Tiếc Gì Một Chút Hương Xuân Muộn

VÕ HOÀNG

MỘT

Năm Thuật dựng một căn chòi và lập miếng vườn nhỏ ở sát cánh đồng tràm. Ba bốn năm, ngó lại chưa thấy huê lợi nào đáng kể. Cái thứ dễ trồng nhứt là khoai mì, mà hễ cây lên cao tới thắt lưng là lá bắt đầu vàng khè rồi dường như càng ngày càng thấp xuống. Người ta giải thích rằng tại đất còn phèn nhiều quá. Năm Thuật cũng biết như vậy, mà cứ rán. Có mấy tháng nắng, nhắn thằng cháu vô tính mượn nó tiếp sức móc cái mương dài cắt ngang đám bòng bong, từ cây tràm gãy ra tới suối cạn, mà năm lần bảy lượt, nó cứ hẹn ít bữa, ít bữa… Rốt cuộc, trời vừa trở mùa, nghe nó với mấy thằng bạn cướp ghe người ta vượt biên mất biệt. Đống tràm con, Năm Thuật tính dành để đóng cừ còn nằm chình ình đó, cả năm nay rồi.

Những bữa trăng non mới mọc, Năm Thuật ưa bắt cái ghế đẩu đằng trước sân, ngồi ngó xung quanh, suy nghĩ vẩn vơ mà thấy buồn buồn. Điều làm chú ấm ức nhứt là cái sức khỏe của chú càng lúc càng mất đi, mau hơn chú tưởng. Chưa đầy năm mươi mà hễ cứ độ chừng hai chục cuốc, là phải ngừng lại, thở dốc. Hồi đầu, mới vô đây, sau mấy tháng càu nhàu về việc người này người kia giành giựt với chú những vùng đất tốt hơn và phân chia không đều ngay cả khoảng đất ọp ẹp này, chú rán bỏ qua hết mọi chuyện, bắt tay vào việc.

“Thì cũng có ai đâu, ngó chung quanh, quen biết hết mà!” Năm Thuật nghĩ. “Thời này, phần đông ai cũng là gia đình cách mạng. Mình giữ phận mình, chắc ăn hơn. Ở đời, có ba cái vô tư, trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai, nhựt nguyệt không soi sáng riêng ai. Cái việc tranh giành, phân bì là sự xấu, đừng có màng tới. Miễn người ta để yên cho mình, là được…”

Hết mùa thứ nhứt, Năm Thuật mơ hồ cảm thấy cho dù người ta có để yên cho mình, chưa chắc rằng với cái sức lực còm cõi còn lại sau một lần mổ ruột và hơn mười năm làm phu khuân vác bến tàu, mình có thể tự tạo một cuộc sống yên ổn được. Lâu lâu, ngồi dựa ngửa bên một gốc tràm, vấn điếu thuốc rê bự, bập bập, hớp ngụm nước trà, Năm Thuật nhớ và tiếc cái thời “thầy Năm Hiến Binh” với sức trai và cặp giò săn cứng mỗi buổi chiều quần thảo, làm chủ tình hình sân vận động quận.

“Cái thằng Nhược này, hồi đó mầy còn nhỏ biết cái chó gì. Người ta nói với nhau, chiều nay ra sân banh coi ông Hiến Binh đá banh. Người ta nói với nhau đội Hà Tiên có hai tay dữ dằn nhứt đi cặp làm mưa làm gió cả tỉnh, tới quận mình, đụng ông Hiến Binh là quờ quạng liền. Người ta nói với nhau, ông Hiến Binh xin đổi đi, ông Quận không cho. Mầy biết không, có lần ông Quận, để coi, ông Quận Trung phải nói, gần tới ngày về tỉnh tranh giải, chú Năm nó phải ăn, phải ngủ cho có chừng mực… Mầy biết không, hồi lúc tao lặn hào bị đứt chưn không đá banh được chiều chiều ra sân coi thử, vắng hoe…”

Năm Thuật ít nói, mà hễ nói là nói tới chuyện những ngày chú còn trẻ. Hồi thằng Nhược cho hay miếng đất chú đút đơn xin khẩn cập chưn núi Suối Đá không được huyện chấp nhận vì, “chú Năm biết không, chủ tịch xã có phê, thành phần không thích hợp với loại đất.” Năm Thuật chỉ chép miệng:

“Thì thôi!”

Nhưng một hồi rồi chú cũng thở dài:

“Giá tỉ như hồi tao còn làm Hiến Binh, ông Quận không chấp thuận chắc tao cũng không xin xỏ, năn nỉ gì đâu. Kệ!”

Cho tới khi đi coi miếng đất được nhà nước cứu xét và tự ý phân phối về, Năm Thuật vừa co chưn đá vô chưn bàn vừa nói với thằng Nhược:

“Tao dư sức phá miếng đất đó. Hồi trước, chục cây số tao đi bộ một hơi một. Rồi lúc sau này, thấy không, bao gạo chỉ xanh để trên vai tao coi như không có. Đồ ba cái thứ rễ bòng bong, mây nước đó mà, đâu có qua tao nỗi…”

Bây giờ là mùa mưa thứ tư rồi. Đất vẫn còn phèn và sát đằng sau vách chòi, hai bụi mây nước cháy đen thui chưa lấy gốc. Mùa mưa, xung quanh đó, những đọt mây non chồi đầu lên, một tuần lễ mà không cắt cỏ, gai cứng lại, vô ý mà đi, cọ ngang một cái, tuôn máu như chơi. Năm Thuật dù có thấy chướng mắt cỡ nào cũng phải chịu thua. “Thứ gì mà rễ nó bện lại thành lớp, thành lớp như bao bố tời. Cuốc xuống một cái, nó dội ngược trở lên, tức ngực.”

Trong đám khoai mì, ngó lơ ít lâu là bòng bong nó quấn lên tới đọt. Năm Thuật mới đầu còn cặm cụi soi, móc từng dây, riết rồi bỏ liều luôn. Có điều, Năm Thuật bỏ mà cứ nghĩ tới hoài.

Nhiều khi, chính Năm Thuật cũng biết như vậy là tự mình làm khổ mình, mà rồi gần như cái tật, hễ nghĩ tới đám khoai mì là thấy bực bực trong người. Chú nói với thằng Nhược, năm ngoái:

“Hết lứa này, dứt mùa mưa, lớn nhỏ gì tao cũng giỡ đám khoai rồi cuốc lại. Lần này thì phải ít nhứt là ba lưỡi… thử coi nó còn lú lên nổi không cho biết.”

Thằng Nhược hứa nhăng hứa cuội rằng sẽ “tiếp với chú, không phải chỉ đám đằng trước đó thôi, mà còn dài ra tới bờ mương chú dự định đào xong trong vòng mấy tháng nắng này…” Rồi thằng Nhược vượt biên, rồi Năm Thuật bỏ cuộc một cách dễ dàng một phần vì chán ngán cho chính mình.

Bữa nay gió bấc thổi già quá. Ngoài bìa vườn, những tàn tràm xum xê cành lá, nghiêng hết về con suối cạn. Nghe kỹ, có tiếng rít nhỏ mà cao vun vút, buồn quá. Gần Tết rồi. Cả một con đường mòn dài từ bìa lộ vô, bông da heo nở tím lịm. Trong này ngó ra, Năm Thuật có cảm tưởng như ngày nào, lâu rồi, ngồi dước gốc nhìn ngược những bực thang đất, đường lên chùa Sư Muôn. “Ừ, gần Tết, sim đã có đợt chín, mà cũng có đợt vừa mới trổ bông. Hồi đó, mình đâu có còn nhỏ gì, ngó người ta, từng cặp, từng cặp, vừa bẻ sim mà vừa cười nói, um sùm, cũng thấy vui…”

Thêm một cái Tết nữa không có thằng Nhược, chắc Năm Thuật buồn không thua gì năm ngoái. “Có nó, đánh cờ tướng sáng đêm cũng không thấy buồn ngủ. Không lẽ lội bộ ngược ra xóm, xa, mà cũng chẳng vui vẻ gì…” Tự nhiên, Năm Thuật nhớ thằng Nhược quá.

“Cái thằng! Làm biếng, chưa có ai làm biếng qua nó được.” Nhiều khi, chú ngó một chút rồi tự hỏi, thằng này như vầy thì làm sao mà sống được qua thời buổi này. Vậy mà nó vẫn phây phây, mới kỳ.

Hồi lúc hết thẩy những tiệm cà phê đều phải tạm ngừng bán để chuẩn bị cho việc thành lập các cửa hàng quốc doanh, thằng Nhược mất tiêu luôn cái nghề chạy bàn, cực chẳng đã, nó mới chịu nương thân, ăn nhờ ở đậu trong căn chòi ba vách của Năm Thuật mà theo nó, nó cho là một chỗ “chán chưa từng thấy” trong đời nó. Thấy chú làm việc mệt nhọc, có lúc làm như nó mắc cỡ, rán ra phụ được một chút, rồi kiếm chuyện này chuyện nọ, lủi mất. Mọi thứ, mọi việc nó đều có đủ lý lẽ để nói, nhưng ít khi nó chịu làm. Bữa nào vui vui, ngồi nghỉ xả hơi, thấy nó đứng chắp tay sau đít ngó ra ở đâu xa xa, chú kiếm chuyện nói, vì nghĩ rằng nó khoái nói chuyện. Mà thằng Nhược khoái thiệt.

“Nè, sao tự nhiên đám đậu phọng èo uột quá mà có một chỗ này xanh lè, lá nào lá nấy bự muốn gấp đôi… kỳ quá mầy, Nhược!”

“Chú Năm không nhớ là hồi trước, chỗ này chú để đống phân bò hay sao? Phân bò là phân tốt hạng nhứt mà, thứ gì cũng chịu nó hết. Mát, mà lại xốp đất. Cái thứ đất phèn này, phải cần nó cho nhiều mới được. Đáng lẽ mình phải chịu khó quẩy ky đi dọc dọc theo con lộ từ phi trường vô trong này, mỗi ngày ít nhứt cũng được hai gánh… Mà điều, để chú coi, vậy mà chỗ đó hột đậu lép xẹp. Người ta nói xấu dây mới tốt củ mà… Thứ đậu phọng này chịu phân tro lắm nghe chú Năm. Đáng lẽ mỗi buổi chiều, mình phải gom gom một ít đám cỏ mục lại đốt một đống ung, vừa vui mà vừa có thêm chút phân. Ở vườn, chiều mà có đống ung, khói nó bay cà chậm, cà chậm, thiệt, buồn cũng thành vui…”

Chuyện gì thằng Nhược nói cũng xuôi. Năm Thuật tưởng tượng thằng này mà chịu gánh hai cái ky không đi dọc dọc theo đường lộ, cũng là điều lạ rồi, nói chi tới chuyện nó vừa đi vừa cúi cúi cào phân bò vô ky, chắc trời sập. Năm bẩy ngày đầu lúc mới vô đây, thấy chú đốt cỏ, nó cũng ngồi một bên, cầm cây chọt chọt cầm chừng, nói chuyện người này với người kia chửi lộn, nói chuyện thằng nào đó ăn cắp đồ bị bắt, lên tới công an mà còn chối, nói đủ thứ chuyện. Chưa bao giờ chú thấy nó tự động đi ôm cỏ về mà gầy một đống ung ra làm sao. Vậy mà nó nói… Đáng lẽ, đáng lẽ…

Có một luống mía, trồng cùng lúc với mấy luống kia, mà sao cây lên lưa thưa, chỉ bằng phân nửa mấy luống khác. Thằng Nhược lại giải thích:

“Tui chắc hồi gạch mương để đặt ngọn xuống, luống này chú gạch sâu hơn mấy luống khác. Cái ngọn, chú đặt đứng quá, hai ba mắc nó mới lên một mục, chớ mấy. Nhưng mà chú coi, nó ít thành ra nó tốt hơn mấy luống khác thấy không. Đầy đủ phân mà… Nó còn lớn nữa đó nghe. Mấy luống kia cây nào cây nấy nổi mốc trắng hết rồi đó, vậy mà nó còn xanh dờn nghe. Đáng lẽ mới hết mưa như vầy, mình chịu khó đi từng luống giựt bỏ lá héo, cây nó mới mập được…”

Mỗi lần như vậy, Năm Thuật gật gù, rồi “hèn gì… hèn gì…” cho qua chuyện. “Nghe nó nói, cũng đỡ buồn!”

“Không biết hồi này nó ra làm sao rồi. Để coi, ngày mai con Nhu đem cái thơ vô, nó nói với mình cái gì.”

Trời tối, Năm Thuật trở vô chòi ngồi chồm hổm chụm lửa nấu nước trà. Vỏ tràm khô bốc cháy bừng bừng, mau tàn quá, chú phải ngồi luôn ở đó. Vậy mà qua ánh lửa, chú cười mỉm chi, không biết chú nghĩ tới cái miệng bép xép không thua gì thằng em con Nhu, nghĩ tới những lời kẽ cà trật cà vuột trong thư thằng Nhược, hay nghĩ tới cái réchaud nhập cảng đốt bằng dầu lửa của ông thư ký quận tặng “thầy Năm Hiến Binh” nhân cái dịp gần Tết như vầy, năm nào.

***

HAI

Năm Thuật múa xong đường quyền rồi mà cũng chưa chịu ngồi xuống, hai tay vẫn giữ nguyên cái thế nắm, để ngang thắt lưng, ngước mặt lên trời thở nhè nhẹ. Một chút, chú chắt lưỡi:

“Mười lần thì bị hết tám chín lần, kỳ thiệt!”

Con Nhu đỡ lời:

“Chắc tại lâu rồi chú không dợt lại, tay chân yếu đi. Theo lẽ cái hồi nhảy ngược về đàng sau, chú nên đứng thẳng lên rồi hãy nhảy. Như vậy chắc vững hơn…”

Năm Thuật bước tới vài bước, ngồi xuống cạnh con Nhu, vừa đưa tay vuốt ngược đầu tóc, vừa thở dài:

“Có lần tao cũng nghĩ như vậy, mà không phải như vậy. Xuống Trảo mã là phải xuống nhanh cấp kỳ như vậy mới phải. Thế đó không phải là thế công, cũng không phải là thế thủ, mà là một thế chuyển kín đáo nhứt. Chuyển để thủ mà cũng chuyển để công… Vậy mới kỳ. Để tới lúc phân thế ra, mầy mới thấy được. Cái nghề, người ta đã tính từng chút, từng chút. Tao mà xuống Trảo mã đúng cái lúc đó rồi, mầy đâu có biết tao sẽ lui nữa hay phóng ngược tới, phải không? Một lát tới phiên mầy, mầy thử đứng lên rồi mới nhảy lui, mầy sẽ thấy hở nhiều chỗ lắm. Giả tỷ, nháy con mắt một cái, tao chúi mình sát lại mầy, một tay gạt lên đầu đánh nhá hơi, một tay thoi vô bụng. Mầy nhảy về Trảo mã chưa kịp thì muốn khỏi mất thăng bằng, phải dùng cả hai tay mà gạt ra, tao sẽ nương theo đà ngã, lật giò đó một cái thốc trở lên là mầy bể be sườn liền, chịu gì nổi, muốn thử không?”

Năm Thuật say sưa nói trong khi con Nhu im lặng, nghĩ tới bộ dạng chậm chạp, mất thăng bằng của chú mà tự dưng đâm ra chán chường. “Ổng cầm ở lại thêm một ngày, nhứt định dạy cho được đường quyền, mà đâu có biết mình không muốn học chút nào. Người dạy cho dầu có tận tâm cách mấy mà người học như trả nợ quỷ thần, làm sao cho khá được. Đã vậy, ‘ông thầy’ lâu lâu, múa một hồi rồi tự nhiên quay qua than thân trách phận, nghe mà phát chán theo.”

Con Nhu liếc qua Năm Thuật. Dưới ánh trăng mờ mờ, nó thấy mồ hôi bóng loáng vừng trán nhăn nheo như của một ông già sáu bảy chục tuổi. Tự dưng, nó thấy buồn buồn, quay nhìn về hướng hàng tràm bìa rừng. Trăng sáng, mà yên tịnh quá. Tháng Chạp rồi mà trời còn trong vắt. Ở hướng Nam, chòm sao Thánh giá nhấp nháy.

“Để tui vô bắt ấm nước, pha trà uống nghe chú Năm.”

Con Nhu không chờ Năm Thuật trả lời, nó vừa nói vừa nhỏm dậy, dứt câu thì đã đứng hẳn lên rồi. Bộ dạng của nó cũng có vẻ thiểu não ghê lắm.

Khi cái áo bà ba nâu bạc thếch vừa khuất vô vách chòi. Năm Thuật đứng dậy, quờ tay làm lại cái thế chặt phựt ngang cổ một địch thủ tưởng tượng rồi dùn chân xuống câu tay hất ngược cùi chỏ trở lên và không cần chụm chân lại, nghiêng người nhảy ra đàng sau, chân trái trước, chân phải sau. Chú múa thiệt chậm, vậy mà tới lúc xuống tấn, cũng lại xiêu xiêu.

Năm Thuật chắc lưỡi, đứng dậy, đi thẳng vô chòi.

Ấm nước đang lên tiêm, nghe ồ ồ. Con Nhu nhụi thêm vô lò một nhúm vỏ tràm rồi quay qua Năm Thuật:

“Sao hồi trước chú Năm không dạy cho thằng Nhược. Nó có sức hơn tui, mà lại sáng dạ. Chắc học lẹ lắm…”

Năm Thuật ngồi lên sạp, quay mặt phun nước miếng cái bẹp:

“Thằng đó thì có ăn, chớ nó học nỗi gì.”

“Vậy chớ chú thấy tui làm sao? Cà quơ cà quơ, chú không chán sao? Mà tay chân thì yếu xìu…”

“Mầy thấy học được thì học, còn không thì thôi, tao đâu có ép.”

Năm Thuật nói lẫy rồi! Con Nhu im lặng hốt một nhúm trà bỏ vô bình, nghiêng ấm châm nước sôi vô, kéo cái ghế đẩu để giữa chòi, đặt bình trà lên rồi cúi mình xuống rổ chén lấy ra hai cái. Hồi lâu, nó nói nhỏ giọng:

“Tui định trong bụng cận ngày Tết, đem bánh tét vô cho chú rồi tui mới nói. Thôi sẵn đây tui nói cho chú nghe luôn… Vợ chồng tui tính đi bữa hăm chín. Anh Bồng thẻ mực bữa đó là bữa chót, khuya ảnh tấp vô bãi đón. Xuồng nhỏ lắm thành ra đâu có dám cho ai hay. Chỉ có thêm tui với con Sen, em của ảnh… Chú tính làm sao… cho tụi con biết, tụi con liệu…”

Con Nhu nói tới đó thì ngập ngừng, cúi mặt ngó xuống. Nó không thấy Năm Thuật đang giương hai con mắt thò lỏ ngó nó chập chạm. Hai người đều im lặng.

Cho tới khi Năm Thuật bật lửa xoèn xoẹt đốt thuốc hút, con Nhu nói tiếp:

“Tụi tui tính kỹ, bữa đó, công an nó không nghĩ là mình vượt biên đâu. Còn có một ngày nữa là Tết mà… Gói bánh tét đem theo cũng có cái cớ. Anh Bồng ảnh nói, ảnh chèo cao tay lắm là ba ngày thì cũng ra được tới lằn quốc tế. Chừng đó thiếu gì tàu…”

Năm Thuật bập bập điếu thuốc:

“Ừ, biển lúc này êm láng như trong sông…”

Con Nhu mạnh dạn hỏi:

“Chú có đi không, chú Năm?”

Năm Thuật im lặng, dựa ngửa xuống sạp, mơ màng nhả khói thuốc. Con Nhu chắc có ý để chú suy nghĩ nên bước xuống đất, đi lững thững ra ngoài sân. Nó có vẻ bình thản, quơ chân mạnh một cái, lá khô bị động, kêu xào xào. Năm Thuật ngước nhìn theo bóng nó, thở nhè nhẹ.

“Chuyện này không phải chuyện chơi đâu nghe, trật một cái là ân hận. Để coi, ở lại, lây lất rồi cũng hết một đời. Cái thứ mình, qua xứ người sống được không? Tiếng Tây tiếng u không biết, làm nặng không nổi… Để coi, miếng đất mình bây giờ thiệt thì cũng không có gì, sát nhập vô nông trường cũng có sao đâu, chỉ tiếc một chút công lao, mấy năm nay… Chà, còn những cái vướng vít nho nhỏ, làm sao cho yên. Thằng Nhược đi khỏi rồi mà lại muốn về là tại làm sao? Như nó còn khá, tới phiên mình không biết ra làm sao đâu. Mà sao tụi nó lại lựa ngày Tết ngày nhất này để đi, thiệt ai mà ngờ được… Tụi nó còn trẻ… Đáng lẽ lúc sau này, mình trở về quê ngó lại giòng họ bà con rồi mới tính tới được. Khó lòng quá…”

Năm Thuật đã bước xuống đất, chú dựa lưng vô cột chòi, thọc hai tay vô túi áo, ngó ra rừng. Con Nhu đang ngồi chỗ đám sả, thấy chú ra, nó quay lại:

“Để sáng tui tỉa bớt đám sả này gánh về chợ đếm lại cho người ta. Ba cái thứ lắt nhắt này chắc không bị thu mua đâu, hén chú Năm?”

