đó nghe! Ghe chả chở một trăm mấy chục người, bị cướp có hai lần, còn giấu được cả đống, tui biết hết.”

“Cũng kệ người ta!”

Ừ, kệ người ta, nói tới làm gì cho mệt. Mới đầu, vô trại một hai tuần, Hàng hay có thói quen ngắm nghía bất cứ một người nào rồi suy nghĩ ra đủ thứ chuyện chung quanh người đó. “Thằng này xương vai to quá, chắc đời nó khổ, cái mặt trông dốt thì hồi Việt Cộng ra đâu cần suy nghĩ cái mẹ gì, được làm ruộng hay đạp xe lôi là khoái rồi, mà cần cổ lớn như vậy, chịu đựng giỏi lắm, ở biển mà gặp sóng gió nó đâu có ngán. Chị kia trán vồ thì hiền thật nhưng hơi tham, ai gạ chuyện có lợi là suy nghĩ liền, mà đùi dài như vậy cũng phiền, người này người kia quấy rầy hoài, riết bực mình chớ chơi đâu, coi, mặc cái xà rông mà đi còn nhún nhún, qua Mỹ, nhiễm lẹ lắm. Ông nọ, da tay còn thẳng mà trán nhăn lớp lớp, không biết con cháu nó hành hạ cỡ nào đâu, phun nước miếng liền liền mà ưa chê người khác ở dơ…”

Mỗi lần như vậy, Hàng tự thấy mình có một chút ấm ức, muốn nghĩ tới mình để coi mình như thế nào mà rồi tự nhiên đâm chán. Những ngày sau đó, lăn xả vào công việc, anh bỏ quên thói quen này lúc nào không biết. Ngay cả sau khi chán ngấy cái cảnh giành giựt nhau từng chút nhỏ nhặt của mấy cha, phe này phe nọ. Hàng bỏ ngang công việc ở ban đại diện và có đủ hai mươi bốn giờ rảnh một ngày, anh cũng quên tuốt. Chuyện, nghe thì nghe, biểu nói, anh hay nói “kệ người ta,” cho qua.

“Có đổ nước vô cơm không?” Anh chàng người Phan Thiết vừa hỏi lại vừa phun nước bọt.

“Có chớ, không đổ làm sao nó nóng hết nồi!”

“Hai người lãnh gạo đủ ăn không?”

“Hơi thiếu, nhưng cũng tạm được.”

“Thằng Ngôn đâu?”

“Ở trỏng.” Hàng hất mặt vô chòi.

“Ngủ hả?”

“Mới đó mà, ngủ gì giờ này.”

Anh chàng người Phan Thiết đứng dậy, lại lững thững bước về hướng văn phòng đại diện, y quay lại, nhìn Hàng, cười mím chi:

“Tôi đi coi bác sĩ trị bịnh!”

Hàng không đáp. Anh cúi người nhắc chiếc thùng nhựa, lắc thử. Xong lôi hết mấy cây củi đang cháy trong lò xếp xuống đất, vốc thùng nhựa trút một ít nước còn sót lại lên đó. Khói trắng bốc bừng lên cùng với tàn tro, bay tỏa. Hàng nhảy một cái thật nhanh vô chòi, dậm thình thịch:

“Rồi, cơm đi, cơm đi, Ngôn.”

Thằng Ngôn đang nằm viết thơ. Nó ngước lên:

“Phải bữa nay ngày mồng tám không, anh Hàng?”

“Ai nói? Mười bảy hà. Mười bảy tháng hai, bảy mươi tám. Viết cho ai đó?”

“Bà chị. Sao kỳ quá! Thơ tui gởi hơn một tháng rồi không thấy trả lời gì hết.”

“Từ đây đi Mỹ xa không anh Hàng?”

“Mẹ, mầy ngu quá, vậy mà cũng vượt biên. Xa bao nhiêu thì xa, mà thơ đi bằng máy bay.”

“Tui muốn hỏi là đi bao lâu kìa!”

“Đi về hai tuần. Chị mầy lấy Mỹ rồi, nghĩ chi tới mầy nữa. Thôi, ăn cơm đi cho rồi.”

Thằng Ngôn quăng cây viết Bic lên võng, ngồi dậy lắc đầu hai ba cái thật mạnh rồi lết chầm chậm về phía sau, tóc nó tung xòa ra, vàng và dơ quá! Hàng đứng dựa vách nhìn theo nó, không nói gì nhưng anh nghĩ tới ngày nào, lúc nó mới nhập trại, quấn một mảnh lều vải từ ghe lên và đêm đến thì ngủ vùi cạnh hai cái xì tẹt nước uống.