“Ừ, mà mầy tỉa nhiều quá, thằng Ngạn trưởng xóm nó biết, nó hỏi lòng vòng khó lòng lắm. Nó ở cách đây bốn năm cây số mà tao trồng cái gì, nó cũng biết hết. Cái nào tốt, cái nào xấu nó cũng biết…”

Rồi Năm Thuật quay trở vô. Con Nhu cũng đứng dậy, bước theo. Năm Thuật ngửa cổ uống một hơi hết chén trà rồi đưa tay quẹt miệng, quay qua hỏi chậm:

“Sao tụi bây không để tới ra giêng?”

Con Nhu nín thinh.

“Ý tao chưa quyết, mà điều tao hỏi cho biết vậy thôi. Như tụi bây… Như tao… Bỏ xứ sở vô tới trong này, có bỏ nữa cũng vậy… Mà đi, xứ người ta, làm sao… Tao, thiệt, nghĩ hoài không ra…”

Năm Thuật có vẻ xúc động lắm nên hết nói nữa thì ngồi ịch xuống sạp. Con Nhu rót nước trà vô cái chén chú vừa uống cạn:

“Tui với anh Bồng cũng biết như vậy, mà rồi chú thấy không… Riết rồi có đủ thứ chuyện kẹt cứng. Ảnh nói, để dây dưa hoài có khi mình hết đường xoay sở thì chừng đó ân hận lắm… Thằng Nhược nó nói xách nói mé trong thơ, chứ chú cũng biết thì dù sao bên đó, đỡ hơn bên này nhiều thứ lắm…”

Con Nhu dần dừ thêm một hồi, ngó qua chỗ khác, nói tiếp:

“Con mắt mờ của chú, qua bên đó người ta trị, ba mươi giây hết liền, rồi tui biết chắc sức khỏe của chú cũng vậy, thuốc men người ta đầy đủ mà, chú lo gì… Qua đó, chú muốn đi đâu chú đi, không ai dám cản… Thằng Nhược, mới qua hai ba tháng, nó biết đủ thứ chuyện, chú không thấy sao…”

Năm Thuật đưa tay chà chà bên con mắt mờ. Đã mười mấy năm rồi, tuy nó lâu lâu có làm chú xốn xang chút ít nhưng nhờ nó, từ sau cái thời Hiến Binh được dẹp bỏ, người ta cho chú về làm ăn khỏi phải đi đánh giặc…

“Chà, chà. Con Nhu nói như một sự cố gắng, lần cuối. Thằng Nhược nó nói ở bên đó mà người ta còn nhập cảng lá tre khô cho người Việt mình để dành gói bánh tét nữa đó nghe chú Năm…”

Năm Thuật im lặng hồi lâu, rồi thở dài nằm xuống, nói khỏa lấp:

“Bánh tét thì phải gói bằng lá tre tươi, mà luộc thì phải luộc bằng củi, mới ngon, mới bùi được, phải không mậy, Nhu?”

Con Nhu dường như không để ý đến câu nói, nó gắng gượng kéo Năm Thuật về câu chuyện đang bỏ dở:

“Mai tui về chợ, có gì chú ra chú cho vợ chồng tui hay. Ý tụi tui là như vậy, tụi tui thương chú lắm, nghe chú Năm…”

Không nghe Năm Thuật trả lời, con Nhu kéo dài giọng:

“Chú tiếc gì mấy ngày Tết, chú Năm ơi…”

Năm Thuật im lặng, trong bóng tối chú ngẫm nghĩ: “Biết nó đi, rán dạy cho nó đường quyền, nó không chịu học, thì thôi!” Rồi chú rán nằm thiệt im, làm bộ ngủ, nhứt định quên hết mọi chuyện.


(trích Nhân Văn, số 22, Xuân Giáp Tý, 1984)

Trong Lòng Cách Mạng (Tựa)

Biến cố 1975 đã khiến văn chương phải nhìn lại mình, phải lên tiếng nói. Không phải vì những bản án suồng sã của kẻ thù buộc văn chương phải nhìn lại mình mà vì trách nhiệm cần cảnh tỉnh. Không phải vì những đàn áp nghiệt ngã của kẻ thù buộc văn chương phải lên tiếng nói mà vì sự thật cần thốt nên lời.

Có người cho rằng văn chương hiện nay của chúng ta đang là văn chương thời thế. Người ta mặc nhiên thừa nhận rằng đã có lúc văn chương không-là-thời thế. Cái thứ văn chương đứng ngoài (đứng trên?) thời thế đã từng xoay lưng, làm lạ với trách nhiệm của văn chương phải chăng là văn chương đích thực, hay chỉ là sự vong thân của văn chương?

Ở giữa vòng vây của kẻ thù trong khi văn chương nhận lãnh trách nhiệm và lên tiếng cho sự thật thì ở chốn tự do người ta lại than thở cho tình trạng mất tự do của văn chương (?), người ta tìm cách phóng bút qui ẩn, hoặc người ta cố gắng dựng lại “cõi thiên đường đã mất” với ít nhiều miễn cưỡng.

Cũng may, đó chỉ là tâm bệnh của một số người không còn đất sống. Cũng may ở xứ người vẫn còn nhiều kẻ có lòng với văn chương, còn có Võ Hoàng. Tác phẩm của họ – ở đây là tập hợp tám truyện ngắn – không cần phải được (cái thói) xưng tụng (lẫn nhau), tô điểm bằng những mầu sắc lố lăng, giả tạo, vẫn đầy đủ sức sống mãnh liệt của một dân tộc. Tám mẩu chuyện dẫn người đọc vào một thế giới rất Việt Nam, cùng quẫn sau 1975 trong vòng vây bạo lực từ cuộc đổi đời bi thảm.

Trong Lòng Cách Mạng đã xác định một điều: Ở đâu đó trong từng nhân vật, cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục bằng cách thế riêng của mỗi người. Đó có phải là chủ đích của tác giả và là điều đáng kể nhất bây giờ?

Muà Hạ 1983
Cơ Sở Xuất Bản NHÂN VĂN


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Vài Hàng, về Tác Quyền (Trong Lòng Cách Mạng)

Ngoài bìa tuyển tập truyện ngắn “Măng Đầu Mùa” (viết chung với Tưởng Năng Tiến, 1982) có đề “tác giả giữ bản quyền,” thiệt tình lúc đó chúng tôi non dạ, không tự xét mình, chỉ mong làm thế nào cho nó càng giống một quyển sách càng tốt.

Qua đến “Góc Bể Bên Trời,” truyện dài, cố tình không nhắc lại dù chỉ một câu ngắn về vấn đề tác quyền. Rồi trong lúc thực hiện tập truyện “Trong Lòng Cách Mạng” này, có người hỏi:

“Vấn đề tác quyền thì sao?”

Nghĩ, thằng mình, đã không còn quyền sống trong đất nước, qua đến xứ này tạm dung, liệu có nên giữ một sản phẩm mà hết chất liệu của nó được moi ra từ cái khốn khổ cùng cực của bao nhiêu triệu con người sau cơn đại nạn 1975?

Coi, không ít những quyển sách được in bên này người ta thường đề “Copyright…” không có số. Rõ ra rằng loại văn chương tỵ nạn của mình, Mỹ nó làm sao chịu nổi. Hay là người mình không chịu nổi (ít nhất cũng trong thâm tâm) cái nhập nhằng phũ phàng và đau đớn quá? Làm như vậy, có dối người và dối mình không?

Nghĩ rồi nói: “Bản quyền, xin dành cho đồng bào tôi, hãy đón nhận và san sẻ. Mình, là tỵ nạn với nhau mà!”

VÕ HOÀNG
Tháng 7 năm 1983


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Măng Đầu Mùa (Thay Lời Tựa)

Cho ra đời một cuốn sách viết bằng tiếng Việt ở một nơi không phải là Việt Nam, ở một nơi mà Việt ngữ hoàn toàn không có thế giá và đang dần dần bị quên lãng, chúng tôi thấy ngay việc làm mang nhiều buồn thảm và có vẻ hơi vô vọng.

Nhưng làm sao ĐỪNG được?

Có những điều cần phải được nói ra một cách chân thành, có những điều cần phải nên nói ra mặc dầu không mấy ai thích nghe và có những điều cần phải tiếp tục nói mãi, mặc dầu trong chúng ta, có người đang cố tình không nghĩ đến nữa.

Bổn phận. Bổn phận của những thằng người tự khám phá ra được mình là một chứng nhân ít nhất cũng ở một đoạn đời. Thêm vào đó, ở bên kia, loài qủy đỏ dẫm nát những gì đang có, rồi sẽ dẫm nát hết những gì đã có mà ở bên này, mình gọi là Văn Hóa Dân Tộc.

Thêm một tác phẩm Việt ngữ xuất bản ở xứ người, nghĩ cho cùng, còn hơn là không có gì cả.

Măng Đầu Mùa rõ ràng là một cố gắng.

Măng Đầu Mùa rõ ràng là một đóng góp.

Măng Đầu Mùa hình thành bằng sự khuyến khích và giúp đỡ của thân hữu và bạn bè. Họ là những cố gắng, họ là những đóng góp mà Măng Đầu Mùa nương theo đó, cố gắng và đóng góp. Chúng tôi tri ân lắm vậy.

VÕ HOÀNG & TƯỞNG NĂNG TIẾN


Măng Đầu Mùa, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Trong Lòng Cách Mạng

VÕ HOÀNG

Được Cao vác bó tre về tới ngã ba cây chôm thì trời cũng vừa đứng bóng. Anh cảm thấy như cái sống lưng như muốn gẫy cụp lại, một bên ngực đau nhói, đau từng nhịp theo mỗi bước chân. Từ đó tới cây cầu ván bắc ngang đường mương trước nhà đâu khoảng năm bẩy chục thước nhưng biết mình có rán cũng không nổi, Được Cao lầm bầm:

“Nghỉ đã, còn có chút xíu, gấp gáp gì.”

Được Cao nghiêng người hất bó tre xuống bờ cỏ xong chống nạnh nhìn chầm chập vào nó một cách ngao ngán. Buổi trưa trời u u mà vẫn nóng, anh thấy bực bội trong mình quá, nhưng không biết phải làm sao nên chỉ thở hắt một cái thật mạnh rồi chầm chậm ngồi xuống đất, lột tấm áo đang cột ngang lưng ra, tìm một chỗ sạch nhất lau mồ hôi mặt.

“Tự dưng buồn ngủ kỳ thiệt!”

Được Cao luồn tay vô cái đầu tóc sói vuốt nhè nhẹ, thấy nản quá. Chiều hôm qua con mẹ Năm Đàn tới nói hoài về cái chương trình làm lễ rồi rốt cuộc nhờ anh phụ trách việc làm cho mấy chục cái lồng đèn, lớn nhỏ đủ thứ cỡ. Điều mà Được Cao ghét nhất là cái giọng của con mẻ ngọt lịm mà nghe cho kỹ thì luôn luôn có vẻ hăm doạ, và mỗi chuyện được lặp lại ít ra cũng ba lần.

Nghe thì ghét, nhưng không nghe thì không được. Nghe rồi lại càng không được vì tối lại, Được Cao ngẫm nghĩ tới trường hợp của ông Phùng, trường hợp của thằng Cam, mỗi người mỗi chuyện xem ra không có gì quá đáng mà cũng phải đi Miệt Thứ năm sáu tháng nay chưa thấy ai về nên cũng hơi lo. Thành ra, cuối cùng. Được Cao cũng phải quyết định sáng thức sớm đi chặt tre.

“Kệ mẹ nó.”

Hồi sáng lúc Được Cao ngồi bờ mương mài cây dao yếm chưa kịp tới nước bùn thì đã thấy mẹ Năm Đàn đạp xe ghé lại. Thấy anh ngồi chồm hổm trên cầu ván, mẽ không tiện dắt xe qua nên đứng trên lề đường nói trỏ xuống:

“Tưởng thầy chưa thức, tui ghé qua kêu. Đi đôn đốc cho công việc tốt đẹp vậy mà. Tui lo quá.”

“Tui cũng lo tui mới phải dậy sớm chớ. Mà tui lo phải đi Miệt Thứ kìa,” Được Cao nói thầm và ngước nhìn mẹ Năm Đàn thay cho câu chào hỏi.

“Thiệt cả xóm này, đúng ra, nhi đồng cả xóm này chỉ cậy có mình thầy, thầy cũng rán cho. Có gì trục trặc, thầy cho tui hay liền nghe, tui giải quyết.”

“Giải quyết cái mả mẹ tui, ai mà dám trục trặc.” Được Cao cầm dao yếm thọc xuống mương, đưa qua đưa lại cho sạch rồi cười gượng:

“Chị Năm làm ơn lo giùm tui cái vụ giấy dán sơm sớm. Với lại bột khuấy hồ. Đưa trễ kẹt lắm. Còn có mấy ngày hà.”

“Rồi, để đó cho tui. Thế nào thì phòng thương nghiệp cũng đáp ứng được. Mà mình còn phải điều nghiên lại hệ thống phân phối. Chiều ngày mốt xong hết, tui ghé lại thầy, mình bàn.”

Mẹ Năm Đàn còn nói nhiều nữa nhưng Được Cao nhớ không hết. Khi con mẽ đi rồi, anh mới hay là ngồi thừ ra đó lâu lắm, mà dao thì mài chưa xong.

“Sáng sớm, gặp đàn bà ăn nói lộn xộn, thấy ghét quá. Phần điều nghiên, phần phân phối là phần của mẹ, tui can chi mà dính vô đó. Làm xong mấy chục cái lồng đèn trong hai ba ngày chắc dễ à, mệt bá thở chớ chơi sao.”

Rồi suốt buổi đốn tre, Được Cao cứ cảm thấy hậm hực trong mình. Anh nghĩ mà thấy thương cho mấy đứa nhỏ. Đương không có nơi có chỗ học hành đàng hoàng mà phải theo ba má ra ở ngoài này. Cả năm rồi, con Thành quên tuốt cách đọc cách viết. Thằng Công đáng lẽ năm nay học lớp một mà bây giờ suốt ngày ở ngoài nắng và chỉ biết lượm nhánh cây khô về nhà làm củi, rồi lại lật đá kiếm trùng cắn câu. Trưởng ấp nói năm tới sẽ có trường, Được Cao chỉ biết năm tới sẽ có trường. Mẹ Năm Đàn hội phụ nữ nói sẽ tổ chức nhi đồng thành một đội ngũ cho năm tới, đâu đó có nề nếp để việc giáo dục “tiến bộ ngay từ bước đầu,” Được Cao cũng chỉ biết có vậy.

Lâu nay, tụi nhỏ cũng phải đi họp liền liền, học hát chứ chưa học chữ. Có khi, vợ chồng Được Cao đi họp đằng ấp, tụi nhỏ đi họp nhà mẹ Năm, khuya mới về, rồi mệt, buồn ngủ, bực bội không ai còn muốn ăn khoai. Tụi nhỏ đen và ốm như cò ma…

Bây giờ Được Cao ngồi đây, buồn ngủ mà đâu có dám ngủ. Chút nữa về, phải qua nhà bà Phùng mượn cây mác vót, chiều nay chẻ cho hết bó tre, tối đốt đèn dầu mà chuốt. Được Cao thở thườn thượt, lại thấy cái ngực đau nhói lên.

“Dạy học cả chục năm mà mạnh như trâu, ra đây mới có một năm mà sanh đủ thứ bệnh.” Được Cao vòng hai tay quanh đầu gối, ngước nhìn trời và sẵn cái bực trong mình, anh bực luôn với cái bóng mát lỗ chỗ của cây chôm. Được Cao khạc mấy cái, phun nước miếng càu nhàu:

“Mẹ, mang tiếng cây chôm chôm mà chưa khi nào có trái, cao chòng ngòng mà lá lưa thưa.”

Hình như thấy mình hơi kỳ, Được Cao lắc lư cái đầu rồi thủng thẳng ngồi dậy, lấy bộ đưa bó tre lên vai. “Về cho rồi.”

Tới nhà, chưa kịp quăng bó tre đã nghe tiếng chị Được cằn nhằn đứa nào đó:

“Hỏi ba mầy. Tao đã dặn có đi họp về, người ta nói cái gì thì nói lại cho ba mày nghe, đừng có nói với tao.”

Được Cao nhăn mặt, hất mạnh bó tre, đưa tay quẹt mũi.

“Con mẹ này ra ngoài đây ở, mệt nhọc riết rồi sinh tật, nói chuyện với con cái, nói toàn mày tao. Kỳ!”

Anh vỗ vỗ cánh cửa:

“Cái gì đó? Cái gì đó? Đứa nào, ra đây nói ba nghe coi.”

Thằng Công ra trước, kế đó là con Thành, nhưng hai đứa không đứa nào nói gì hết. Chị Được vừa đi từ trong ra, vừa nói:

“Tụi nó đi họp sáng nay, người ta dặn về nói lại với cha mẹ, mỗi đứa xin năm chục xu đóng tiền quà, năm chục xu đóng tiền lồng đèn, rồi lèm bèm với tui cả buổi, tui biểu chút nữa về nói lại với anh. Đó, anh tính sao với tụi nó thì tính đi, tui hết biết rồi.”

Được Cao nhìn con Thành, rồi nhìn thằng Công, thấy đứa nào cũng có vẻ khẩn trương. Anh muốn hét lên một tiếng thật to nhưng ngại tụi nhỏ sợ nên dằn xuống, quay nhìn ra ngoài.

“Trời ơi, phải chi tụi nó quên luôn là không có ngày tết Trung Thu, không có ngày lễ Nhi Đồng gì hết, tụi nó sẽ hồn nhiên hơn và mình cũng không phải nghĩ ngợi gì nhiều trong hoàn cảnh này. Xót xa quá mà không tránh được…”

Con mẹ Năm Đàn! Con mẹ này ghê thiệt! Tùy theo người mẽ nói một kiểu khác nhau, mà không ngượng miệng chút nào, nhất là không coi người ta ra gì hết. “Trưởng ấp lo phần liên hệ với xã ủy nhận quà và phân phối. Còn tui, phòng thương nghiệp sẽ cất vật liệu làm lồng đèn. Đúng thì chỉ có giấy thôi, tui xin thêm bột hồ. Phần làm sườn, tui nghĩ ngay đến thầy. Tui biết thầy làm được. Một năm có một lần, tụi em nhỏ mong mỏi quá. Mà mình không thể bỏ bê tụi nhỏ nó được, mấy ông trên huyện biết khó lòng lắm.” Được Cao nghĩ tới cái mặt chành bành của mẹ Năm Đàn thì nghiến chặt răng lại, thở nhè nhẹ.

Một chút, anh nhỏ giọng:

“Chừng nào người ta kêu góp tiền, ba cho hai đứa, mỗi đứa một đồng. Lần sau có gì thì về nói lại với ba, chớ nói với má, má rầy rán chịu, nghe chưa.”

Tụi nhỏ hí hửng lộ ra mặt. Thằng Công mở miệng định nói gì đó thì Được Cao cười cười nói hớt:

“Mà nhớ đem quà về chia cho ba má với nghe.”

Hai đứa vui hẳn và lòn cửa hông ra vườn. Chị Được bước tới cửa, thấy bó tre, quay lại hỏi chồng:

“Anh đốn tre làm thêm cái trái nhà phải không?”

Được Cao chưa kịp trả lời, chị nói luôn:

“Hồi nãy bà Năm Đàn có ghé, hỏi anh có nhà không, tui nói không. Bả đi liền. Mà làm gì tui thấy chiều qua tui thấy anh ngồi ngoài đám khoai với bả vậy?”

“Thì đó! Sáng nay thức sớm, đi sớm, em còn ngủ nên không nói, hôm qua thì trong mình bực bực cũng không nói… Mẹ Năm Đàn tới biểu làm cho mấy chục cái lồng đèn, nói là năm nay đãi ngộ nhi đồng, nhà nước làm sẵn phân phát, mà ấp mình xa quá, phải tự làm cho kịp. Mẹ nó, rốt cuộc mình bịnh nghỉ một tuần, trúng mối này, chết tiêu.”

Chị Được há hốc miệng, nghe mà không nói gì hết. Chị nhìn cái vẻ khinh khỉnh của chồng, thấy buồn cho cả hai. Mấy tháng đầu tới ở đây, chị còn lạc quan nghĩ rằng dầu sao thì vợ chồng con cái đùm bọc với nhau, bất cứ ở đâu cũng thấy yên lòng. Rán chịu cực khổ lúc đầu, lần lần chắc khá lên được. Từ một căn chòi nửa mái nhận lãnh được, chị cật lực giúp chồng chấn chỉnh lại cuộc sống, với cái hy vọng tạo dựng lại một phần những thứ mà mình có được trước kia, cũng đủ rồi.

Vậy mà không biết từ lúc nào, chị quên tuốt luốt những câu đùa duyên dáng tạo niềm vui cho chồng con, chị cũng quên luôn những công việc nho nhỏ tạo niềm vui cho chính mình, dạy cho con Thành làm toán, dạy thằng Công đánh vần chẳng hạn. Mà chỉ mình chị vậy thôi sao, anh Được càng lúc càng lầm lì, đã ít nói còn sanh thêm gắt gỏng. Chuyện hôm qua tới giờ, phiền như vậy mà cũng không nói một tiếng. Chị thỏ thẻ:

“Đờm anh khạc cũng còn nhiều chỉ máu, sao không phân bó tre làm hai mà vác cho nhẹ. Phải chi anh kêu tui dậy, tui đi theo, tui vác tiếp.”

Lúc này, Được Cao đã nằm hẳn trên sạp tre. Nghe cái kiểu vợ nói, anh biết thế nào cũng đi tới chỗ vừa nói, vừa hỉ mũi. Được Cao ngán nhất là chuyện đó. “Mình đã rầu thúi ruột rồi, nghe đàn bà vừa kể chuyện không không ở đâu vừa khóc thút thít thì chịu sao nổi.” Anh hỏi trỏng:

“Hấp khoai chưa?”

“Mới bằm xong, chưa hấp.”

Biết chồng đánh trống lảng, chị Được tủi thân nấc nhẹ một tiếng. Được Cao quay mặt vô vách, ỡm ờ:

“Ăn khoai ngán thiệt chớ không phải chơi. Em ngán không?”

“Tui nói rồi cách đây cả năm còn hỏi.”

“Tại ăn khoai, anh lở cuống họng chớ đâu phải tại bịnh phổi. Sang năm, kinh đào xong, có nước trồng lúa, anh hết bịnh liền chớ gì. Sang năm… Lẹ mà.”

Chị Được hậm hực:

“Chuyện gì anh cũng nói chơi được hết.”

Rồi hai vợ chồng im lặng thật lâu. Buổi xế trưa ở vùng đất mới khai phá lặng lẽ và trống trải, sao lòng người hình như ai cũng thấy bị dìm xuống bằng chính cái trống trải đó, và cái lặng lẽ bên ngoài hòa với cái lặng lẽ trong người, nghe ra như một thứ ẩn uất, chất chứa toàn những chuyện không vừa ý. Chị Được bỗng hỏi:

“Anh hứa cho tụi nhỏ tiền là cho thiệt hả? Mình còn có mấy đồng…”

“Ờ, ờ.” Được Cao quay ra. “Phải chi anh giải thích được cho tụi nhỏ nó hiểu thì anh đã làm. Đằng này, việc này, không phải chỉ là việc của tụi nhỏ không thôi, em phải hiểu. Thời buổi này, con nít hay người lớn cũng đều được coi như nhau, mà điều cái kiểu hơi khác một chút… Khi nào mình hết sống nổi thì mình biết, chớ con nó còn quá nhỏ, anh không muốn thấy tụi nó khổ sớm.”

Chị Được im lặng. Ở ngoài sân, chắc con Thanh bẻ nhánh cây sắp lại để làm củi, tiếng kêu răng rắc, nghe buồn quá. Thằng Công không biết đang làm gì mà có lẽ vừa ở xa xa vừa hát: “Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng…” Cái bài mà trước đó, ông Phùng vì cấm con hát nên phải đi Miệt Thứ. Được Cao chợt gắt với vợ:

“Qua bà Phùng mượn cây mác vót, nói là hai ba bữa sẽ trả.”

Chị vợ xì nhẹ một tiếng rồi đi về phía sau. Chắc chị hơi lấy làm lạ về thái độ của chồng nhưng không thèm tìm hiểu. “Hồi ở ngoài thành, thất nghiệp, cũng đói cỡ này mà anh đâu có quạu cọ.” Chị nghĩ tới độ đường từ đây qua nhà bà Phùng hơi ngán.

Được Cao lại quay vô vách, lần này thì kéo áo dưới lưng lên đắp phần đầu lại, rán ngủ một chút. Chưa kịp nóng lưng, tiếng hát thằng Công văng vẳng đong đưa từ đàng xa: “Em là búp măng non, em lớn lên trong lòng cách mạng…” Chắc thằng nhỏ vừa nhẩy cò cò vừa hát, tiếng lớn tiếng nhỏ. Được Cao trở mình lầm bầm:

“Ờ, ờ. Lớn lên trong lòng cách mạng… Ở đây mà có mả đậu, tao gỡ hột, nấu nước cho hai đứa bay uống, ỉa chẩy hai ba ngày đơ cán cuốc, hết trung thu, hết nhi đồng. Mẹ, búp măng non… Ờ, ờ, trong lòng cách mạng…”

Ngoài sân, vẫn còn tiếng con Thành bẻ cây răng rắc.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Vương Giả Chi Hoa

VÕ HOÀNG

Ở bên trong nương tiêu có hai con đường mòn dẫn tới chân núi. Cụ Lương biết rằng mình sẽ phải rẽ theo hướng trái và từ đó băng qua cánh đồng tranh nửa cây số, leo lên dốc cả trăm thước nữa, mà trời thì đang nắng chang chang, thấy ngán quá chừng. Cụ gò lưng đạp riết một hồi nữa, qua dốc thì thả, ngẫm nghĩ:

“Đằng nào cũng phải rán, một lần này nữa thôi.”

Tới khúc đường hẹp lại, cụ Lương thòng chân xuống đất rà thắng, con đường đất đỏ bốc bụi và theo hướng gió, thổi phù về đằng trước, bám lên đầu lên mình. Mới vừa dứt những trận mưa cuối mùa hai tuần trước mà bây giờ mặt đường khô muốn phỏng chân. Chiếc xe đạp dừng lại đúng dưới gốc cây thanh trà, cụ nhún người hai ba cái, xong quàng chân ngược về sau nhẩy khỏi xe, thuận bộ, dắt thẳng tới lùm cây săn con cạnh hàng rào, xô ngã vào đó. Cây sẻng sắt ló dài ra phía sau xe cấn vào một nhánh nhỏ vừa mọc, đánh “rắc” một tiếng.

“Chỗ này mà được ngủ một giấc thì phải biết!”

Cụ Lương ngồi dựa lưng vào gốc cổ thụ, cảm thấy quên hết nỗi mệt nhọc đạp xe sáu bẩy cây số đường đất, dốc lên dốc xuống liền liền.

“Mặt trời đứng bóng thì mình tới nơi, phải lo cho xong đâu đó, chiều thằng Mướp vô tới, cù cưa cù nhằng thế nào cũng tối.”

Cụ Lương nghĩ thêm rằng phải chi mình đi sớm hơn một chút, trời ít nắng, đỡ mệt hơn.

Có hai người đi bộ ngang qua đó, nhìn thấy cụ Lương nhắm con mắt chừng như ngủ, họ đang nói chuyện chợt im lặng và bước nhẹ hơn một chút. Qua khỏi bóng mát của cây thanh trà, một người nói nhỏ:

“Ông Năm Lương sao bữa nay đạp xe vô tới trong này vậy cà!”

“Thăm ai đó chớ gì.”

“Già lụ khụ rồi còn siêng đi quá. Ở nhà mà ngủ cho sướng thân. Trời nắng chang chang, mình còn sức mà cũng còn muốn chết…”

Họ nói với nhau nhiều nữa nhưng xa quá cụ Lương không nghe thấu. Cụ mỉm cười, mở mắt chớp chớp hai ba cái rồi đưa tay vòng ra sau ót, ngước mắt nhìn trời, rồi nhìn mông lung tứ hướng.

Buổi trưa ở rừng im phăng phắc, tưởng chừng như nghe được tiếng đập cánh của những con bươm bướm xám, đang bay lượn trên đám cỏ vườn trầu, vừa đúng độ trổ bông, bạc cả một khúc lề đường. Cụ Lương cảm thấy động lòng, chợt nhớ đoạn thơ của ai đó, ngâm khẽ:

“Bỗng không khách địa bình bồng
Trông mây lại nhớ, xem bông lại buồn.”

Cụ buồn cũng phải. Ở cái khoảnh đất nổi biệt ngàn này, ngó cái gì cũng buồn được. Nhất là những tháng gần Tết như thế này. Ai đời bẩy tám chục năm ở yên một chỗ mà tự dưng ù chạy. Cụ muốn quên mà không thể quên được những ngày tháng kinh khiếp đó, những ngày tháng cụ theo chân một lũ con cháu lội bộ mấy chục cây số ngược ra bến tầu rồi chân cẳng cứ nhóng lên nhóng xuống cố nhìn cho thấy hình ảnh căn nhà cũ kỹ hai ba đời để tới đây, cái xứ sở lạ hoắc, xa bờ không biết phương nào mà ngó.

Mà bực thiệt! Cụ đã luôn miệng nói với tụi nhỏ suốt nửa tháng trời lênh đênh trên một con tầu chiến: “Thì tụi bay đi đâu thì đi, tao ở lại có ra sao thì ra. Tội tình gì bắt tao cực khổ thế này.” Tụi nhỏ cũng kỳ, đem đâu ba cái chuyện cải cách ruộng đất, rồi đấu tố, rồi xử kiện trước toà án nhân dân, rồi tiêu diệt địa chủ ra mà hù. “Kẹt là ở dưới tầu chớ trên bờ tao cũng mặc kệ tụi bay, tao lội bộ về đó. Ai, tao cũng sống được hết, mà tao có tội gì…”

Ba năm. Vẫn với cái tâm trạng đó, cụ Lương đâm ra gắt gỏng với hết thảy tụi nhỏ. Tết đầu tiên ở đây thiệt cụ muốn chết:

“Tụi bay nghĩ lại coi, chỗ nào thì trước sau gì mấy chả không tới, chạy ra chi tới xứ này rồi Tết nhất, mồ mả ông bà ai rẫy cỏ. Bây giờ muốn về, lấy cái gì làm tiền…”

Tết thứ hai, cụ Lương bỏ hẳn ý định đòi về vì đã có nhiều chuyện mà nghe không sợ cũng không được. “Nhà tụi Hai Làng xập xệ hơn nhà mình mà còn bị tịch thu và cả họ phải xuôi về tới Đơn Dương tự đào mương cất nhà mà ở, thôi thì ở đâu cũng vậy.”

Có điều cụ tiếc và nhắc nhiều nhất là khoảnh vườn hoa mà cả đời cụ chăm bón. Cụ nói, nói hoài cho tới hết mùa nắng làm tụi nhỏ cũng động tâm. Mà hơi đâu chiều lòng cụ nổi. Ngày, phân tán đi kiếm cơm và làm công tác, đêm mệt đứt hơi, không đi họp thì ngủ cho lại sức. “Thời buổi này chơi hoa gì nổi, ba rán chịu cho quen đi,” thằng con nói.

Vậy mà thằng Mướp đi làm về, khoe rằng gặp được gốc mai già to bằng bắp vế. Đầu mùa mưa, cụ đạp xe một lần đi coi, tuần sau đạp thêm lần nữa có mang theo sẻng sắt và mấy miếng đệm lạt. Trọn một ngày, đào, móc, lót đệm lạt khoanh vòng theo cái phần phân hai đó. Lại còn cái rễ cái nữa chứ.

Theo lẽ, như người ta, cụ phải chờ tới đầu mùa mưa năm sau mới trở lại dứt gốc, cây sẽ mạnh và thọ hơn. Đằng này, cụ nhất định phải mang về trong Tết này và “nếu nắng quá, tao lo nước tưới, khỏi phiền tới tụi bay.”

Cũng lại phải thằng Mướp, “không có nó thì không có chuyện, mà không có nó thì chuyện này cũng không xong. Thằng vậy mà được ghê.” Hôm qua nó nói:

“Nội cứ việc đi vô trước, làm được tới đâu thì làm, chiều con đi làm về, con vô tiếp. Xong luôn ngày hôm nay cho rồi, để lằng nhằng thêm, đất càng lúc càng cứng mệt lắm.”

Cụ Lương nghĩ “phải mình đóng xong cái thùng sớm, vừa dứt mưa là vô đào liền, khoẻ hơn nhiều.” Cụ đâm ra giận cái thằng Ngạc phòng thương nghiệp, đương không mang xác tới biểu phải đan giùm ba bốn chục cái cần xé mây, mà hối vùn vụt, làm không kịp thở, còn giờ đâu mà đóng cái thùng.

Nhưng bây giờ thì ổn rồi. Cụ Lương ngắm nghía cái xe đạp và tưởng tượng tới buổi chiều tối nay, hai cây đà cột ngang hai chiếc xe đạp, cái thùng cây rút đít được, lủng lẳng, gốc mai già ngạo nghễ trong đó hai ông cháu dắt díu nhau về tới nhà lúc nào không cần biết, mà vui là được rồi.

Bóng nắng không biết từ lúc nào, phủ ngập đám cây săn con, nghiêng một ít ra phía lề đường. Cụ Lương chặc lưỡi, chống hai tay gượng đứng dậy. Một chút đã thấy cụ gò lưng đạp từng vòng. Chiếc xe tiếp tục đoạn đường còn lại, nhưng lần này, cụ Lương trông như khoẻ hẳn ra. Cụ nhìn cái bóng của mình chập chờn lúc mờ lúc tỏ bên đường, nghĩ tới những cái rễ tơ suốt một mùa mưa qua, tưa ra và bám đầy tấm đệm lạc suốt một nửa vòng. “Nhất định mình sẽ hạ thổ trong tối nay, mà nhớ là xoay hướng tấm đệm lạc về mặt trời lặn mới tốt.”

Hết cánh đồng tranh, đường bắt đầu có dốc lên, cụ Lương vừa cảm thấy mệt trở lại. Có khu rẫy nhà ai vừa phát ngược trên núi, bên dưới đã dựng xong một cái chòi nhỏ phía trái, chừng nửa công đất đã cuốc xới xong, những luống đất chưa nhuyễn chạy dài dọc theo triền dưới. Đằng đầu, gần căn chòi nhất là ba miếng ương. Cụ Lương quẹo về hướng đó với ý định nghỉ chân một chập nữa.

Trong chòi có người. Mới ngó là biết không phải Việt Nam chánh gốc. Cụ Lương lớn giọng:

“Chào chú Hai, mạnh giỏi há!”

Người đàn ông ngó ra, chưng hửng:

“Ờ, ờ. Ông Năm đi đâu vậy? Ai mà dè ông Năm tới tận đây lận.”

“Danh Phò! Thằng cha người Việt gốc Miên đốt than làm rẫy ở đây hồi nào vậy cà!” Cụ Lương dựng xe đạp:

“Chú Phò hả. Tui rảnh rang đi chơi chỗ này chỗ kia vậy mà. Làm rẫy rồi sao, thôi đốt than rồi sao?”

“Còn chớ. Mà cũng phải làm rẫy nữa. Than bị thu mua rẻ quá, mơi mốt nghỉ làm luôn chắc.”

Cụ Lương bước vô chòi:

“Rẻ thì rẻ, làm cũng có ăn vậy!”

“Đâu, đâu. Hỏng có cây mà đốt đó chớ.”

“Sao?”

“Mấy ông lâm sản nói mờ. Thôi cho đốn cây rồi.”

Cụ Lương tự động lấy ấm nước rót ra chén của Danh Phò đang uống nửa chừng, chép miệng:

“Thì làm rẫy cũng được.”

Danh Phò mở cái nón lá đang úp trên sạp cây lấy bịch thuốc rê ra, vừa thọc tay vô túi quần tìm hộp quẹt, vừa ngáp:

“Làm rẫy cũng mệt, chớ bộ.”

“Trồng trọt gì chưa?”

“Đó.” Danh Phò hất mặt ra ba miếng đất ương. “Làm sẵn chờ tới mốt, mùng mười thì ương. Tui ương bông vạn thọ, mồng gà, nở ngày, bán Tết. Có gì ra giêng rồi bán không hết, mình cắt bán rằm, mùng một cũng có tiền mua cá mua mắm…”

“Cha này Miên mà cũng biết hết, hồi nào giờ mình tưởng Miên nó ngu.” Cụ Lương ngẫm nghĩ một lúc gật gù:

“Ừ, cũng được. Tui thì khác. Già rồi trồng bông để mà vui thôi.”

Thấy Danh Phò nhìn mình, cụ hứng chí nói luôn:

“Chú Phò biết không. Chơi bông thì phải chơi cho tới. Ngặt cái là ở đây không có giống tốt. Hường thì toàn hường lớn cánh mà sậm quá. Cúc thì bò lang thang như dưa chuột, lại không có nhiều giống lan, giống mẫu đơn. Thứ nào cũng có một loại, ngó hoài đâm chán. Tui ở nhà cả ngày mà rồi vô phương cách làm một vườn bông cho khoái được.”

Danh Phò bập điếu thuốc hai ba cái, nghiêng người phun nước miếng đánh bẹp một tiếng, nói chậm rãi:

“Tui có biết làm gì mấy thứ đó, trồng khó mà ít ai mua lắm phải không?”

“Khó trồng!”

“Khó vậy chớ ông trồng làm chi cho mệt!”

“Chơi!” Cụ Lương đâm bực. “Chú biết không. Tui đã nói chơi thì phải chơi cho tới. Ở Ba Ngòi, chú mà thấy vườn bông của tui, chú phải biết.”

“Bán được nhiều không?”

Cụ Lương bắt đầu thấy nóng mặt, lớn giọng hơn:

“Đã bảo trồng chơi, trồng để ngắm. Cái thứ vạn thọ, mồng gà, nở ngày là thứ bông bình dân thôi. Nói luôn chú nghe. Bông có thứ hạng, hạng vương giả, hạng quân tử, hạng bình dân, đủ thứ hạng…”

Danh Phò ngừng hút thuốc lắng nghe.

“Chú không nghe người ta nói, ‘Quân tử chi hoa như liên; phú hào chi hoa như hồng, mai, cúc; vương giả chi hoa như lan, huệ, mẫu đơn…’ Bông sen chính thật là bông của người quân tử mà mình làm gì có cái hồ để trồng. Nói làm gì tới vạn thọ, nở ngày, lại còn mồng gà mồng vịt…”

Danh Phò nín khe. Cụ Lương uống một ngụm nước, nhỏ giọng lại:

“Mà còn phải biết cách chơi nữa kia. Ở đây gió máy kỳ cục tui chịu thua chứ ngoài tui, tui độ một thứ gió, ăn nhằm tới loại bông nào. Săn sóc bông thì phải biết thì, biết tiết, mất công lắm.”

Danh Phò chịu thua, không phải vì gió máy kỳ cục mà vì không biết gì về cái liên hệ giữa bông và gió. Cụ Lương có lẽ cũng thấy mình hơi quá lời, nói gượng:

“Thiệt ra thì cũng phải vì miếng ăn mà làm chớ thời buổi này, chơi hết nổi. Chú làm như vậy chắc mệt? Rẫy lớn không?”

“Mệt chớ! Mà rẫy tui nhỏ hà. Từ mấy cái vồng này tới bụi cây trên kia rồi từ bờ lề đường vô tới suối, đâu khoảng bốn công đất.”

“Trên kia của ai?” Cụ Lương đưa tay chỉ về hướng triền núi.

“Phía bên này đường trở qua của cha Ba Cảnh, còn phía bên kia của lão Khu.”

“Bên đó của lão Khu hả? Cha chệt đó cũng làm rẫy nữa hả? Sao không lo buôn bán?”

“Ý chời! Buôn bán gì nữa thời buổi này. Tui nghe chả tính trồng tiêu mà. Đàng sau rẫy chả, con suối lớn ra, thiếu gì nước.”

Cụ Lương cười mỉm:

“Không dám buôn bán mà dám trồng tiêu, cũng gan thiệt, mai mốt nó thu mua rẻ rề, lỗ tuột quần. Rồi nhập vô nông trường còn mẹ gì nữa.”

“Ai biết đâu. Chả bắt đầu khởi công mướn người cuốc đất rồi đó. Tuần rồi đốt, đâu có chín hết rẫy mà cũng cuốc. Cuốc cả tuần nay rồi, từ lề đường cuốc vô, chắc bữa nay nhiều rồi đa. Tui có lên coi mà. Chả mướn hơn mười người, toàn là tay chiến không.”