Hàng rủ nó về chơi với anh trong lúc ở chòi đang có sáu người. Anh và nó làm chủ căn chòi này sau khi tụi kia lần lượt đi. Sáu tháng, thằng Ngôn mới biết được địa chỉ của bà chị đi hồi bảy lăm qua mẫu nhắn tin của bà chị tìm em, có lẽ được thơ nhà từ Việt Nam nói là thằng em đã vượt biên. Nó biên thơ, không biết trật trúng gì mà hơn tháng nay không thấy gì hết. Hỏi nó hồi đi sao không đem địa chỉ chị nó theo, nó nói nó tưởng không cần, nó đi là chị nó biết liền. Hàng luôn miệng mắng nó ngu mà nó không bao giờ giận, có lẽ tại nó biết nó ngu thiệt.

“Chà! Sao anh không nhắc nồi cơm xuống, bắc nồi cá lên hâm luôn, nguội ngắt ăn tanh rình hà.”

“Cơm nóng, ăn đâu có tanh!”

“Sao không?”

Nó lui cui cào mấy hòn than đã bạc mầu tro vun đống lại, chu miệng thổi ít hơi rồi kéo bớt một cục đá lò ra, để nồi cá hẳn lên than. Xong, ngồi bắt chữ ngũ, nhịp nhịp giò:

“Ba mươi giây nữa!”

“Mầy có thử là vừa ăn chưa?”

“Khỏi lo. Anh Nhượng mà, đâu đó đàng hoàng lắm. Có củ tỏi trong này nữa.”

Hàng lật vạt áo lau hai cái chén rồi chồng lên nhau, nói khẽ:

“Kệ cha nó, của ăn cắp, cỡ nào cũng làm tuốt. Thắc mắc để đói sao.”

“Chớ gì nữa!”

“Thằng Nhượng nó biết mầy lấy cá, nó dám đánh mầy lắm. Có gì mầy nói tao biểu tới xin, không gặp ai ở chòi thì cũng cứ lấy…”

“Ôi, lo gì anh Hàng. Cá mòi này cũng có phải của ảnh đâu!”

“Vậy sao?”

“Chút nữa anh ăn coi, thơm nhang lắm.”

Xong nó hệch ra cười. Hàng xé miếng giấy thùng làm tay cầm bê nồi cơm đặt xuống đất. Anh nói nhỏ:

“Bày trận ở đây, cho tiện.”

“Hồi ở nhà, tui cũng ăn dưới đất không chớ có bàn ghế gì đâu.”

“Xứ mày nghèo mạt rệp, còn nói.”

“Giỡn anh. Hậu Nghĩa mà nghèo sao? Vậy chớ anh ở Sài Gòn, có qua Thị Nghè không? Ở đó còn nghèo hơn chỗ tui mà, không có khoai mà ăn, nhà cửa ọp ẹp, đường sá sình lầy…”

“Mình có biết gì đâu! Lỡ nói với nó quê ở Sài Gòn cho oai, mà lâu lâu nó cứ hỏi đi hỏi lại hoài.” Hàng cúi đầu xới cơm, nói nhỏ:

“Ừ, tao biết rồi. Chỗ nào cũng nghèo hết.”

Rồi hai người cắm cúi ăn, cho kịp với bóng tối đang dần dần buông xuống.


Đất Lạ, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Khách Thập Phương

VÕ HOÀNG

Buổi sáng sớm, hai tín hữu một nam một nữ đến viếng chùa. Có lẽ họ dạo cảnh bên ngoài cũng khá lâu rồi mới vào trong, thầy Đàm nghe họ nói với nhau những lời phê bình, so sánh giữa hai đám bông hồng ở trước và sau chùa. Thấy thầy, chừng như biết chắc là người ở đây, họ cúi đầu chào ra vẻ kính trọng và xin phép được vào chánh điện lễ Phật.

Người đàn bà có vẻ sành sỏi việc cúng vái. Cứ xem dáng điệu chị nghiêng nghiêng châm đầu nhúm nhang thơm vào ngọn nến đang cháy, xong rụt lại đưa tay trái quạt nhẹ nhẹ, phân ra làm hai phần đưa cho người đàn ông một nửa, thầy Đàm biết không cần nói thêm một lời chỉ dẫn nào nữa.