Đến lượt cụ Lương chưng hửng. “Từ lề đường cuốc vô, mà lại cuốc đất trồng tiêu, cuốc cả tuần nay rồi…” Cụ Lương bỗng thấy xây xẩm mặt mày. Đất tiêu nó cuốc xuống bốn năm lưỡi, lấy không chừa một cái rễ con, dễ gì nó chừa lại gốc mai của mình. Trời đất ơi, gốc mai sát cạnh đường đi, chỉ cách có năm bẩy thước. Tụi nó là tay chiến. Còn cái mẹ gì là vương giả chi hoa, phú hào chi hoa…” Cụ Lương mơ hồ nhớ tới khuôn mặt khắc khổ của Hai Làng.

Hồi ở Ba Ngòi, những năm cuộc chiến lên đến độ cao nhất, người ta nghe phong thanh một vài giải pháp hoà hợp hoà giải này nọ. Hai Làng nói lại với cụ những hằn học được cất giấu không biết từ hồi nào: “Chú Năm coi, hoà hợp gì rồi thì cũng bị thằng cộng sản qua mặt. Mà hễ tụi nó mà qua mặt thì ai cũng chết mẹ cuộc đời.” Cụ nghĩ:

“Mình còn bao lâu nữa ở cuộc đời này, lo chi chuyện xa xôi đó.” Cho tới cái Tết đầu tiên, cụ Lương vẫn còn có tâm tư này mà. Thằng con thỉnh thoảng nhắc tới Hai Làng sau những lúc than thở về cái khó khăn càng lúc càng nhiều: “Ba coi, ngày qua ngày, con người ta không còn một thứ gì nữa cả. Giờ, nó khuyến khích làm rẫy làm bái, mai mốt tổ hợp nông trường… người ta mất từ nhà cửa tới gốc cây cổ thụ. Ông Hai Làng là dân di cư hồi năm tư mà, ổng biết hết.”

Cụ Lương bắt đầu tin, và tin càng lúc càng nhiều. Có điều, bẩy mươi tám tuổi rồi, cố làm vui cho một cái Tết cuối cùng – theo cụ nghĩ – cũng không được toại ý, chớ cụ biết, thời buổi này, gạo không có mà ăn nói chi tới chơi bông chơi hoa.

Cụ Lương xòe bàn tay quơ qua quơ lại, đầu óc trống rỗng. Cụ chỉ thấy trước mặt mình những cuộc đời không còn gì của chính mình, rồi của Danh Phò trong một vài năm tới, của chệt Khu, của Hai Làng ở ngoài kia, của tụi nhỏ ở trong này.

Cụ Lương dựa lưng vào cột nhà. Thở hắt ra một cái thật mạnh. Danh Phò không hiểu gì nhưng thấy cụ Lương có vẻ mệt mà dựa vào cột, y nói:

“Ông Năm lên sạp này nằm nghỉ lưng một chút đi, đừng dựa vô cây cột đó. Săn xót đó, một lát nó ngứa lột da lưng.”

Lâu lắm, cụ Lương im lặng, không thiết gì nữa cả. Cụ nhìn thoáng Danh Phò một cái thì quay ra đường độ chừng xem từ chỗ này, có thể thấy được ngoài đó không, nếu thằng Mướp đạp xe ngang qua.

Mặt trời đang dần xế về tây rồi.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Sáng Mồng Hai

VÕ HOÀNG

Sáng mồng hai Tết, Giáo Tuất lén vợ ra ngồi trên miếng đá lớn cạnh đám bông hoàng điệp, hai tay đặt lên đùi, ngó qua ngó lại. Một hồi, động lòng ngâm nho nhỏ:

“Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng phải nghĩ một bài!
Huống chi mình đã đỗ tú tài
Ngày Tết đến cũng phải một hai câu đối
Đối rằng:
Cực nhân gian chi phẩm giá…”

Mới tới đó, cảm thấy ngồi xụi lơ như vậy mà đọc thơ thì chưa đúng phép. Giáo Tuất đứng hẳn đậy. Rồi dường như chợt nhớ gì lại cúi người xuống, quơ tay tìm cho được hai hòn đá cuội cầm ra hai tay, gõ thử. “Tiếng tốt à!”

Chân bước tới một bước ngắn, tay gõ một cái. Bước thêm bước nữa lại gõ cái nữa. Xong thì bước lui, lại gõ. Bấy giờ thì giọng thật rõ, thật gọn:

“Đối rằng:
Cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt.
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày: Rằng dốt hay hay?”

Giáo Tuất lại ngừng, quay đầu ngó vô nhà. Chợt lớn giọng hơn:

“Hỏi mẹ mày: Rằng dốt hay hay?
Rằng: Hay thì thật là hay
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài!”

Dứt câu này thì Giáo Tuất đã trở về vị trí cũ, nghĩa là trước miếng đá, chỉ cần dùng chân xuống là ngồi yên chỗ ngay. “Thì ngồi, đợi gì nữa!” Đọc hết:

“Xưa nay em vẫn chịu ngài.”

Ngó vô nhà lần nữa, Giáo Tuất biết rằng bữa sáng này là bữa sáng thảnh thơi nhất trong mấy năm qua. Mụ vợ mà không bị bịnh cảm thì giờ này là giọng mụ ong ỏng, điếc con ráy. Hết la con Sửu rồi tới rầy thằng Thân, hết chửi thằng Thìn thì mắng thằng Dậu, thằng Ngọ. Đứa này bắt qua đứa kia liền liền cái miệng.

Hồi hừng trời, nằm ngọ nguậy hết ngủ được, Giáo Tuất tuột nhẹ xuống khỏi sạp không thèm mang guốc, vậy mà mụ vợ cũng hay. Từ chỗ sạp ngủ ra tới lu nước uống có mười mấy bước, mụ vợ cố nói theo cho được một câu, giọng còn ngái ngủ mà vẫn nghe thánh thót:

“Ba con Sửu, lấy quần áo sạch của tụi nhỏ ra dũ rồi vắt lên cửa sổ sẵn, chút nữa tụi nó bận đi mừng tuổi bà ngoại. Nhớ dũ cho mạnh à nghe hông, coi chừng con rắn, con rít. Biểu con Sửu quét nhà, lùa rác vô, mà đừng có hốt đem đổ.”

Thường thường, Giáo Tuất ít để ý tới lời nói của mụ vợ, bởi vì mụ luôn luôn nói những điều mà Giáo Tuất biết hết rồi. “Thì mụ nằm liệt giường, làm không được, tui biết, tui phải làm thế cho mụ chớ.” Có cái điều mụ vợ rầy mắng con cái thì Giáo Tuất chịu thua. Ai đời, tụi nhỏ, bạch con mắt ra là bị quần cho tới tối, nhất là con Sửu. Hình như nó làm bất cứ cái gì cũng bị rầy…

Giáo Tuất đưa tay gãi đầu, lại chợt ngẫm nghĩ tới bài thơ Tú Xương vừa rồi mà buồn buồn. “Thiệt! Tết nhứt gì mà kỳ cục. Kẹo bánh, gạo nếp không có thứ gì hết, nói chi tới câu đối, câu liễn.”

Tới lúc có một chút ánh sáng len qua những khe trống của lá dừa soi rọi từng khoảng dài cắt ngang khoảnh đất trước mặt, Giáo Tuất mới hay mình ngồi đó cũng hơi lâu rồi. “Tụi nhỏ chắc gần thức. Làm gì thì cũng phải lo cho tụi nó, không có mụ vợ lải nhải hoài, bực cái mình lắm!” Giáo Tuất uể oải đứng lên, chắp tay sau đít lững thững bước trở vô nhà mà trong lòng tiêng tiếc, chưa kịp ngắm đám hoàng điệp đang hồi sung sức, trổ bông.

Trong nhà có tiếng con nít nói chuyện với nhau thì thào. “Hên! Hồi nãy mà có đứa nào ra đám bông, thấy mình vừa ngâm thơ, vừa bước trước chắc nó nói mình khùng,” Giáo Tuất nói thầm trong bụng.

Bắt đầu nghe giọng mụ vợ:

“Tao biểu là phải thay đồ, không có đứa nào được cãi lời hết. Tổ cha tụi bay, mỗi đứa có một bộ đồ mới, bận suốt ngày hôm qua, lùi đất lùi cát rồi bữa nay mang vô nhà người ta nữa sao?”

Tiếng thằng Thìn:

“Đi qua ngoại chớ có phải đi nhà ai đâu má!”

“Ngoại thì ngoại, tao biểu thay đồ là thay đồ, mày nói nữa, tao ngồi lên được, tao bẻ cổ ngược ra sau lưng, mầy nghe chưa.”

Không có đứa nào lên tiếng. Giáo Tuất bước nhanh tới ngưỡng cửa đã thấy con Sửu xốc nách thằng Tuất nhỏ đứng dựa lu nước, mắt nó long lanh.

“Gì vậy? Gì vậy Sửu? Tết nhứt mày khóc hả? Gì vậy, nói nghe coi.”

Con nhỏ không trả lời, với lấy ống lon nhón gót múc nước. Nó đặt lon nước trên cây xà vách rồi chúm bàn tay lại đút vào, xong rồi thì chà mạnh lên mặt thằng Tuất nhỏ. Giáo Tuất quăng cho nó cái khăn rằn, hỏi nữa:

“Gì vậy? Sao mày khóc? Sao con khóc?”

Tiếng mụ vợ vọng ra:

“Nó đòi bận lại bộ đồ mới hôm qua, rồi mấy đứa qủi nhỏ cũng bắt chước cũng đòi. Con cái gì mà lì. Tui chửi nãy giờ. Bộ con Sửu khóc hả?”

Giáo Tuất nín thinh, hối hận vì đã không biết giữ kín đáo để có thể làm con Sửu bị chửi thêm nữa. Vừa lúc tiếng mụ vợ tiếp luôn:

“Tổ cha mày. Tao thiệt tình không ưa cái thứ nghèo mà làm sang.”

Hình như mụ vợ ngồi dậy rồi, tiếng nói lớn hơn trước và có cả tiếng kẽo kẹt của cái sạp cây:

“Đồ cũ mà sạch thì thôi chớ. Đầu năm đầu tháng mặc đồ dơ tới nhà người ta hả! Vậy chớ năm ngoái tụi bay bận đồ cũ không, có chết chóc gì chưa. Ba đời thằng cha mày làm công nhân viên, hai ba năm mới có mấy bộ đồ, muốn bận trong mình hoài chắc.”

Giáo Tuất biết mình mà không lên tiếng lúc này mụ vợ còn nói nữa, mà càng nói nhiều càng nói bậy bèn cướp lời:

“Mấy ngày rày mà má mày la rầy tùm lum tà la ra không kiêng cữ gì hết trơn hết trọi coi làm sao được. Chuyện gì thì nói nhỏ nhẹ tụi nó nghe chớ gì.”

“Nghe, nghe mà sao nó ra đó nó khóc. Nó bồng thằng nhỏ đi ngang tui, nó dặm thình thịch xuống đất, ông chịu nổi không?”

Rồi mụ vợ chắc mệt nằm trở xuống. Cái sạp được nước, kêu kẹt kẹt. Giáo Tuất ngoài này bước lại gần con Sửu, vuốt đầu nó:

“Kệ, thay đồ đi con. Thay đồ sạch qua ngoại lậy ông bà, rồi về chớ có đi đâu đâu. Má mày đương bịnh đó, bả đổ quạu bả đánh nhằm cái lúc Tết nhứt này là tụi bay bị đòn cả năm chớ không phải chơi đâu. Thay đồ đi.”

Giáo Tuất nói xong thì chán ngán, buông thõng tay, ngó ra ngoài. “Tưởng vui vẻ mấy ngày này, vậy mà cũng có chuyện gì ở đâu…”

Thằng Dậu hai tuổi chập chững đi, ôm ống chân Giáo Tuất đòi bồng. Bộ đồ mới của nó, đàng trước bụng mà còn dính từng bệt đất. Khỏi nhìn đằng sau, Giáo Tuất cũng biết đít quần của nó dơ cỡ nào, nên thấy vợ có lý, dỗ con:

“Thay hết, đứa nào cũng thay hết.”

Rồi quay qua con Sửu, nói luôn:

“Con Sửu thay đồ trước đi, đưa em đây ba bồng. Rồi thay đồ cho thằng Dậu, thằng Thân.”

Hai tay bồng hai đứa, Giáo Tuất ngoái nhìn theo con Sửu, ruột thắt lại. Đứa con gái đầu lòng ngày nào mẹ nó cưng như cưng trứng. Bắt đầu từ cái dạo cuộc sống bị thắt chặt lại với quá nhiều khó khăn, tình thương dành cho nó mất đi mỗi lúc một ít. Mấy năm nay, mụ vợ thay đổi tính tình nhiều quá. Con cái thay vì dạy, mụ chỉ mắng chửi. “Lại còn luôn luôn gây chuyện với mình mới kỳ!”

Mấy hôm trước, may mà mụ vợ lãnh phần mang thẻ mua hàng quốc doanh, rồi liên tiếp hai buổi đứng chờ vẫn không mua được mấy cái đồ lặt vặt làm bánh làm trái ăn Tết vậy mà cũng cự nự với Giáo Tuất mấy lần, chớ không thì cũng mấy chục lần là ít.

Tiếng mụ vợ lại lên, lần này tới thằng Thìn:

“Thằng qủi này, mày cũng muốn chết nữa mới cãi lại tao. Lấy đồ ra cho thằng Thân, thằng Dậu, bận cho tụi nó. Còn thằng Ngọ để nó bận mình ên.”

Giáo Tuất bước vào trong, buông hai đứa nhỏ xuống rồi chộp lấy đống quần áo trên tay thằng Thìn, giở từng cái ra, tìm bâu áo, lưng quần, căng hai tay dũ mạnh:

“Mấy đứa ra ngoài rửa mặt cho rồi đi, rồi trở vô thay đồ, chút xíu nữa chị Sửu dắt qua ngoại, ngoại cho lì xì.”

Mụ vợ hớt lời:

“Hứ! Lì xì! Thời buổi này mà lì xì. Ông nói cho tụi nhỏ nó mong.”

Ờ! Giáo Tuất biết mình quen miệng nói trật. Thời buổi này, ăn còn không đủ, ai ở đâu có mà lì xì. “Thằng Ngọ còn biết cái gì là lì xì chớ tụi thằng Thân, thằng Dậu, thằng Tuất nhỏ thì biết cái chó gì. Mấy năm nay, người ta ai cũng lo đói.”

Giáo Tuất làm xong việc, ghé đít ngồi lên sạp, quay nhìn mụ vợ, một hồi thì nói nhỏ:

“Má mày coi uống thuốc gì không, tui đi hỏi người ta, tui đi kiếm.”

Mụ vợ có vẻ cảm động, ngó trừng Giáo Tuất. Bất chợt, mụ đưa bàn tay gầy guộc nắm lấy tay chồng, lắc đầu nhè nhẹ. Giáo Tuất hỏi nữa:

“Tui nấu cháo má mày ăn nghe!”

Mụ vợ nói nhỏ giọng:

“Tui không đói đâu. Ông coi chừng con Sửu, thằng Thìn thay đồ cho tụi nhỏ rồi biểu tụi nó đi qua má lậy bàn thờ xong thì về liền đừng có ở bển, ba má không rảnh coi chừng đâu, tụi nó phá lắm. Mà ông có đi qua bển không?”

Giáo Tuất lắc đầu không trả lời liền mà ngẫm nghĩ: “Mụ vợ bịnh hoạn, đi đâu. Mà mình cũng không thích đi. Lễ lộc, phiền phức lắm. Rồi lại cái thân trống trơn như vầy, qua đó gặp mấy đứa em, đứa cháu, đưa cái mặt ra mà ngó thì coi sao được.” Hồi lâu mới nói:

“Má mày bịnh, tui đi sao được.”

Mụ vợ chưa nói gì thì con Sửu trở vô, nó đã thay đồ xong rồi, và kéo thằng Dậu, giằng ra thay áo, bộ dạng nó vẫn còn hậm hực lắm. Lần lượt. Thằng Thìn cũng vô, tiếp với chị lo cho mấy đứa nhỏ. Không khí gia đình tự nhiên lắng dịu lại và có vẻ hạnh phúc quá.

Giáo Tuất nói với hết thảy:

“Ngày Tết ngày nhứt rán mà giữ gìn. Hồi trước, lễ nghĩa mấy ngày này, thiệt ông bà không bỏ xót một chút. Bây giờ, mình cái gì cũng xứng sái cho qua. Cái tuổi như mấy đứa nhỏ này mà được ở thời trước, Tết vui lắm. Ban đêm, lúc giao thừa, đi với con nít lối xóm, cầm theo ống tre đựng mấy đồng tiền vừa đi vừa lắc, nghe súc sắc, súc sắc. Tới nhà người nào cũng hát.”

Rồi Giáo Tuất đâm hứng. Cái hứng bị đè ép không biết hồi nào tuôn ra bất tử, hai tay vòng trước ngực lắc mạnh cái ống tre tưởng tượng:

“Nhà nào nhà này, còn đèn còn lửa
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào
Bước lên giường cao, thấy đôi rồng ấp
Bước xuống giường thấp, thấy đôi rồng chầu
Bước ra đằng sau, thấy nhà ngói lợp
Voi ông còn buộc…”

Tụi nhỏ há hốc miệng nhìn ba nó say mê biểu diễn. Thiệt tình mà nói, kể cả con Sửu, không có đứa nào cảm thấy hứng thú vì những lời lẽ súc sẻ mà ba nó đọc lại. Tụi nó ngạc nhiên đến chưng hửng vì cái cử chỉ quá mới mẻ của ba nó bữa nay.

Thường ngày, Giáo Tuất lầm lì như một người sống với nội tâm trọn vẹn hoặc luôn luôn có vẻ mệt nhọc, chán chường sau thời gian dài làm việc hết sức, bữa nay Giáo Tuất làm trò tụi nhỏ coi, tụi nó ngạc nhiên cũng phải.

Hết bài hát, Giáo Tuất vừa chợt thấy ngượng, liếc nhanh xuống mụ vợ một cái, nói tiếp:

“Thiệt! Bây giờ, Tết không phải là Tết, mà nói không phải Tết cũng không phải. Ai người ta quên được phong tục của mình bao giờ. Nhưng sao thấy nó kỳ kỳ. Má mày thấy đó, ông già tui, lễ lộc đâu ra đó. Không năm nào lúc ổng còn sống mà nhà cửa không đàng hoàng. Năm nào mà không ‘Xuân vương chính nguyệt sơ… khai bút đại cát,’ năm nào mà không cúng Bản Cảnh Thành Hoàng, Thần Kỳ Thổ Địa…”

“Ba mầy nói làm chi chuyện hồi xưa.”

“Đâu, mới đây mà, ba tui…”

Mụ vợ thấy vui vui, cười thiệt tươi, gượng ngồi dậy. Mụ vợ quơ tay vò đầu thằng Thân đang đứng cạnh đó, nhỏ giọng:

“Thì mới đây, nhưng vẫn là một cảnh đời khác. Tui biết. Hoàn cảnh sống nó thay đổi phong tục một ít, rồi thay đổi con người một ít. Mình biết thì mình biết vậy chớ làm sao mà tránh cho khỏi.”

“Chà! Bữa nay mụ vợ nói chuyện nghe hay à,” Giáo Tuất nói thầm. Thuận tay chụp vai thằng Dậu kéo lại, kẹp nó vào hai đùi đang nhịp nhịp. Mụ vợ khạc khạc cần cổ mấy cái, nói nữa:

“Ba mầy biết, tui cũng có học chút đỉnh. Tui dẫu gì cũng có suy nghĩ này nọ tui biết được. Thời nào cũng vậy, thay đổi một ít chớ cái hoàn cảnh tốt đẹp thì làm gì nó cũng làm cho con người ta tốt đẹp theo. Bữa nay ba mầy làm tui thấy mình lâu nay kỳ cục quá.”

Giáo Tuất quơ quơ tay:

“Thì đó, tui muốn nói với má mày, mai mốt, có một sự thay đổi…”

Rồi nhỏ giọng hơn:

“Có một sự thay đổi nữa, những người như tụi mình cũng còn xài được. Mình vẫn còn xài được.”

“Xí, nghe nói mà tươm tướp. Ba mày nói mà không biết mắc cở. Con người không giữ lễ giữ nghĩa gì, mai mốt người ta quẳng bỏ, ở đó mà xài được.”

“Là làm sao?”

“Ba mày nói tui dốt chắc! Bộ tui không biết được cái điều lễ bái nhỏ nhặt mấy ngày Tết này sao. Hồi đó, ông nội tụi nhỏ có nói cho ba mày nghe là mồng một thì ở nhà cha, mồng hai nhà vợ…”

“Mồng ba nhà thầy,” Giáo Tuất nói liền. “Má mày muốn tui, bữa nay, tui phải đi lễ nhà ông già vợ phải không?”

Mụ vợ nín thinh, cười cười nằm xuống. Giáo Tuất vò đầu thằng Dậu:

“Má mày bịnh, tui đi sao được.”

Mụ vợ lăn nghiêng ra, một tay đặt dưới má, nói nhỏ:

“Bịnh hoạn thì cũng rầu mà thiệt tình tui rầu nhứt là càng lúc càng thấy khó khăn quá. Tụi nhỏ càng ngày càng lớn mà tui thiệt tình không biết nó lớn để làm chi. Đã vậy còn mấy năm nay, tui đẻ năm một. Tạo ra cho nhiều, mai mốt bỏ chết đói mang tội…”

“Thôi mà, Tết nhứt má mày nói bậy quá!”

Nói vậy chớ Giáo Tuất cũng tự nhiên đâm rầu về cái chuyện con cái càng ngày càng thêm, miếng ăn càng lúc càng thiếu. “Kỳ, sống thời này, không biết ngày mai mình có cái gì để ăn không, rồi cứ lo hoài.”

Mụ vợ cầm tay Giáo Tuất:

“Ba mầy dắt tụi nhỏ đi qua nhà ba má đi. Tui nằm nghỉ một lát, tui dậy dọn bếp núc, nấu cái gì mà ăn.”

“Má mày bịnh, tui không đi đâu.”

Mụ vợ bóp mạnh tay chồng:

“Chiều nay là tui khỏe liền, tui biết mà. Mấy lần rồi, bầu nó hành hai ngày là cùng. Con dạ mà.”

Bầu hành! Giáo Tuất trợn trợn hai con mắt mà không nói được gì hết. Mụ vợ nói xong thì mỉm cười.

Tụi nhỏ nãy giờ ngồi rải rác, thấy ba má vui vẻ, tụi nó cũng mừng. Tới chừng Giáo Tuất giật mình trợn mắt và vì má nó nằm xuống rồi, không thấy được nụ cười, đứa nào cũng hết hồn, nín khe.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Mụ Bẩy Mồng

VÕ HOÀNG

Khi Mụ về đến nhà thì không còn thấy con Vện đâu nữa. Trước khi đi, Mụ đã cẩn thận căn dặn dò và không quên hứa hẹn cho nó một phần quà rồi mà. Mụ co chân tống mạnh vào cánh cửa đóng bằng vỏ cây kiềng kiềng rồi quăng mạnh gói bánh khoai xuống cạnh đó, lẩm bẩm:

“Mồ tổ cha nó!”

Cái mùi hôi thúi mấy hôm nay vẫn chưa bay đi khỏi căn nhà vốn đã hôi thúi, hèn gì thằng Nóc cả tuần nay không thèm ghé vô nhà Mụ. Hôm qua, nó chỉ đứng ngoài vách nói vọng vô, như cái kiểu Mụ đang ở trong tù vậy:

“Bà đưa lại tui cây cần câu với mấy cái lưỡi câu, mấy cục chì trong hộp lon…”

“Chi vậy?” Mụ hỏi. “Chừng này mà còn câu với kéo gì nữa?”

“Tui đi gửi nhà thằng Bọt.”

Mụ ngạc nhiên:

“Má mày biết hả? Thì cứ để đây, có sao đâu?”

“Má tui hổng cho!”

Rồi nó đi thẳng. Ra tới bụi chuối đầu đường, nó đứng lại, quay nhìn thẳng vào gương mặt ngờ nghệch của Mụ. Mụ chợt rùng mình, có cảm tưởng như cái nhìn của một lần cuối. Cái nhìn làm mụ suy nghĩ hoài.

Thiệt tình là Mụ đang ở trong tình trạng hết sức nguy hiểm. Dù sao, theo Mụ nghĩ, “Hãy cố chịu đựng, may ra thì qua khỏi. Tất cả cũng tại mình!”

Tất cả đều tại Mụ.

Giả tỉ đêm đó, “thằng qủi sứ” đừng nhìn Mụ bằng đôi mắt đó, có lẽ Mụ đã tống cổ hắn ra khỏi nhà. Mụ không nỡ la hoảng lên vì lời cầu khẩn của hắn.

Hắn bị thương hồi đầu hôm đến khi gặp Mụ mới thều thào xin ít nước uống. Hắn có cái nhìn của một con bò với đôi mắt hơi ươn ướt. Rồi bằng cái nhìn đó, Mụ xúc động theo cái nhìn của chính mình. Mụ thương hắn, tội nghiệp hắn như tội nghiệp con Vện. Hồi trước, con Vện cũng đột ngột đến nhà với cái nhìn tương tự như vậy.

“Tôi trốn, tôi bị thương… Bác làm ơn giúp tôi!”

Hắn xin nước uống, hắn đòi ăn rồi hắn ngất đi sau khi vừa uống nước xong và chưa kịp ăn gì cả. Trưa hôm sau hắn mới tỉnh và trong lúc Mụ đi vắng, hắn đã đái ỉa tại chỗ. Vết thương đùi bong ra mặc dù Mụ đã bó cột lại bằng lá cỏ hôi đâm nát.

Máu ra, thấm xuống nền đất rồi cùng cứt đái tạo thành mùi hôi thối này. Con Vện mất hẳn chỗ ngủ. Nó cũng không thể chịu được cái mùi hôi ở “giang sơn” của mình.

Sáng hôm sau nữa thì hắn ra đi. Mụ khóc rưng rức. Hắn đi, như lúc hắn tới, Mụ không hay biết gì cả.

Người ta gọi Mụ là mụ Bẩy, và sau lưng Mụ, “mẹ Bẩy Mồng.” Mụ biết, đôi khi thấy tưng tức nhưng không buồn gây sự. Chồng Mụ là một thượng sĩ giải ngũ, chết vì bị cây đè, khi Mụ đẻ thằng Chèo được hai tháng.

Người ta biết hồi trước Mụ lấy Mỹ. Người ta bàn tán, xì xào riết rồi cũng nhàm. Mụ đem thằng Chèo cho vào ở một gia đình giàu có sống ở Nam Vang. Đó là một giày vò lớn nhất trong đời. Đó cũng là lần thứ nhất Mụ biết hối hận vì việc làm của mình.

Lần thứ hai, đêm hôm trước, Mụ đã nói với “thằng quỉ sứ” một cách hằn học:

“Cậu phải đi ngay, tôi không giúp cậu được gì nhiều đâu. Tụi nó mà biết được chắc tui cũng chết.”

Mụ thấy hối hận ngay sau đó. Mụ lần tay sửa lại nếp áo cho hắn như một lời xin lỗi, trong khi hắn trợn nhìn Mụ với đôi mắt lạc thần. Bây giờ thì Mụ biết rằng mình sẽ nhớ hoài đôi mắt đó…

Và hắn đi – đúng ra là lết – có lẽ chỉ vì câu nói. Mụ thẫn thờ cả ngày hôm đó và cảm thấy mình có lỗi với mọi sự vật trước mắt, từ cái ghế, cái bàn đến con Vện và người lối xóm, nhất là sau buổi sáng xuống xóm nghe ngóng.

Té ra, trại giam nổi loạn và có một số trốn thoát được vào rừng, một số bị bắt lại, một số bị bắn chết. Công an tiếp tục truy lùng mấy bữa rầy.

Sáng nay, người ta lại nói tới cái xác chết của một người lính ngụy sình thúi, vết thương ở đùi có giòi, cạnh con đường mòn từ xóm nhà đến núi Vồ Hương.

Mụ làm bộ lơ đãng như chuyện không ăn nhập gì tới mình nhưng không làm sao giữ được cho hai đầu gối khỏi run chạm vào nhau, nhất là khi nghe “vết thương được băng bó bằng một cái khăn quàng, nhất định là tên tù cải tạo được ai đó giúp đỡ trước khi chết.”

Mụ với tay xô cái thùng giấy trên bục gỗ đen đủi qua một bên để lấy thêm chút ánh sáng bên ngoài, rồi trải xấp vải ú lên bàn, và bắt đầu đo cắt. Mụ nghĩ rằng dù sao thì câu chuyện cũng đã đi đến đây rồi, có lo lắng lắm cũng vậy thôi. Ở cái xóm Cầu Xấu nhỏ như nắm tay này, chuyện gì một chút xíu người ta cũng biết.

Cái điều mà Mụ lo lắng lại được “bồi đắp” từ nhiều ngày nay nên chắc sẽ không khiến Mụ hốt hoảng quá đáng khi phải đương đầu với nó. Sau khi cái xác chết của người lính ngụy được phát hiện, Mụ có cảm tưởng như dân trong xóm không còn diễu cợt hay xa cách với mình như trước nữa. Có những ánh mắt vừa có vẻ dò xét, vừa có vẻ gửi gấm khiến Mụ chột dạ.

Qua thêm một ngày, một đêm, Mụ một thêm hối hận. Cuộc đời Mụ có còn gì đâu để phải lo lắng đến nỗi thốt ra câu nói đó? Xác thằng Xuồng, thằng con lớn của Mụ ngày nào khi đem về tới nhà vẫn còn được băng bó sạch sẽ và vài người lính theo bồng súng dàn chào mà!

Mụ cảm thấy hai con mắt cay cay và biết mình sắp khóc. Không còn gì để níu kéo lại được nữa. Mụ quăng tất cả các thứ đang cầm ở tay, rồi gắng gượng đi về phía bộ ngựa – chỗ ngủ.

Cùng một lúc với tâm trạng bàng hoàng đó, Mụ phát giác ra nhiều thứ đồ đạc bị bới xốc một cách vội vã, chiếc ghế đẩu bị mất một chân, cạnh đó là máu và lông của con Vện.

Trong vùng ánh sáng lờ mờ. Mụ quị xuống không biết để nhìn cho rõ hay vì ngoài cửa có nhiều bóng người đi nhanh vô nhà, có người cầm súng. Đi đầu là thằng Nóc.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Lạch Đước

VÕ HOÀNG

“Chiều gần hết rồi à nghe không Bình, ông Lược nói chầm chậm. Mầy phải tiếp với tao, bơi cho nó mau tới, để chút xíu nữa bớt gió một cái, muỗi nó mần thịt mình cấp kỳ.”

Con Bình uể oải với tay kéo cái dầm mà hai con mắt ngó ở đâu đâu. Nó thọc cái dầm xuống nước, lẩy nhè nhẹ, làm như không hay rằng mình đang lẩy dầm. Ông Lược cằn nhằn:

“Mầy ba trợn vừa vừa thôi nghe Bình. Mần cái gì mà lẩy ngược, lẩy ngược không vậy?”

Con Bình giật mình đưa dầm lên cao, trườn người tới đàng trước cắm dầm xuống, rán kéo một cái. Nó biết, nó kéo lấy có chớ thiệt tình cái sức của nó, kéo còn chậm hơn trớn đi của chiếc xuồng. Từ xế tới giờ này, ba hồi nó ngồi xếp bằng, ba hồi nó thòng chân xuống nước và lúc nào cũng ngó hai bên lạch. Bắt đầu từ ngã ba đầu tiên quẹo vô đây, nó thấy cảnh vật âm u mà kỳ cục quá. Thiệt hồi nào tới giờ, nó tưởng con sông rộng thênh thang, suông đuột như từ ngoài vàm vô xóm nhà vậy thôi, ai dè càng đi sâu vô, rồi lọt qua con lạch này, thấy ghê quá. Nó quay ngược về ông Lược:

“Chừng nào mới tới lận, ông chú?”

“Mầy hỏi hoài vậy mầy. Chút nữa!”

“Hồi trưa ông chú nói còn một chút, bây giờ cũng một chút. Tối rồi!”

“Ừ… Tối rồi. Chút nữa tới mà.”

Gió chưa bớt mà muỗi rừng bay theo xuồng từng đám thiếu điều đóng thành cục trên đầu hai người. Ông Lược ngậm hai hàm răng cứng lại, cúi mình rán bơi thiệt mau. Chiếc xuồng ba lá chút chút ngóc đầu cao lên rồi sấn tới rào rào. Trong lạch không có lục bình thành ra cũng khoẻ hai con mắt, cứ nhắm chừng mà phóng tới.

Qua gần hết mùa nắng, trên mặt nước nổi đầy lá đước khô, không vàng mà có màu tím sậm. Xuồng đi tới đâu, nổi sóng tới đó. Những lá đước bị nước tràn lên mặt, mất màu rồi nhấp nhô ít cái, chìm lỉm. “Đường này ít người qua lại lắm,” ông Lược nghĩ. “Kể ra mình đi như vậy cũng liều mạng. Đêm tối mà lạc đường một cái thì chết thiệt chớ hổng phải chuyện chơi đâu.” Ông tằng hắng mấy tiếng rồi nói nhỏ:

“Mầy phải nhúc nhích hoài hoài mới được, nghe Bình. Ngồi một chỗ muỗi nó cắn mầy rán chịu.”

Con Bình không trả lời, mắt ngó về một bên lạch. Trời càng lúc càng tối, mà tối lẹ quá. Những bóng cây lúc này không còn hiện rõ nữa. Khoảng trời đàng xa cũng gần tiệp với màu nước. Nó biết không bao lâu nữa là hết thấy đường đi. “Để coi ông chú làm sao cho biết.”

Lâu lâu, một con chôm chôm chạy xoẹt ngang qua mũi xuồng, không còn ánh sáng để thấy được hàng vòng tròn lớn nhỏ theo chân con vật, chỉ thoáng một cái là mất hút. Con Bình bỏ dầm, ngồi quay lại đàng sau, cổ nó rút lại. Trời hơi lạnh rồi.

Ông Lược im lặng bơi, mà thiệt tình ông rối trong ruột. “Gần hết thấy đường rồi mà chưa ngang qua đám dừa nước cháy, hổng chừng đêm nay hết ngủ được với đám muỗi rừng này. Mà đi hổng tới thì cứ ấm ức trong bụng, chịu gì nổi.”

“Mầy tát bớt nước rồi lót ít miếng vạc lấy cái đệm trùm lại đi, Bình. Có ngủ thì ngủ, chừng nào tới, tao kêu mầy dậy.”

“Kệ. Chút nữa tới, con ngồi như vầy cũng được mà.”

“Ừ… Chút nữa tới. Tát nước đi.”

Con Bình ngồi chồm hổm nhích lần tới khoảng giữa xuồng, rà tay xuống những ngăn nước đọng rút lên được cái gáo dừa tròn vo rồi múc từng gáo tạt ra ngoài. Nó hỏi:

“Lạch này đi dìa tới Đầm Dơi chỗ ngoại con ở lận phải hông ông chú?”

“Đâu có. Đầm Dơi với đây xa biệt ngàn, có bơi cả tháng mới tới. Ở trong này hổng phải là cái gì hết. Chưa có tên.”

“Phải chi mình đi ngoài sông lớn, thế nào cũng có gặp nhà người ta, hỏi thăm.”

“Ừ… Ngoài sông lớn, đi hoài thì tới Thới Bình. Mà mình đâu có đi Thới Bình.”

“Vậy chớ ông chú đi đâu?”

“Thì đi vô đây!” Ông Lược gắt.

Dường như thấy mình vô lý quá, ông xuôi dầm cập sát be xuồng, nói từ từ:

“Ông chú đi tới nhà một người quen mấy năm nay chưa gặp lại. Hỏi thăm, người ta chỉ phải đi đường này. Mà sao tới bây giờ chưa thấy đám dừa nước cháy.”

“Mình tới đâu vậy ông chú?”

“Chưa tới đám dừa nước. Chỗ này có tên gì đâu mà nói. Mầy kêu Lạch Đước cho rồi đi.”

Con Bình thôi không hỏi nữa. Nó quăng gáo dừa, lót hai tấm vạc lớn rồi trở ra trước mũi kéo lên cuốn đệm lạt, mở dây, chêm một phần dưới đít rồi cứ ngồi thừ ra. Nó hết muốn biết lúc này ông cháu nó đang ở đâu và sẽ đi tới đâu. Đêm nay chắc cũng như đêm hôm qua, trời không có trăng, khỏi phải ngó thấy cây cối âm u, trời nước chập chờn. “Chút nữa quấn tấm đệm, ngủ một giấc là yên chuyện.”

“Mầy nghe hông Bình. Tao ngưng tay dầm một chút là muỗi nó dậy liền đó thấy hông. Chèn ơi, nó bay, nghe mà rởn ốc.”

Con Bình nãy giờ lo ra chớ cũng phải phủi liền tay. Nó vừa kéo tấm đệm phủ lên mình, vừa ầm ừ:

“Có nghe, có nghe.”

Ông Lược tiếp tục bơi. Đước càng lúc càng nhiều thêm rồi con lạch càng lúc càng như nhỏ tóp lại không biết vì ông cháu mỗi lúc mỗi đi sâu hơn hay vì bóng tối mỗi lúc một dầy hơn. Ông biết mình có rán lắm thì cũng tàn một hai điếu thuốc nữa thì hết, chắc phải đậu lại mà chịu. “Bữa nay bây nhiêu rồi? Hăm lăm hăm sáu gì đó chắc, phải đợi tới hừng trời.” Ông tự trách mình hấp tấp, nông nổi quá, rồi làm khổ lây cho con Bình. Phải chi hồi sáng, ông chịu khó thức dậy thiệt sớm “giờ này tệ gì cũng tới đám dừa cháy, mà cũng hổng chừng gặp được tụi nó rồi. Để coi, từ ngoài vàm vô thì có tùm lum lạch, mà cái lạch tàu chìm thì mình đi trúng phóc rồi chớ đâu có trật!”

Cái nôn nóng của cả ngày lần lần tan mất lúc nào không biết. Ông Lược chợt cảm thấy buổi tối ở đây ghê quá. Cũng may, mùa này nắng ráo, mấy con ve sành bắt đầu từ chạng vạng đã kêu rả rích, đỡ thấy âm u. Ông áp sát dầm vô đùi, rồi lẩy ra một cái nhẹ, chiếc xuồng bê ngang qua đưa lái tới đúng tầm với. “Chịu thua, cột lại ở đây, chờ thấy đường mới tính được,” ông nghĩ.

Xuồng bị sốc một cái rồi sựng. Con Bình ngóc dậy liền:

“Hổng đi nữa hả ông chú?”

“Đâu có thấy đường nữa mà đi.”

“Vậy là phải đợi tới sáng mới đi được, hả ông chú?”

“Ừa, sáng mới đi được. Mầy trùm lại mà ngủ đi. Chắc tao cũng ngủ.”

“Con chưa buồn ngủ. Mà sao cái nhà ông gì đó, ở đâu tuốt trong này. Phải ông chú bỏ con ở nhà cho khoẻ.”

“Tao đi mình ênh tao cũng buồn. Mầy có đói bụng hông?”

“Hông.”

“Còn đồ ăn, ngày mơi đủ hông?”

“Dư sức! Cả đống.”

Ông Lược xếp lại cây dầm cho xuôi theo be xuồng rồi lom khom bò về khoang lồng. Ông với tay lót thêm ít tấm vạc rồi ngồi ngay xuống kế con Bình, vỗ đầu nó:

“Mầy hổng muốn đi sao hồi sáng mầy hổng nói.”

Con Bình nín thinh, nó nằm nghiêng qua tung mí đệm còn lại lên mình ông Lược.

“Trời tối thiệt rồi!”

Ông Lược lầm bầm rồi lần tay lôi bịch thuốc vấn. Ông bật lửa, ánh sáng chỉ lan ra được tới hai đầu chiếc xuồng, lọt một ít vô bụi đước bên cạnh, lập lòe.

“Thằng cha Phương lò than biểu là từ đầu con lạch vô tới đám dừa cháy, bơi xuồng chừng ít tiếng đồng hồ mà sao mình bơi cả nửa ngày chưa thấy. Mình có đi lộn rạch hông?” Ông Lược thắc mắc quá. “Cha Phương lò than thì nhứt định là hổng nói dóc. Hai thằng con trai của chả đi lính Quốc Gia hy sinh hết mà!”

Ông Lược mường tượng lại điệu bộ thằng cha Phương nào đó, hấp tấp, úp úp mở mở, cà kê nửa ngày trời mới dám nói hết cái tin nhắn của thằng Hòa, thằng cháu họ, ba con Bình. “Cỡ này mấy ổng đỡ khổ hơn hồi trước rồi. Đông người, giúp đỡ, che chở với nhau. Cậu Hòa được anh em thương lắm. Cậu nhắn thế nào ông cũng tìm cách đưa con Bình vô đó một lần.”