Lễ xong, thầy mời họ ra phòng ngoài uống chén trà nóng. “Nhà chùa thì không có còn gì quý hơn là chén trà nóng đãi khách.” Họ im lặng đi theo sau.

Khỏi dãy hành lang sáng mờ mờ, thầy Đàm nói nhưng không quay lại:

“Hai vị là khách phương xa tới đây chắc? Tôi ở đây cả năm, đi tới đi lui cũng nhiều nhưng chưa gặp hai vị lần nào.”

“Dạ thưa thầy,” người đàn bà nhanh nhẹn, “vợ chồng tụi tui mới từ Wyoming qua chưa được một tuần lễ. Nghe nói ở đây có chùa, muốn tới liền mà hổm rày, bận công việc nhà cửa.”

Người đàn ông nói tiếp lời:

“Xe cộ cũng không có thành ra phải nấn ná hoài.”

“Dạ, bên này không có xe thiệt là kẹt!”

Người đàn bà kéo chiếc ghế trong góc ra cho chồng và một chiếc khác cho mình, chậm rãi ngồi xuống:

“Vợ chồng tụi tui qua Mỹ mới có nửa năm nay, ở trên kia, đi đâu thì có xe của hội nhà thờ chở, thiệt cũng ngại.”

Thầy Đàm chưa ngồi vội, nghiêng người sắp lại ba chén trà thành hình chữ phẩm, rót lưng lửng vào mỗi chén. Xong thầy đẩy chén bên trái về phía người đàn ông, thầy nghĩ:

“Mình xử đúng pháp mà không biết ông này có hiểu cho mình không.”

Thầy Đàm băn khoăn cũng đúng. Chén bên trái là chén thầy rót sau cùng. Theo phép lịch sự của ông bà để lại, rót rượu thì rót cho khách trước nhưng rót trà thì rót cho khách sau bởi vì hương trà chìm sâu xuống đáy bình, chả là người ta muốn thật tình đãi khách bằng những cái tốt đẹp nhất mình có được vậy mà.

Dường như người đàn ông không để ý, chỉ với tay kéo chén trà về trước mặt và xoay vòng vòng:

“Nghe nói ở đây có sư trụ trì, sao tôi không thấy sư vậy thầy?”

“Dạ, mời hai vị dùng trà.” Thầy Đàm ngồi hẳn xuống ghế. “Sư đi San Diego ba bốn ngày rồi, chắc phải đến cuối tuần mới về. Hiện thời thì tôi trụ trì.”

Người đàn ông gật gù, nhưng thầy Đàm vừa nói xong là biết ngay mình nói bậy nên liếc mắt nhìn ra cửa sổ. “Đâu phải ai cũng có quyền trụ trì! Mình nói vậy chẳng hóa ra mình lạm dụng hay sao. Tiếng trụ trì này phải được dùng cho người có phẩm hạnh, đạo đức. Trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng… An trụ để bảo trì pháp Phật. Người trụ trì được hiểu là vị chủ pháp, đàng này mình chỉ là kẻ ăn nhờ ở đậu…”

Thầy Đàm lựa lời nói trớ đi ngay:

“Tôi ở đây cũng được gần một năm. Ngày ngày làm đủ thứ công việc cho chùa và nghe sư dạy dỗ.”

“Thầy có đương đi làm không?” người đàn bà hỏi.

“Dạ không, tôi còn hưởng trợ cấp xã hội. Ban đêm thì học nghề mấy tiếng đồng hồ.”

Người đàn bà nhìn ra cửa sổ:

“Ở đây yên tịnh ghê há thầy! Ai chọn chỗ này thiệt cũng có con mắt.”

Thầy Đàm không đáp lời có lẽ vì cảm thấy khó quá, chỉ gật đầu. “Ở xứ này, chọn một chỗ để làm chùa có khác gì chọn một chỗ để ở. Làm thế nào tìm chỗ rộng rãi, rẻ tiền, có chỗ đậu xe kha khá cho bá tánh tới nhiều là tốt.” Người đàn ông tặc lưỡi:

“Nói cho ngay, mình qua tới đây mà còn cố gắng lập được chùa chiền là cả một vấn đề rồi phải không thầy? Ở bên tui ở lúc trước, không nghe ai nói tới chớ đừng kể là thấy. Thiệt là quí!”