Con Bình sáu bảy tuổi thì thêm một tai họa nữa xảy đến cho nó. Lần này thì hết nước. Ba nó đi biệt luôn không về nữa kể từ lúc quân đội Cách Mạng tràn vô chiếm đóng hết làng xã. Ông dắt díu con cháu bỏ Năm Căn về dựng chòi ở cái xóm gần vàm Ông Đốc này sống lây lất qua ngày. “Bên ngoại mầy cũng đâu còn ai lo cho mầy nổi. Dìa ngoài đó, tao làm ruộng tao nuôi mầy. Chắc mai mốt ba mầy cũng dìa, như người ta.” Năm đầu tiên, hai ông cháu chờ tin ở ngoại quốc. Năm thứ hai cũng chờ, rồi chờ cho tới mấy năm nay. Lần lần ông Lược rán tránh không nhắc tới ba con Bình trước mặt nó nữa. Thỉnh thoảng con nhỏ có hỏi, ông nói trớ đi liền, “Ba mầy ở xa, chắc có vợ khác rồi, mầy nhắc tới gì nữa, nó quên mầy rồi!” Ông biết, đơn vị ba con Bình cái ngày gần cuối cùng thì đương đóng ở Vị Thanh, Chương Thiện, lúc đó đâu có đánh nhau, miệt dưới này thì yên lắm mà. “Nó hổng ở ngoại quốc, là nó ở trỏng. Thì coi như nó đương ở xa vậy mà, ở đâu cũng vậy!” Mấy năm trước, nghe đâu khoảng từ Giồng Riềng, Sóc Ven đổ xuống, nhà nước bắt được ba bốn người ngụy quân sống trong rừng không chịu ra trình diện đăng ký, ông hỏi thiệt kỹ cho tới khi biết được không phải là ba con Bình mới thấy yên lòng. “Má nó chết bấy nát mình mẩy, hổng lẽ trời khiến ba nó bị xử tử nữa sao!”

Ông Lược tung mí đệm vấn thêm điếu thuốc nữa, ông vừa lập bập đốt vừa hỏi nhỏ:

“Mầy ngủ chưa Bình?”

“Muỗi quá xá, nó bay ì ì. Con Bình lăn trở mặt về phía ông Lược. Ông chú tung đệm ra, chút xíu muỗi nó vô nghẹt trong này hết, chịu sao nổi.”

“Mầy rán chịu, chút nữa tao un khói thuốc, nó trồi ra hết.”

Con Bình lòn tay dở lưng gãi sồn sột, nó cằn nhằn:

“Tấm nệm ỉ nước, ngứa lưng thấy bà!”

“Ừa, rán chút nữa, sáng, mình đi tiếp.”

“Ông chú thì lần nào cũng chút nữa, chút nữa. Chắc hổng ngủ được đêm nay đâu.”

Rồi nó lăn trở mặt qua bên kia. Ông Lược im lặng hút thuốc. Tự nhiên ông muốn nói chuyện với con Bình về ba nó, ông ngần ngừ một chút rồi hỏi:

“Mầy nhớ ba mầy hông Bình?”

“Ba con đương ở đâu?”

“Còn ở xa lắm, mà điều thế nào thì ba mầy cũng dìa.”

“Mình đi thăm được hông ông chú?”

“Được.” Ông Lược gật gù. “Mà điều xa lắm. Để thủng thỉnh rồi hãy tính. Tao cũng chưa biết chỗ đàng hoàng nữa mà. Ba mầy thương mầy lắm, nghe Bình. Chắc nó hổng có vợ khác đâu. Tao nghe phong phanh nó rán làm ăn, dành dụm để mai mốt dìa quê được thì cất nhà, làm ruộng. Nó phải mua xi măng xây mả cho má mầy nữa mà. Chà, nó ở xa vậy đó chớ nó biết mình dìa vàm Ông Đốc hồi nào nữa nghe hông. Nó tốt lắm, nó thương mầy lắm. Ai nó cũng thương…”

Con Bình im lặng nghe. Ông Lược nói xong thì cũng im lặng. Ông chờ con nhỏ hỏi một ít câu hỏi như thường lệ mỗi khi nhắc tới ba nó. Vậy mà con nhỏ nín thinh.

Đêm ở rừng, tuốt trong ngọn con lạch này, buồn thiệt. Ông Lược hất tàn thuốc xuống lạch, kêu cái bẹp.

Đột nhiên con Bình lên tiếng:

“Cái ông gì quen với ông chú đó, ổng làm gì trong này?”

“Ai biết đâu, lâu quá rồi ông chú chưa gặp lại. Hổng chừng ông đốt than.”

“Ở trong này buồn chết, hén ông chú?”

“Ừa, buồn lắm!”

“Ngộ! Tự nhiên cái sông lớn mênh mông rồi có con lạch nhỏ ăn tuốt vô trong này,” con Bình nói như nói một mình. “Chà, lạch đước.”

“Ừa. Thói thường là như vậy đó. Nhiều con lạch như thế này chớ hổng phải một đâu nghe. Nước ở trên ngọn theo giòng lạch đổ xuống nhiều ngả, ra tới sông mới thành giòng lớn được. Mùa nước, nó tuôn ra biển ầm ầm như thác chớ hổng phải chơi đâu.”

Ông muốn nói nhiều nữa nhưng sợ con Bình không hiểu được rồi đâm ra không vui, nên khỏa lấp:

“Có nhiều con lạch như vầy lắm, chớ hổng phải một cái này đâu. Hổng phải một cái lạch đước này thôi đâu.”

Rồi ông bỏ bộ nằm xuống, kéo mí đệm đắp sát qua bên ngoài. Trời đất tối hoàn toàn, thành ra như minh mông vô tận. “Chiếc xuồng chật quá!”

Lúc mà người thôi nói chuyện thì dường như muỗi kêu lớn hơn. Ông Lược cảm thấy khó chịu. Ông chống bàn tay đẩy tấm đệm lên làm một khoảng trống lớn bên trong rồi quay vô, mở mắt nhìn vào bóng tối. Con Bình chút chút thì cựa quậy hai bàn chân, chút chút thì lòn tay gãi lưng. Chắc nó rán dỗ giấc ngủ để bớt phải khó chịu.

Càng về khuya, trời làm như có vẻ càng nóng. Ông Lược biết mình không thể ngủ được lúc này, ông không thèm nhắm mắt, nằm nghĩ bâng quơ. Ông nghĩ tới thằng cha Phương lò than. Ông nghĩ tới miếng đất ở nhà, làm bốn năm mùa rồi mà cũng còn nhiều phèn quá, không biết tới bao giờ huê lợi mới đủ ăn. Ông nghĩ tới má con Bình, “nó nghe lời người ta đi lòn lỏi vô tuốt trong bưng bắt mối cá đồng. Đã nói là mấy chỗ đó nguy hiểm lắm mà hổng nghe. Mìn bẫy người ra giăng tứ hướng biết ở đâu mà tránh.” Rồi ông nghĩ tới thằng cháu. Mai này, may mà gặp nó, mừng kể làm sao cho hết. “Mình quí nó ở cái chỗ nó dám làm cái việc mình cũng muốn làm mà sợ khó, sợ cực. Mình năm nay chưa được năm chục mà. Thằng, hồi trước thấy nó lầm lầm lì lì mà coi cũng tốt. Thà là sống như nó, mới đáng là sống. Còn đám bạn của nó nữa, chắc tụi nó đứa nào cũng dễ thương lắm. Ngày mai nhắm được, mình để con Bình lại cho ba nó, rồi trở ra ngoải. Coi, tiếp cho tụi nó được chút nào hay chút nấy.”

Nghĩ tới người một hồi, ông xoay qua nghĩ tới mình. Cũng hên, trời phú cho ông cái tánh ít chịu ràng buộc thành ra tới buổi này, không dính líu tới ai nữa kể từ khi bà vợ bị rắn cắn chết. “Mình hổng có con, nhờ con Bình một bên mấy năm nay hủ hỉ, cũng đỡ.”

Con nhỏ chắc chưa ngủ, lâu lâu nó nhúc nhích, cục cựa qua lại. Nó nằm thẳng người, hai tay ôm vòng trước ngực. Trong bóng tối, ông Lược biết một giò con nhỏ kê hờ hững lên đùi ông, nóng hổi. Hơi thở con Bình chưa đều, tấm đệm đè thân ngực lên xuống vô chừng. Ông Lược chợt khám phá ra, bữa nay, con này cũng đã có bề ngang như người ta rồi. “Nó tới tuổi trổ mã mà, tuổi Ngọ, tuổi Mùi còn nhỏ nhoi gì nữa!” Ông hớt hải ngồi bật dậy không kịp xô cái chân con Bình ra. Con nhỏ vẫn nằm im.

Trong tối, ông Lược lại mò mẫm vấn thuốc. Ông sửa lại thế ngồi, kéo mí đệm lên sát cần cổ rồi mới bật lửa. Sau một hơi thuốc, ông nhỏ giọng:

“Mầy ngủ chưa Bình?”

Con nhỏ vẫn nằm im.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Đêm, Người Ở Lại

VÕ HOÀNG

Bà Tám Niệm chết hai ngày rồi, nhà chưa lo được đủ bộ ván hòm. Thằng con Út ở nông trường về chiều hôm qua đã không biết làm gì để tiếp giúp mọi người, chỉ ngồi đầu giường mà khóc. Ðầu hôm, có người này người nọ, đi ra đi vô cũng đỡ trống lạnh. Khuya lại, âm u thấy mà ghê.

Nhà ngoài còn hai người, ông Xã Miễng và thằng Cu Ngọng ngồi đánh cờ tướng. Cái chái lợp bằng tàu dừa, không có vách vừng, gió thổi u u mà bốn năm đứa nhỏ nằm trên bàn ngủ ngon lành.

Trong này nhìn ra, thằng Út rùng mình.

Hồi chiều, anh Tư đạp xe từ trại cưa về cho hay ngày mai hy vọng có được thêm một vách và cái nắp hòm thành ra theo như lời ông Xã Miễng, anh em tụi nó rán để tới ngày mai.

Thiệt tình mà nói, thằng Út có muốn tiếp tay với mọi người cũng không biết phải tiếp cái gì. Nhang đèn khỏi phải đốt vì chỉ có hai cặp đèn cầy để dành cho lúc liệm, lúc nhập quan, lúc thành phục, rồi cáo thần, phát dẫn… Nhang thì còn một bó nhỏ xíu, dành cho bà con tới lễ phúng điếu, động quan, hạ huyệt…

Trời tối om, lại có gió lớn. Thằng Út tủi thân khóc tiếp tục. Tiếng khóc của nó lúc này chỉ còn nghe như tiếng hậm hực của một con chó lúc đánh hơi có người lạ. Thiệt ra nó khóc hết ra tiếng rồi. Chiều hôm qua, nó kể lể liền miệng tới nửa đêm, sáng ra thì khàn khàn cần cổ, người ta hỏi, nó gật đầu, nó lắc đầu.

Ông Xã Miễng không nghe tiếng nó khóc, nhưng nghe được tiếng nó hịt mũi, bèn gõ gõ mấy con cờ lên bàn, quay vô lớn tiếng:

“Cái thằng này! Út à, ra đây mà chơi, làm cái giống gì mà rúc rúc ở trong đó, rồi khóc thút thít hoài. Ra đây.”

Thằng Út bên trong chợt thôi hị mũi nhưng không thấy động tịch gì hết. Cu Ngọng phụ lời ông Xã Miễng:

“Ga ây quoánh cờ, Út ơi!”

Rồi nó nói nhỏ hơn, như nói với Xã Miễng:

“Ai cũng chết, chết hì hôi, buồn dàm gì cho mệt.”

“Ừ, buồn làm chó gì, chết thì thôi,” ông Xã Miễng tiếp lời nó. “Ðể tao vô lôi nó ra đây.”

Vừa nói, ông vừa ngay giò đẩy ghế về đàng sau, chống tay xuống bàn gượng đứng dậy. Mấy đứa nhỏ đang ngủ, nghe tiếng nói lớn lúc nãy, có đứa giật mình lăn trở. Một đứa ngóc đầu dậy hỏi lè nhè:

“Ba tui dìa chưa ông Xã?”

Thằng Cu Ngọng nói liền:

“Chưa âu! Ngủ i!”

Thằng nhỏ im lặng nằm trở lại. Trong kia, ông Xã Miễng một tay vịn cửa buồng, một tay bưng cây đèn dầu, khom người nhìn vô. Thằng Út nằm quay lưng ra, một chân nó duỗi thẳng, thọc dưới gầm giường. “Trời lạnh quá mà thằng này ở trần.”

Ông Xã Miễng lại lên giọng:

“Mầy không ra coi đánh cờ, ở đó mà nằm dật nằm dựa, muỗi nó cắn mày chết… Út!”

Ông nói xong thì bước luôn vô buồng. Thằng Út quay ra, nó nói ú ớ trong miệng không ra tiếng, rồi vịn thành giường ngồi dậy.

“Chà chà, bắt đầu có mùi rồi nghe. Ðiệu này thì ngày mai nhứt định là phải tính cho xong, không thể để cù cưa cù nhằng như vầy được, nghe Út.”

Thằng Út vẫn lầm lì. Nó lầm lì chống tay xuống đầu gối đứng dậy, lầm lì kéo góc cái mền cho thẳng mấy lằn nhăn trên thây ma má nó, rồi lầm lì đi ra cửa, bỏ mặc Xã Miễng một mình đứng đó.

Ngoài này, thằng Cu Ngọng cầm cái ca mủ vừa gõ nhịp xuống bàn tay vừa hát ư ử trong miệng.

Ði ngang cửa buồng, ngang Thằng Út, nó đứng lại một chút, nói nhỏ:

“Cao i múc ngước, ngấu ngước chà.”

Thằng Út ngó sững Cu Ngọng một cái rồi quay đi. “Mầy đi múc nước thì tao đi lấy trà rồi ra chụm lửa…” Nó nghĩ, ”khóc hoài chỉ mệt thêm thôi.” Ông Xã Miễng bưng đèn trở ra, ngồi lại bàn cờ, hai tay chống cằm suy nghĩ nước đi. Ðược một chút, ông lại đứng dậy, lần về phía tấm đệm bên vách, trên đó đã để sẵn lổn ngổn các thứ đồ tẩm liệm. Cái “dải lụa” dùng để buộc tóc được thay thế bằng cái khăn rằn xé dọc làm đôi. Hai cái khăn vải trắng cũng lại là hai mảnh của cái bao bồng bột cắt đôi, một dùng để tắm, một dùng để lau mặt xác chết, rồi cái lược thưa, cái chậu nước, một cái gáo dừa múc nước, một cái nồi dùng nấu nước lá sả, một cái kéo cắt móng tay móng chân… Tất cả đã sẵn sàng, chờ xong bộ ván hòm thì liệm.

“Trong khoảng giờ Tỵ ngày mai mà không xong thì thiệt tình không biết tính làm sao.” Ông Xã Miễng chỉ lo một điều là nội trong hai ba tiếng đồng hồ buổi sáng “thằng Tư” không đem về kịp tấm vách với cái nắp hòm rồi công chuyện kéo dài ra, qua khỏi giờ Tỵ là khó lòng lắm. “Tẩm liệm, động quan này nọ thì cũng phải có giờ có giấc, chớ đâu phải muốn làm là làm.”

Ông ngồi chồm hổm nắn nót cây lược thưa, im lặng. Thằng Út lúc này đã châm ngọn lửa. Ánh sáng lung linh, chập chờn ngã qua ngã lại làm nó chợt thấy đêm nay gió nhiều quá, rồi nó cảm thấy lạnh. Nó ngồi bẹp xuống đất, đưa mũi quẹt vô đầu gối xong để yên cái đầu ở đó, nhìn vào ngọn lửa.

Ðêm khuya, ai cũng im lặng. Nó thấy buồn quá chừng. Má nó chết, làm như ai cũng biết trước cả tuần lễ, vậy mà anh Tư nó chạy đôn chạy đáo vẫn chưa lo đủ bộ ván hòm. Làm cho trại cưa nhà nước năm sáu năm nay, tới lúc bà già chết, không được một chút thông cảm. Cả ngày nay, ngồi khóc chớ nó chờ, chờ anh Tư về cho biết công chuyện chạy lo cho đủ bộ ván đi tới đâu. Rồi đêm nay nó chờ, chờ anh Tư đội sương đội gió chống bè lên tuốt trên ngọn, bẻ mấy lóng cây về để có mà cưa, “may ra mấy ổng cho mấy tấm giác da về đẽo gọt lại, xài được.”

Thằng Cu Ngọng bắc lên bếp cái ấm nước rồi ngồi xuống cạnh thằng Út, một tay choàng qua vai bạn, nói nhỏ:

“Mày hổng dạnh sao?”

“Ừ, lạnh!” Giọng thằng Út khàn khàn.

“Bận áo dô i.”

Thằng Út lắc đầu.

“Cao dấy áo cho mầy nghe!”

Thằng Út lắc đầu.

“Mà mầy dạnh hông?”

Thằng Út gật đầu. Cu Ngọng cụt hứng. Cái thứ “điếc hay ngóng, ngọng hay nói” mà gặp một thằng cỡ thằng Út này cũng đành chịu thua. Cu Ngọng nhìn nó một chút rồi đứng dậy, lầm bầm:

“Ngó buồn dắm, cội nghiệp!”

Cu Ngọng định rủ ông Xã Miễng trở lại bàn cờ thì anh Tư thằng Út về. Ngó bộ đồ là biết ướt mới vừa ráo. Không ai thắc mắc gì hết vì biết rằng anh lội nước từ đầu hôm tới giờ, bè cây về.

Ông Xã Miễng ngồi bật dậy ngay:

“Sao mầy Tư? Xong không?”

Anh Tư lần tay mở nút áo ngực, buông gọn:

“Chưa chắc!”

“Sao?”

Thằng Út, thằng Cu Ngọng cũng đã đứng cạnh ông Xã từ lúc nào. Cả hai đều há hốc miệng ngó châm bẩm vô mặt anh Tư.

Ông Xã hỏi nữa:

“Sao? Sao?”

Anh Tư chợt xẵng giọng:

“Hứ, mệt muốn chết mà còn bực mình. Chiếc xe đạp chó đẻ cứ tuột dây sên liền liền, tui giận tui hất ngoài đầu đường rồi.”

“Tao hỏi mầy mấy tấm ván thì làm sao?” Ông Xã gằn từng tiếng.

Anh Tư cởi hẳn áo ra, quăng lên bàn:

“Tùm lum chuyện, không chắc chắn được. Mấy lóng cây sao, thì mình ên tui bè không nổi, dài lắm. Còn cây dầu thì nhiều lóng tốt mắc kẹt hết, mấy lóng ngoài, bể, nứt thấy mà ghê, cũng phải bè về. Rồi phải thôi đâu, về tới trại, mới hay mấy cha nội tui, xả mấy lóng thị, đứt một hơi hai lưỡi cưa, còn có lưỡi cuối cùng, phải xả tiếp. Mẹ nó, phải đủ ván chở về tỉnh, hết lưỡi cưa cũng phải chờ đi tỉnh chở về, không biết tới chừng nào.”

Anh Tư nói xong thì uể oải ngồi xuống ghế, vò cả hai tay lên cái đầu sói gần hết tóc, hực hực cần cổ như cố nén xúc động. Hai thằng, Thằng Út, thằng Cu Ngọng vẫn đứng im. Ông Xã Miễng chấp chấp miệng rồi cố nói gượng:

“Biết đâu được, biết đâu được mầy! Biết đâu phước đức ông bà mầy khiến tụi nó cưa tới sáng cũng không đứt lưỡi cưa rồi sáng tụi nó cưa lóng dầu là khỏe cho mình.”

Thấy anh Tư trầm ngâm, ông Xã ngồi xuống ghế bên cạnh, tiếp lời:

“Mà mày có chắc là thằng cha Bảy Mương gì đó, thằng cha thủ trưởng gì đó hứa là sáng sẽ cho cưa mấy lóng cây mầy bè về không?”

“Chả chỉ nói là làm xong ba lóng thị trên đường rầy, thì làm. Tui biết nếu không có gì trục trặc thì đêm nay xong tuốt.”

“Nếu không có cái gì trục trặc,” anh Tư nói mấy tiếng đó mà thót trong ruột. Ơn huệ, cảm tình của anh với thằng cha thủ trưởng trại cưa qua một lời hứa, lời hứa mà thiệt tình, bà già chết anh mới cắn răng tin tưởng.

Có một điều anh chưa nói ra, mà chắc có lẽ anh sẽ không bao giờ nói ra: Lâu nay, trong thâm tâm chính anh và các bạn làm công cho trại, ai cũng mong cho luôn luôn có một cái gì đó trục trặc, để được nghỉ làm. Bởi vì, làm cật lực cũng không đủ ăn, mà không làm không được. Nghỉ làm, có khi còn khá hơn, về nhà quơ quào cách khác, hợp lý, hợp pháp chớ đương không mà nghỉ ngang, ai dám. Thành ra, có nhu cầu của tỉnh đòi hỏi, toàn trại phải làm đêm thì chuyện máy kéo, máy cưa hư hoặc lưỡi cưa lần lượt đứt hết là chuyện thường.