“Tại hai vị không biết, chớ hồi trước chùa chỉ là một cái nhà ở và dành ra một chỗ để thờ Phật. Sau thấy có tín hữu tới làm lễ hơi nhiều nên chủ nhà dời qua chỗ khác ở và mời sư về đây trụ trì. Mỗi người một ít, vận động Phật tử đóng góp trả tiền thuê. Hồi đó, còn xập xệ lắm.”

“Phải từ từ chớ thầy. Còn lâu lắm mới khá hơn được. Thầy thấy không?”

Thầy Đàm cảm thấy người đàn ông nãy giờ chỉ nói toàn theo kiểu vuốt đuôi, thầy quay qua người đàn bà:

“Ở đây cũng đang có phong trào góp của Phật tử để còn mua hẳn một chỗ, sửa sang lại cho đúng cảnh chùa. Hai vị chút nữa ra coi mấy tờ thông bạch để biết rõ dự án lập chùa như thế nào.”

Thầy Đàm chợt xô ghế đứng dậy đi về phía kệ sách, thầy lấy một cuốn giấy được dán băng keo vòng lại. Đi trở lại bàn, vừa gỡ vừa nói:

“Hai vị coi, đồ án của chùa đã được chuẩn bị xong xuôi cả năm nay, mà thật thì cũng còn chờ thêm thời gian để Phật tử đóng góp.”

Thầy Đàm trao hẳn tấm đồ án cho người đàn bà. Người đàn ông kéo ghế tới gần vợ, hai cái đầu châu vào. Một chốc tiếng người đàn ông chầm chậm.

“Chậc! Kể thì cũng công phu lắm. Mà sao thầy không nói họ làm thành nhiều bản thế này phổ biến rộng ra cho Phật tử nức lòng đóng góp nhiều vô.”

“Có, có chứ.” Thầy Đàm sốt sắng. “Nhà chùa có thâu hình này để vào các bích chương phát cho Phật tử nhiều rồi, lâu rồi!”

Hai vợ chồng lại ngắm nghía tấm đồ án. Họ thầm thì với nhau những câu phê bình, thầy Đàm không nghe được hết. Thầy dựa lưng vào ghế nhìn lên trần. Hồi lâu, người đàn ông nói lớn:

“Thế nào thì mình cũng kiếm được một cây Bồ Đề trồng sau chùa thầy há! Được vậy mới quí.”

Thầy Đàm chưa nghĩ được phải nên nói gì thì người đàn bà nguýt chồng:

“Anh này, chưa cất được chùa mà lo tới chuyện trồng cây này cây nọ.”

“À, à, chùa là phải có cây Bồ Đề chứ,” thầy Đàm đỡ lời. “Nhưng đó là việc sau này mới làm. Hai vị cũng thấy đó, mình có đất tốt, lo gì lúa trổ muộn, người xưa có nói như vậy mà.”

Nói thì nói, nhưng thầy Đàm cảm thấy mình hết hứng khi phải ngồi nói chuyện với hai người này, nhất là người đàn ông. Thầy nghĩ: “Cái điệu này, mình giữ ý giữ tứ mất công quá. Xem chừng người ta tới chùa cho vui vậy thôi.” Thầy liếc về phía người đàn bà đang chăm chú nhìn vào tấm đồ án, bỗng chợt dịu lòng lại. “Sư dạy, người có tâm với đạo phải giữ ý niệm thật chính. Thời buổi này, ai tới chùa thì truớc hết đã có ý thành, mình giữ tâm chính mà tiếp. Chưa làm được việc để tín hữu quí trọng cái huyền diệu của Phật pháp cũng nên cố làm được việc để tín hữu thấy được sự rực rỡ trang nghiêm của chốn thiền tự.” Thầy nói:

“Tôi nghe sư dạy, đạo với đời cách xa nhau như trời với đất nhưng thật ra là một. Phật tử mình qua tới đây rồi cũng còn cố làm việc đạo. Cất chùa, thật ra là làm việc đạo, mà để cho đời đó. Sư dạy, miễn làm sao đừng để việc đạo và việc đời giao tiếp nhau bằng cái lợi thì tâm được an mà Phật pháp hưng thịnh luôn.”

Thầy Đàm biết mình đang nói rất thật lòng. Mà thầy chỉ mong hai người này cũng hiểu là mình đang nói thật lòng. Người đàn ông vừa nghe chuyện trong khi tay thì lật từng trang tờ báo của hội Phật tử, rõ ràng ông ta nghe một nửa mà đọc báo một nửa. Thầy quay qua người đàn bà:

“Hai vị thấy đó, chỉ việc bảo vệ Phật pháp ở xứ này đã khó rồi, nói tới chuyện phát triển thiệt tình đâu phải dễ gì.”

“Cái khó là làm sao nói cho họ hiểu và tự chọn cách tiếp tay với bao nhiêu người mà lòng được vui,” thầy Đàm nghĩ, rồi cảm thấy mình mất tự nhiên, không phải chỉ có lần này mà luôn luôn như vậy mỗi khi thầy lựa lời nói tới việc kêu gọi Phật tử đóng góp tiền bạc xây cất chùa. Thầy biết, qua tới đây rồi, đi trước hay đi sau gì cũng vậy, nhu cầu của cuộc sống nó đi theo hoàn cảnh. Hồi đó, ở căn chòi nhỏ cập một bờ kinh mới đào, thầy biết rằng nửa lít gạo Nàng Thơm đối với mình thật sự là một ước mơ, một ước mơ khó có được. Bây giờ, ước mơ của thầy đổi khác đi nhiều, một chiếc xe hơi “mơi mới một chút” chẳng hạn, mà thật ra, ước mơ này có khó gì? Thầy mím môi nói trong bụng:

“Mình mà còn như vậy, huống chi người ta.”

Người đàn ông bẻ gập tờ báo lại trình ra trước mặt một trang quảng cáo:

“Cái này có thiệt không thầy? Mua xe mới mà khỏi cần phải đặt tiền cọc gì hết, tui thấy khó tin lắm.”

Thầy Đàm giật mình, hơi luống cuống. Tự dưng “thằng cha này” nói ngay tới chuyện mình đang nghĩ.

“Dạ, có đó ông. Ở đây người ta dễ dãi đủ mọi thứ hết.”

Người đàn bà nhoài người chụp tờ báo, nghiêng đầu đọc trang quảng cáo. Thầy Đàm đứng dậy rót thêm hai chén trà cho khách, tặc lưỡi:

“Bên này, cuộc sống dễ thở lắm, muốn gì cũng có, không phải như bên mình.”

Thầy không dám nói hết những gì mình đang nghĩ. “Cái có, nhiều đến nỗi thừa đi và người ta phải nai lưng ra trả nợ cho cái chỗ thừa thải đó.” Thầy vốc ngược chén trà uống cạn:

“Chút nữa hai vị lấy ít tờ bích chương về, có xóm giềng gần gần thì cho họ coi với.”

Thầy nói như vậy vì biết rằng người đàn ông đã có ý muốn về từ nãy giờ. Người đàn bà nhỏ giọng:

“Dạ, thưa thầy. Chắc rồi vợ chồng tui cũng phải đóng góp chút đỉnh gọi là công quả. Thầy cho tui lấy ít chục tờ này.”

“Chi cho nhiều,” người đàn ông tiếp lời. “Mình còn trở lại đây nữa mà. Lấy vài tờ thôi.”

Thầy Đàm tiễn họ ra tới ngõ thì đi chậm lại. Buổi sáng vẫn còn, thầy thấy được những cánh hồng chưa khô hẳn. Người đàn bà cúi người nhặt một cành táo khô nằm giữa đường quẳng vào gốc rào, quay lại:

“Ngày mốt, vợ chồng tui đi làm giấy tờ trợ cấp xã hội, cũng gần đây, thế nào tụi tui cũng ghé thăm thầy.”

“Dạ cám ơn hai vị. Nếu không tiện thì tuần sau… sư về, tuần sau sư về.”

Người đàn ông ra tới lề đường, chừng như nhớ ra là chưa chào lời từ giã thì quay trở vào, gục gặc đầu:

“Thôi, chào thầy nhe. Rảnh rảnh tui ghé thăm thầy. Chắc cũng nhờ thầy chỉ dẫn nhiều thứ nữa. Ở xứ này, thiệt mình như dốt!”

Thầy Đàm cười tươi, chống tay vào cánh cửa rào:

“Ông cứ việc tới, tôi biết gì tôi nói ông nghe. Không sao mà, tui qua trước.”

Người đàn ông vịn vai vợ đi xa rồi, thầy Đàm cố nói lớn theo:

“Mình là tỵ nạn với nhau mà.”


Đất Lạ, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1984.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.