Anh Tư rùng mình suy nghĩ ”Mình vô phước, bà già chết nhằm cái lúc này mà không dám hở môi. Có ai dám nói với ai về cái ý nghĩ nguy hiểm đó. Lâu nay, tình trạng trong trại thì ràng ràng như vậy mà thiệt tình, mỗi người đều làm theo ý nghĩ của mình, giữ cho khéo, cho kín.”

Anh lại vò mạnh cái đầu sói. Thằng Út ứa nước mắt, kéo ghế ngồi cạnh anh rồi lại hịt hịt. Ông Xã Miễng muốn đánh tan những phút buồn thảm đó, nói lớn:

“Ðược, chắc được mà, rán mà tin đi. Không lẽ mầy vô phước quá vậy sao!”

Anh Tư mím môi:

“Biết đâu được, chú!”

Anh quay nhìn về góc nhà, nơi để những đồ tẩm liệm, tặc lưỡi:

“Thiệt! Tốn biết bao nhiêu mới chia được một ít thủy ngân đổ miệng cho bà già, để tới bây giờ, hết hơi hết thuốc gì rồi… Chú coi đó, sả nó héo queo.”

Câu nói, nói đúng ngay mối lo của ông Xã Miễng. Ông vì cảm tình lối xóm, rồi vì cái lòng tin của anh Tư, muốn tận lực giúp đỡ cho đám tang bà Tám Niệm đàng hoàng tươm tất mà thiệt tình trong hoàn cảnh này, ông chịu thua.

“Mầy nhớ nghe Tư, ngày mai, phải xong trước Ngọ, đừng để trễ. Thiệt tao cũng rầu muốn chết.”

Rồi nhà lại rơi vào im lặng tịch mịch, tiếng côn trùng được lúc, xoáy tuốt vô óc con người ta.

Thằng Cu Ngọng châm xong bình trà rồi. Nó xách lại bàn, tay kia cầm theo cái ca mủ:

“Ngước chà, ngước chà ngóng nghe. Ai uống hì uống.”

Nó đặt bình trà lên bàn rồi lật vạt áo thọc vô ca, lòn mấy ngón tay, xoay qua xoay lại, đưa lên miệng thổi mấy cái. Ý chừng cho là sạch rồi, nó đặt xuống trước mặt anh Tư:

“Uống chà i chú Cư.”

Anh Tư liếc nhẹ về phía cái ca, rồi nói với ông Xã:

“Không chừng tui hạ cái lưỡng diện xuống, lấy mấy tấm ván đó làm cho đủ bộ áo quan luôn à chú.”

Ông Xã Miễng trợn mắt một lúc, chợt hớt hải:

“Ý, đâu được mầy! Chấp quan mà phải phá nhà, ai cho mầy làm chuyện đó. Mà mầy coi, bề cao cái lưỡng diện có là bao nhiêu, không lẽ mầy nối ván.”

“Phá nhà thì phá chứ chú. Mình cạy đi tấm lưỡng diện thì có chút đỉnh, ăn nhằm gì.”

“Mà tao nói có cụt.”

“Tui cắt mấy tấm kia hết, tui cắt ba tấm kia hết.”

Anh Tư cố nói. Thật ra, đầu óc anh ù lì, chai cứng hết rồi. Ông Xã Miễng lắc đầu chầm chậm:

“Không được, không được! Mầy biết đó, ông bà còn nói mà, giường bốn thước hai, quan tài bốn thước bảy. Ai đời mầy liệm bà già mầy nằm còng queo, mày làm ăn sao nông nổi được…”

Anh Tư nín khe.

Ông Xã cảm thấy như mình lầm lỗi, cũng nín khe. Một lúc ông nói nhỏ:

“Sáng, không lo nổi, mầy trở về liền. Tháo tấm lưỡng diện thì dễ ợt, còn cái chuyện phải nối ván là phải chịu vậy rồi. Chưa bao giờ trong đời tao nghe nói tới chuyện làm áo quan mà nối ván, cũng chưa nghe nói làm như vậy là không nên. Thì thôi, mình miễn cưỡng làm cho qua buổi đi. Ðể kéo dài hoài, mầy mang tội chớ không phải chơi đâu. Còn nếu muốn xứng xái mà cũng đủ lễ đủ nghĩa thì liệm bằng chiếu, chôn bằng chiếu.”

“Bằng chiếu?”

“Ừ, bằng chiếu chứ sao. Ở nhiều vùng, con người ta đói khổ quá, chết thì bó bằng chiếu. Chôn bằng chiếu thì có lễ của cách chôn chiếu, còn chôn hòm thì có lễ của cách chôn hòm, đủ lễ đủ nghĩa chớ chơi đâu. Mầy có biết cái bài thơ gì của ông Nguyễn Khuyến, như là trối lại cho con cháu đó, ‘Ðồ khâm liệm chớ hề xấu tốt, kín chân tay đầu gót thì thôi.’ Người ta một đời phú quí còn không câu nệ nữa, huống chi cái thứ mạt rệp như mình.”

Anh Tư thở dài từng chập, theo từng câu của ông Xã. “Thiệt cái thời buổi này, chết rồi cũng còn khổ!” Anh không cần biết cái ý kiến của ông Nguyễn Khuyến gì đó hay ho lắm không, chớ thiệt tình, bà già chết mà không lo được tới nơi tới chốn thì sống làm sao cho khá. Anh lúc lắc cái đầu:

“Thì cũng rán chờ tới mai. Mọi thứ tui nhờ chú giúp cho. Thiệt tui muốn chết đứng rồi.”

“Ðể đó tao. Mầy có lo cho lắm cũng không qua được thời thế đâu. Hồi trước nó khác, bây giờ nó khác.”

Rồi ông tự tay rót trà ra ca, lòng nhẹ nhõm. Anh Tư cũng đứng dậy, mặt bình thản. Anh đi về phía mấy đứa nhỏ, nhón gót coi kỹ từng đứa. Tụi nó chắc lạnh, đứa nào cũng co quắp lại, hai tay thọc vào đùi mặt mày xanh xao quá.

Thằng Út không biết đi đâu mất, có lẽ nó trở vô buồng không chừng. Anh Tư đưa tay sửa cái đầu thằng con lớn cho ngay rồi lững thững bước ra ngõ.

Anh không nói nhưng ông Xã biết, anh đi dắt chiếc xe đạp về. Thằng Cu Ngọng hình như cảm thấy lạc lõng, nó bô bô cái miệng:

“Cới phiên ông Xã i ó. Ông Xã! Cui em con quáo xuống bắt xe, bắt ngựa. Cới ông Xã.”

Ông Xã Miễng chậc lưỡi đứng dậy chầm chậm đi về phía bàn cờ, ông muốn đổ quạu với thằng Ngọng này quá. Nãy giờ lo chuyện này chuyện kia chứ thiệt tình trong bụng ông tính nát nước cũng không gỡ được cú bắt này, đành mất con ngựa lại còn thất thêm một nước. “Nãy giờ lu bu như vậy mà thằng Ngọng không quên, tổ cha nó.” Ông nói lấp lửng:

“Gần sáng rồi! Chắc tao đánh ít nước nữa với mầy cho vui, rồi xù, đi ngủ. Sáng còn nhiều chuyện phải làm nữa, mầy à.”

Ông Xã Miễng quay qua, rồi quay lại rồi với tay lấy cái ca, cái bình trà, rót nước. Ông ngồi thẳng lưng hít mạnh, mặt ngước cao, rõ ràng là muốn rặn ra một cái ngáp. Thằng Cu Ngọng lúc đó cúi đầu xuống bàn cờ, không thấy.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Của Thương

VÕ HOÀNG

Bữa nay cúng cơm bà cụ.

Trời sâm sấp tối mà chị Mật vẫn chưa chịu đốt đèn cầy. Căn nhà tối om. Mấy đĩa đồ cúng bày sẵn trên bộ ngựa, ruồi bay vo ve trên đó, nhà lại im lặng, buồn thiu. Chị Mật cố nén một tiếng thở dài.

“Mấy bữa, nhắn chú sáu Nông ba bốn lần, ngang qua Sóc Xoài cho thằng nhỏ hay ngày cúng cơm, mà cũng không về…” Chị Mật chỉ dám hy vọng chút chút thôi chứ chắc gì thằng Còn xin về được. Vậy mà với một chút hy vọng đó, chị chờ nó hoài. Hồi chiều, vừa về tới đầu cầu nổi thôi, mà đã nghe nôn nao tưởng đâu gặp lại thằng em nửa năm nay đi biền biệt, ai dè nó vẫn chưa về.

Trời chiều lảng đảng, gió lạnh ngắt. Mọi hôm, giờ này chị thèm mặc áo lạnh, bữa nay mặc rồi cũng vậy. Chị có cảm tưởng cái áo càng ngày càng mỏng đi.

Năm ngoái, ý là bà con còn người này người nọ, không có thằng Còn, cũng thấy tủi thân quá đi. Thằng nhỏ đào kinh cách có ba bốn chục cây số mà xin về cũng không được. Rồi năm nay, đồ cúng toàn bo bo, khoai mì, lại ít xịt, đâu có dám mời ai. Nó mà lại không về nữa, buồn chịu gì nổi!

“Thiệt còn có hai chị em mà cũng như không!”

Chị Mật nhón chân nhìn về hướng chợ. Gần tối rồi, đã có người xuống bến ngồi sẵn chờ chuyến xe về Kiên Lương tài chót. Bên kia Tô Châu, quán cà phê quốc doanh đốt đèn sáng ra tới bờ sông. Cây cầu nổi bập bềnh theo từng con sóng chuyền từ ngoài cửa biển vào. Giờ này người ta qua lại lưa thưa. Chuyến xe chót về chưa?

Chị Mật nhớ quay quắt hình dáng nhỏ thó của thằng em trai bao nhiêu năm trời sống bên nhau. “Hồi sau này, nó ít nói và nhất là dễ nổi cáu, không phải chỉ với riêng chị, mà cả với bé cháu Thường. Lúc trước còn má, má luôn luôn khen rằng thằng này tính tình giống hệt ba, trầm mà dễ hoà đồng và giỏi chịu đựng. Nó đổi khác nhiều rồi!”

Ở cái tuổi còn nhẩy lò cò với nhau, thằng Còn là niềm vui duy nhất của chị Mật. Những buổi chiều lúc gia đình còn ở Ba Hòn, hai chị em ngồi hàng ba đánh thẻ. Hồi đó, thiệt vui làm sao!

“Chuyền chuyền một, một đôi.
Chuyền chuyền một, hai đôi.
Qua cầu, hầu thẻ, bẻ bàn, sang ngón, chọn tay…”

Thường thì hai chị em ít khi đôi co nhau phải nhờ tới má giải quyết. “Mà cái thằng đó, đã nói nó là cái thằng dễ làm hoà.”

Tưởng rằng hết chiến tranh rồi, cho dù có đang ở cảnh mồ côi, đang ở cảnh góa bụa, chị em đùm bọc nhau cũng qua ngày qua tháng. Dè đâu thằng nhỏ năm đầu còn lông nhông, năm sau đào kinh lai rai ít tháng tưởng cho xong việc, năm kế lại phải thi hành nghĩa vụ, không biết tới bao giờ thì thoát ra được.

Chị Mật ngẫm nghĩ mà thấy thương thằng em vô cùng tận. “Tội nghiệp nó còn khờ dại quá!”

Lúc chị Mật lấy chệt Tỷ, thằng Còn thôi học và xoay qua làm lơ xe, ít khi về nhà. Mà mỗi lần về là mua đủ thứ thập vật. Nó hay kề tai chị nói nhỏ: “Tóc mai đá đất bậu chê, nưng niu thằng chệt tư bề sọ không.” Chị mắng nó hỗn, và đòi mét anh Tỷ, nó trề môi:

“Chấp chị mét. Anh Tỷ không dám làm gì tui đâu. Thằng này cũng ngon lành lắm mà. Ôi chà, bận quần chẳng có dây lưng, bận áo nửa chừng, lửng dửng dái trâu. Chị thương anh chệt vì đâu?”

Những câu chọc ghẹo dẻo đeo này là má dạy nó, lúc anh Tỷ đang theo đuổi chị. Má chết mấy năm rồi, nó còn nhớ hoài. Thằng thiệt kỳ!

Vậy mà thằng nhỏ thương anh Tỷ không ngờ được. Cái ngày đem thây ảnh về cũng vừa lúc xe nó nằm tài ở Rạch Giá, nhắn một tiếng nó về liền và khóc suốt chặng đường xe. Tới nhà, nó thôi khóc và xoay qua trách mấy người lính đang có nhiệm vụ làm dàn chào:

“Tui không biết về quân sự mà điều cái đồn ở Ba So là cái đồn trước sau gì cũng bị đánh. Mấy cha chỉ huy dở sao mấy ông không can, giữ chi chỗ chết đó hoài.”

Bây giờ thì nó có đem cái lý luận về quân sự “không biết” này ra đôi co với những người cùng đơn vị không? Lần về kỳ trước, thằng nhỏ chỉ nhún vai: “Đi lính thời bình mất công thiệt, không khoái chút nào. Cho người ta ở nhà đi đánh cá sướng hơn.”

Nửa năm rồi, thằng Còn không về mặc dầu đơn vị đóng cách nhà có hai giờ đường xe. Chị Mật liếc về cái bộ ngựa. Con Thường đang cầm một đầu cái khăn rằn quay tít đuổi ruồi. Con nhỏ nhón gót hết cỡ cũng không cao hơn bộ ngựa được. Chị Mật rầy nó:

“Thôi đừng có tài khôn cô nhỏ. Quơ một hồi là bay hết mấy cái chưn đèn của người ta. Để đó.”

Con Thường ngừng tay, vò cái khăn rằn lại ôm vào bụng, nhăn nhó:

“Sao má không thắp nhang đi cho ruồi nó hết đậu?”

“Má chờ cậu Ba về mới thắp.”

“Cậu Ba đâu?”

“Cậu Ba chưa về.”

“Chừng nào cậu Ba về?”

“Ai biết.”

Chị Mật vừa liếc thấy một trong hai khúc khoai lang, trong túi áo của con Thường, nên nhăn mặt:

“Nữa rồi, sao con không ăn không ăn cho hết, chừa làm gì một củ khoai.”

Con Thường ngượng ngập, muốn nhét cả cái khăn rằn vô túi để che đi. Chị Mật ngồi xuống cạnh con:

“Má dặn cả chục lần rồi, sao con không nghe. Biểu ăn cho hết không được bỏ. Có đáng đánh đòn không?”

“Con ăn, con đâu có bỏ!”

“Ừ. Nó đâu có bỏ.” Chị Mật quay đi ngẫm nghĩ. Con nhỏ thiệt tình ngán ngược cái thứ khoai luộc này. Thường thì nó ăn hết nhưng thỉnh thoảng, chị thấy nó ngồi dựa cửa nhìn đăm đăm vào gói khoai không lộ vẻ gì cả. Một lát sau, tự con nhỏ gói mấy củ khoai lại rồi than đói bụng.

Kỳ! Nhưng làm sao bây giờ? Chị Mật biết rằng chính mình cũng thèm muốn một loại thức ăn thường nhật khác hơn thứ này. Đôi khi chị nghĩ đến một bữa cơm xa xôi nào đó ngày còn nhỏ, cơm nhão nhẹt mà phải ăn với cá bống kèo, vậy mà ngon ghê.

Hồi đó, má chị hay nói: “Cơm khô là cơm thảo, cơm nhão là cơm hà tiện. Nhà mình nghèo, nấu như vậy đỡ tốn hao hơn. Vậy là có phước lắm rồi đó con.”

Chị Mật thấy vui mà được nghĩ rằng má chị sống trọn vẹn cuộc đời ít nhất cũng để hưởng những cái phước đức khiêm tốn đó. Bữa cơm nhão, cá bống kèo đối với chị, bây giờ, là một kỷ niệm đã xa biệt ngàn…

Chị hiểu và ái ngại mỗi khi phải nhìn nỗi chán chường của con Thường. Lúc nó thôi phải ăn bột xoay là cũng vừa lúc loại thực phẩm này không còn bán nữa, và huê lợi của chị cũng không còn đủ để mua gạo mà ăn. Con nhỏ chỉ biết có khoai, lâu lâu thì bo bo. Nó không có được cái kỷ niệm vàng son của những bữa cơm có canh, có cá, cả nhà quây quần vui vẻ.

Bữa ăn của con nhỏ lâu nay, ở bất cứ đâu, chỉ là một gói lá xanh. Hồi này chị Mật phải đi vá lưới từ sáng sớm, tối mới về, và cấm con nhỏ không được ra khỏi nhà. Nó thích ngồi ở đầu bộ ngựa, mở gói ra gặm, gặm mệt thì ngã ra ngủ, ngủ đã, ngồi dậy gặm tiếp. Tới chiều làm gì cũng hết.

Sáng tới giờ, rán lắm, nó ăn hết một củ. “Sao chiều má về, má luộc thêm nhiều quá!” Nó thấy ớn lên tới óc. Nó liếc lên bộ ngựa, thè lưỡi:

“Bao nhiêu mà cậu Ba dám ăn hết lắm hả má!”

“Ừ, cậu Ba ăn nhiều, không phải như con đâu.”

“Con nhỏ, cậu Ba lớn. Cậu Ba đi lính rồi mà.”

Chị Mật đứng lên, lại nhìn về hướng chợ. Trời tối thiệt rồi. Chị kéo học tủ ra, khòm đầu xuống tìm diêm quẹt. Chị đi về phía kệ ván, rút lưỡi dao con chó cùn trong kẹt vách, khều cái tim đèn trứng vịt, xong chị bật diêm. Một thứ ánh sáng vàng mờ lan dần ra. Con Thường đặt chiếc khăn rằn lên bộ ngựa, chép miệng hỏi:

“Gần đi ngủ rồi sao cậu Ba chưa về vậy má?”

“Chắc cậu Ba đi chuyến chót.”

“Chuyến chót tới chưa má?”

“Ai biết, chắc chưa đâu.”

“Sao má biết chưa?”

“Ai biết.”

“Sao má nói chưa?”

“Ừ thôi! Đừng hỏi lăng nhăng.”

“Má chờ cậu Ba hoài sao?”

“Ừ, chờ hoài…”

Con nhỏ nghiêng nghiêng đầu:

“Cậu Ba không về đâu!”

“Bậy, sao con nói vậy?”

“Con sợ cậu Ba, cậu Ba ưa rầy con quá…”

Chị Mật phui đít ngồi xuống, đưa tay vò đầu con:

“Cậu Ba thương con, cậu Ba mới rầy con. Tại con không biết nên ghét cậu Ba.”

“Sao thương mà còn rầy?”

“Ai biết. Cậu Ba ẵm con hai ba năm trời chớ có ghét con đâu. Không được nói vậy, cậu Ba nghe buồn chết…”

Ba mất, rồi má mất. Không bao lâu anh Tỷ cũng mất, mất một tháng trước ngày “giải phóng” và con Thường được năm sáu tháng. Thằng Còn bỏ luôn nghề lơ xe về nhà, với cái ý tưởng mà thiệt tình cả hai chị em đều không muốn nói ra: “Về cho có chị có em, đùm bọc nhau trong thời buổi này.” Nhờ vậy, năm ngoái thằng nhỏ gánh luôn phần đào kinh của chị, mất hết mấy tháng trời, không than một tiếng.

“Cậu Ba thương con thiệt tình, mà cũng thương má nữa. Chút nữa cậu Ba về, thế nào cũng có mua đồ.”

“Mua cái gì má? Con khoái ổi xá lị.”

“Chắc cậu Ba mua ổi xá lị. Ở đó thiếu gì!”

Con Thường có vẻ vui, đi tới chỗ để cây đèn trứng vịt, kéo ghế đứng lên đó, với tay vặn cao lên một chút. Chị Mật quay nhìn nó, “thấy bộ dạng con nhỏ mà mắc tức cười. Quần thì cụt ngẳn, áo thì rộng rinh.” Chị lầm bầm:

“Đúng là con chệt!”

Rồi chị co hai chân lên, ngồi hẳn trên bộ ngựa, nhìm ngao ngán mấy dĩa đồ cúng. “Nó mà không về, bao nhiêu đây hai mẹ con ăn tới mốt cũng chưa hết!”

Ngoài sông, tiếng xe máy chạy xình xịch rồi lại có tiếng còi hụ. Chị Mật nghe mà thót ruột. “Ghe thực phẩm ở công trường xi măng về rồi, tức là chuyến xe tài chót ở Rạch Giá tới nãy giờ cả tiếng đồng hồ… Thằng Còn chắc không về thiệt!”

Con Thường rời khỏi ghế, nhẩy cò cò ra đằng trước. Bóng nó vừa khuất thì cũng vừa lúc nghe tiếng nó la lớn:

“Ông chú, ông chú Sáu…”

“Chú sáu Nông về, có thằng Còn không?” Chị Mật hấp tấp chạy ù ra cửa. Chị chưa kịp chào hỏi thì chú Sáu nói luôn:

“Chà! Hôm trước tao hỏi thăm không kỹ, nói với mày ba chớp ba nhoáng. Tao ghé chợ Sóc Xoài, hỏi thăm hai ba lần không ai biết ‘Đê ba mươi ba’ đóng ở đâu hết…”

Chị Mật lặng người. Hồi lâu, chị hỏi nhỏ:

“Vậy chú có hỏi cho biết tiểu đoàn thằng Còn đóng ở đâu không?”

“Không ai biết hết!”

Chú sáu Nông chà chà hai bàn chân lên khúc cây lót ngang cửa, tặc lưỡi nói tiếp:

“Tao có thấy, có lai rai lính địa phương, mà tụi này ở đâu bên Xà Tón qua, không ai ở Hà Tiên, Kiên Lương hết thì lấy gì mà hỏi thăm.”

Chị Mật nói cái giọng hơi hờn:

“Chú không hỏi được cái đơn vị đóng ở đây trước đổi đi đâu sao?”

“Mầy xuống đó mà hỏi!” Chú Sáu Nông lớn tiếng. “Cái con này! Mày hỏi lạng quạng người ta còng đầu mày liền chớ chơi sao. Chuyện nhà binh mà…”

Thấy ánh mắt chị Mật tối xầm mà xa vắng âm u quá, chú Sáu đâm thương hại:

“Thôi mầy! Thằng đó thì nhớ ngày cúng cơm bà già nó chớ. Không về được đúng ngày thì về trễ. Mai mốt nó về mà.”

“Chú nói. Tui muốn biết bây giờ nó ở đâu thôi. Còn ở xứ sở này thì thế nào cũng về.”

Con Thường lúc này kéo lệch xệch cái ghế đẩu lại bộ ngựa và bắt chân leo lên. Chú sáu Nông nói với nó:

“Coi chừng té à con. Mầy tính đốt đèn cùng ngoại mày đó hả?”

Chị Mật sấn lại, lôi con xuống, rồi quay qua chú sáu Nông:

“Thôi, chú cháu mình cúng cho rồi. Tui chờ hoài, mong cho có ai tới thì cúng. Một mình một thân mà cúng thì tủi lắm. Có chú đây, cũng đỡ…”

Thật ra thì chị chỉ chờ có mỗi thằng Còn. “Có hai chị em thôi, chờ ai bây giờ?” Chú sáu Nông rút một chân lên ghế, chép miệng:

“Ừ. Cũng hên là tao về kịp chớ đáng lẽ bữa nay là tao nằm đường rồi đó. Máy hư ở ngay khúc chùa Miên, sửa cả tiếng đồng hồ, tưởng đâu hết chạy.”

Con Thường không còn cái ghế nào, nó ngồi bẹp xuống đất, ngước mắt hỏi:

“Ông chú có thấy cậu Ba không?”

“Thấy đâu mà thấy?”

“Sao không thấy?”

“Ai mà biết. Thì tại không thấy!”

“Cậu Ba ở đâu?”

“Mày hỏi kỳ quá. Ông chú không thấy!”

“Cậu Ba đi đánh giặc phải không ông chú?”

“Ai biết.”

Chị Mật tựa cửa nhìn về hướng chợ. Trời tối om không thấy gì ngoài những ánh đèn chơm chớp. Chị đứng yên lặng thật lâu và quên khuấy đi mất nhang đèn đã sắp tàn. Chị không còn để ý đến câu chuyện đường xa chú sáu Nông đang say mê kể cho con Thường nghe. Cho đến khi tiếng ông vang vang:

“Chà, coi bộ hạ đèn được rồi à nghe. Nhang tàn gần hết rồi. Mầy đem ra sân cắm dưới chân bàn thờ ông Thiên đi Mật. Tao tắt đèn để dành mai mốt cúng quẩy gì, có mà xài…”

Chú sáu Nông dùng tay bóp mạnh vao ngọn đèn cầy đang cháy với cặp mắt thán phục của con Thường. Con nhỏ hối hả bê chưn đèn phía bên kia qua luôn:

“Ông chú hay quá, không nóng tay hả?”

“Không, ông chú quen rồi.”

“Quen gì?”

“Quen với lửa, quen cầm đồ nóng rồi.”

Chị Mật quay vô, hờ hững nhổ mấy cây nhang cắm trong lon gạo ra. Chị thẫn thờ thấy rõ. Chú Sáu Nông nói, như với chính mình:

“Cái con này! Nó làm như thằng kia đi không về là ở đâu rồi chắc!”

Chú cúi đầu suy nghĩ một chút, chép miệng tiếp, giọng nhỏ hơn:

“Mà thiệt tình không biết tin tức gì về thằng Còn hết.”

Chú theo chị Mật bước ra cửa. Ngoài trời tối, hai người ngó ra hai hướng khác nhau. Chị Mật vẫn như thói quen, nhìn qua chợ, còn chú sáu Nông nhìn ngược về mũi đèn. Xa hơn nữa, qua khỏi ngọn đồi đó là bên kia biên giới.

Chú lầm bầm:

“Bên kia biên giới. Biết đâu thằng Còn ở bên đó. Tội nghiệp.”

Chú quay lại. Chị Mật vẫn yên lặng nhìn về hướng chợ. Chị không biết đằng sau chị, chú Sáu lập lại trong bụng câu nói của chị hồi nãy: “Nó còn ở xứ này thì thế nào cũng về.”

Thiệt tình chú Sáu Nông chưa dám nghĩ tới chuyện thằng Còn không còn ở “xứ sở này” nữa, nhưng chú nghĩ tới hình ảnh một đạo quân xâm lăng, có thằng Còn trong đó cũng đủ phát ngán rồi. “Chắc gì nó còn về được!”

Chú bỏ mặc chị Mật ngoài sân, quay trở vô nhà đúng lúc con Thường móc túi lôi ra củ khoai và nhanh như chớp, bỏ vô trong mấy cái dĩa đã bày trên bộ ngựa.

Thấy chú vô, con nhỏ nhoẻn miệng cười bắt buộc chú cũng cười. Nhà lúc này còn độc nhất một cây đèn trứng vịt.


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Cổng Xóm Năm

VÕ HOÀNG

Lúc hai cái xe mười bánh nối đuôi nhau chạy vụt qua, bụi đỏ bốc bùng lên, bên này ngó bên kia không thấy gì hết. Bà mợ Năm lom khom bước ra khỏi ngưỡng cửa, nheo hai con mắt lại, quay về hướng chợ miệng lầm bầm gì đó nghe không rõ. Con Sượng đang ngồi trên ghế bố thõng hai chân xuống đong đưa qua lại lớn giọng nói vọng ra:

“Bà mợ ở đó mà ngóng. Nó đi chút xíu, nó dià chớ mắc mớ gì. Thây kệ nó.”

Nó nói mà con mắt cũng hướng về hướng chợ. Thiệt tình thì nó cũng nóng lòng thằng anh. Ở ngoài chợ chắc người ta xôn xao lộn xộn lắm, súng lâu lâu nổ đẹt đẹt. Hình như có một chuyện gì đó, khác hơn mọi hôm. Hồi sáng, anh nó, thằng Sùng đi la cà ở đâu, chút chút tọt về, nói đủ thứ chuyện. Nói người ta chen nhau đi đò xuống An Thới, nói mấy người lính Địa Phương Quân cãi lộn với Cảnh Sát Dã Chiến ngoài cầu Quan Thuế, nói giặc gần đánh tới chợ rồi.

Bà mợ Năm trở vô, gỡ cái khăn trên đầu, đập phạch trên cái ghế xấp, điệu bộ chán ngán. Bà nói với con Sượng mà như nói một mình:

“Ở ngoài lộn xộn lắm, nó đi mua mấy con cá mà mắc cái giống gì cả tiếng đồng hồ chưa thấy dià.”

Nói rồi co một chân lên ghế, tiếp tục ngó ra đường. Con Sượng từ sau cái hôm bị miểng đạn pháo kích ghim vô ống chân, mổ lấy ra rồi mà vẫn phải ở đâu ở một chỗ, nó sanh ra bực mình với bất cứ chuyện gì. Thấy bà mợ nãy giờ càu nhàu hoài cái chuyện thằng Sùng đi lâu quá không về, nó dài giọng:

“Bà mợ lo cho nó cái gì mà lo dữ vậy. Bộ nó đi lâu như vậy là nó chết chắc.”

“Mày biết cái giống đách gì.” Bà mợ Năm quay qua con Sượng. “Tao sợ nó nghe người ta rủ ren rồi nhẩy lên xe, lên ghe đi theo đó chớ.”

“Đi đâu, bà mợ nói nó đi đâu?”

Bà mợ Năm biết mình lỡ lời, quay qua chỗ khác. Bà thấy khó mà giải thích cho con này biết được cái nỗi lo của mình. Hồi lâu, bà hỏi:

“Mày đói bụng chưa? Tao luộc hột vịt mày ăn cơm nghe? Tao cũng muốn ăn cho rồi.”

“Luộc thì luộc. Ăn thì ăn. Mà còn chờ thằng Sùng về ăn luôn. Bà mợ muốn ăn trước thì ăn.”

Bà mợ Năm ngồi yên ngó ra đường. Hai dẫy tiệm tạp hoá bữa nay chỉ có một gian của chệt Hí là mở cửa nhưng không thấy ai mua bán gì hết. Chiếc xe lam của ông Thạch Ký cũng đâu mất. Con Sượng trườn người kéo cái gối để lên đùi, hỏi nhỏ:

“Phải giặc đánh gần vô tới chợ rồi không bà mợ? Làm như ai cũng muốn đi khỏi chỗ này hết vậy?”

Bà mợ Năm không đáp, lơ đãng ngó qua cái cửa sổ bên vách. Bên kia là ổ chứa. “Con mẹ Sáu” sáng nay không thấy mắng chửi ai hết. Bộ hết khách hết khứa rồi đâm ra buồn chắc. Mấy con điếm cũng không thấy ngồi hàng ba ca vọng cổ nữa. “Tụi này là qủi, tối ngày sáng đêm nó hiện lên nó báo cả xóm không ngủ được với nó. Ít bữa là có đánh lộn, ít bữa là có bắn lộn. Ở ngay cái cổng Xóm Năm này, mình có ngày chết vì bệnh đau tim.”

Bà mợ Năm bỏ ghế đứng dậy đi lần về phía bàn thờ. Trời bên ngoài chói chang nắng mà trong góc nhà tối mò. Bà lôi ra bộ đồ nghề ăn trầu và bưng trở lại ghế, chưa ngồi yên chỗ mà mắt đã ngó ra đường.

Một chiếc xe Jeep quen thuộc chạy ngược về hướng phi trường, tài xế vẫn là hạ sĩ Đức, đệ tử của tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 506. Ngang qua cái cổng Xóm Năm, rõ ràng bà thấy hạ sĩ Đức quay đầu ngó vô nhà “con mẹ Sáu,” lại còn bóp còi hai ba cái.

Tự dưng, bà thấy ghét cái bản mặt rỗ chằng rỗ chịt của nó. “Non nước này mà còn ghẹo còn chọc mấy cái thứ dơ dáy đó!”

Bà vừa mở nắp giỏ trầu, cúi đầu loay hoay têm, vừa nói với con Sượng:

“Mày có biết bữa nay là bữa lính Quốc Gia đầu hàng không?”

“Vậy hả bà mợ.”

“Ừ! Ông Quận đi máy bay trực thăng, bay ra biển rồi.”

“Vậy hả bà mợ.”

Bà mợ Năm chép miệng ngồi yên. Những điều bà biết được lúc ghé qua chùa Phước Thiện bổ thuốc, nói lại cho con Sượng nghe hết, mà sao nó không mấy ngạc nhiên.

Trong một lúc các ý nghĩ bị kéo dần ra rồi bị buông nhập lại bất ngờ quá, bà mợ Năm quên rằng con Sượng dẫu gì cũng mới mười một mười hai tuổi đầu, nó biết chó gì tới cái chuyện đổi thay to lớn sắp tới, trách nó, bực nó làm sao được.

“Lát nữa bà mợ đẩy cái ghế bố tới gần cửa, con ngó coi Việt Cộng nó ra làm sao.”

“Thì nó cũng giống như mình thôi.”

“Nó có đuôi không bà mợ?”

“Bậy, nó cũng giống như mình thôi. Nó bắn mày bị thương đó. Nó bắn bể cây cột đèn trước chùa đó.”

“Vậy hả bà mợ.”

“Ừ.”

Bà mợ Năm chợt nhớ tợi thằng cháu. “Hổng biết lúc này nó đóng ở đâu. Xui xẻo mà đụng trận mấy cái lúc này thì oan mạng lắm. Cả năm rồi không thấy nó dìa phép.” Con Sượng chợt hỏi:

“Rồi cậu Ba cũng phải đầu hàng luôn hả bà mợ?”

“Ừ,” bà mợ Năm đáp nhẹ.

“Cậu Ba nói cậu Ba đánh giặc hay lắm mà. Cậu Ba nói cậu Ba ở trên máy bay nhẩy xuống rồi mới bắn, phải không bà mợ? Rồi cậu Ba đầu hàng là được dià đây ở phải không bà mợ?”

“Ai biết đâu. Mày hỏi nhiều chuyện quá.”

Có mấy người lính Dân Vệ quen mặt không biết đi đường nào mà ba lô súng đạn đầy đủ từ trong con đường mòn đi ngược ra cổng, điệu bộ hấp tấp lắm. Tiếng một con điếm nói vọng ta, chói lỗ tai:

“Anh Ba Lành bữa nay đi ngang mà không ghé sao hè!”

Mấy người lính không một người nào ngó vô, cũng không thấy đáp lời lại. Bà mợ Năm nghe tiếng “con mẹ Sáu” lải nhải gì đó với mấy con điếm. Một chút sau, nhạc ở trong radio vọng ra. Người ta ca như hét như la, bà mợ Năm không nghe rõ được câu nào.

Một tràng súng liên thanh ở đằng hướng chợ cá nổ giòn, lằn đạn đi đúng về hướng này, thấp lắm. Bà mợ Năm nghe nóng hừng hực trong lồng ngực, bà bước vội ra cửa. Một người lính Dân Vệ hấp tấp mở cái dây chạc đầy nhóc băng đạn đặt nhẹ xuống đất, rồi tiếp tục đi. Cạnh đó, cũng có một cái ba lô của ai, no tròn, nằm chỏng gọng. Người ta đi ngang qua, liếc con mắt một cái rồi thôi.

Bà mợ Năm ngó ngược về phía phi trường, có một vết bụi bốc lên chạy dọc theo con đường đất đỏ từ trong ấp Nùng ra. “Chắc xe nhà binh.”

Bà đứng như vậy thật lâu, cho tới khi chiếc xe nhà binh chạy vụt qua. Trên xe đầy nhóc lính, những cái khăn quàng mầu xanh dương bay phất phới, người đông như vậy mà ai cũng im lặng.

Ở cái cổng, bóng mát của ngọn dừa phía bên trái nhà “con mẹ Sáu” đổ qua đúng về cái mặt tiền ngó ra đường một khoảng lớn, lỗ chỗ. Con điếm tóc bom-bê thường ngày hay mặc áo bà ba đỏ, bữa nay mặc cái áo cánh sát nách đứng dựa ngửa theo chiều nghiêng của cây chống cổng, khoanh tay ngó bâng quơ ra đường. Bà mợ Năm chợt ngó thấy, hịt mũi, bỏ bộ định đi vô nhà. Có tiếng “con mẹ Sáu”:

“Cái này của ai đây, Gấm?”

“Biết đâu! Chắc mấy ông Dân Vệ hồi nãy.”

Bà mợ Năm ngó qua. “Con mẹ Sáu” đang cúi người hì hục lôi cái ba lô đầy nhóc vô một góc cổng. Với điệu bộ cẩn thận, con mẻ nhắc cái dây ba chạc lên, chầm chậm mang nó đăt cạnh cái ba lô. Hai trái lựu đạn hai bên móc gài đong đưa thấy mà ớn.

Thêm một con điếm nữa ở trong ra, đứng lại một lúc rồi cùng với “con mẹ Sáu” băng qua đường, sấn vô tiệm chệt Hí, vừa đi vừa ngả ngớn.

Bà mợ Năm lại ngóng về hướng chợ. “Thằng Sùng nó đi đâu mà kỳ cục quá, biết người ta trông ngóng mà không về sớm sớm.” Có tiếng đàn ông gần lắm:

“Bữa nay lính mình bỏ đồn hết trơn rồi đó nghe bà Năm.”

Ông Nghiệp hớt tóc dạo đặt cái hộp đồ nghề xuống, đưa tay quệt mồ hôi mặt, rồi lần túi áo móc thuốc hút. Bà mợ Năm quay lại:

“Ủa, chú Tư.”

Rồi bà không nói gì thêm nữa. Bây giờ đã có thêm năm bẩy người nữa đứng tụm vô cái bóng mát ở trước cổng, nói chuyện xì xào. Từ hướng phi trường, một hàng lính Tiểu đoàn cặp sát lề đường đi như chạy trở ra, người nào cũng có súng. Trong vài phút đồng hồ, kể từ khi bà mợ Năm nhìn rõ mặt được người lính đầu tiên cho tới lúc họ đi ngang qua cổng, đầu óc bà miên man không rõ được là mình đang nghĩ tới cái gì.

“Ừ, lính mình bỏ đồn thiệt.”

“Chớ tui nói chơi với bà Năm sao! Tổng thống kêu lính mình không được bắn mà.”

Bà mợ Năm nhướng mắt nhìn Tư Nghiệp, giọng nhỏ lại:

“Ở đâu cũng vậy hết sao chú Tư?”

“Ở đâu cũng vậy!”

“Thiệt tình là ai cũng biết công chuyện nó đã tới nước này, nhưng ai cũng muốn được nghe người khác nói lại, nói hoài.”

Hàng lính đi nỗi lúc một nhiều thêm, hai ba tốp gặp nhau đâu ở gần phi trường rồi kéo ngang qua đây, ngõ duy nhất tuôn ra biển. Mang bảng xanh là ấp Nùng ra, bảng vàng trên đồi trọc, bảng xanh lá cây ở Tiểu đoàn, bảng đỏ ở Gành Gió.

Mặt trời dần xế chiều rồi, “không biết lệnh lạc ra làm sao mà lính tới giờ này mới chịu bỏ đồn, chứ ông Quận thì đi hồi sáng sớm.” Ở ngoài đầu cồn, có nhiều loại súng thi nhau nổ, đụng nhau không chừng.

Hàng lính còn dài quá. Bà mợ Năm chưa muốn trở vô nhà. Bà lách người khỏi Tư Nghiệp, bước hẳn ra đường, ngó cho trọn.

Thiệt là kỳ, hồi nào tới giờ, có khi nào bà cảm thấy cái thị trấn này nó nhỏ lớn ra làm sao đâu. Tự dưng hôm nay, bà biết rõ từng chút những khoảng rừng thưa, những khoảng đồng tranh bao vòng thị trấn.

Để coi, tốp lính mang bảng xanh đi hết rồi là từ bờ sông trái cửa ấp Nùng ra tới lò rèn “ông Quốc Quân” bỏ trống, rồi tốp bảng đỏ mà ra tới đây thì cái đuôi ít nhất cũng lọt vô phi trường. Giờ này còn ai dám hẻo lánh tới con rạch chạy vòng chân núi chùa ông Phụng. Ba bốn chỗ bỏ hết, kéo ngang qua đây. Cuộc sống, đối với bà Năm lúc này, rõ ràng mỗi lúc một nhỏ tóp lại.

Làm sao bây giờ? Bà mợ Năm ngó qua hết thảy mọi người chung quanh, có vài người quay lại nhưng không ai nói gì cả. “Đông mà yên lặng như vậy cũng ít thấy, chớ không phải chơi đâu!”

Ở cái cổng Xóm Năm, người ta đứng lan ra tới ngoài nắng. Vài người lính nhìn thấy “con mẹ Sáu” thì sà vô, lời qua tiếng lại vẫn với vẻ hối hả. Một anh đeo bảng vàng nói ong ỏng:

“Má Sáu mua cho tụi này ít gói thuốc coi, được hông? Xả láng với nhau cú chót đi.”

Rồi hai ba người khác phụ theo, hàng lính tự dưng um sùm lên:

“Chơi cho đẹp đi!”

“Có con nữa nghe má Sáu.”

“Con nữa.”

Bà mợ Năm quay qua Tư nghiệp:

“Thiệt, hết ai rồi mấy ông nhè con mẹ lủng đó mà xin. Mắc tức cười.”

“Ừ. Mấy ổng nói chơi mà!”

Bên kia đường đối diện với cổng Xóm Năm, “con mẹ Sáu” bắt đầu lên tiếng. Trong đám hỗn loạn, tiếng con mẻ nghe lồng lộng. Có thêm hai ba con điếm nữa chút xíu chạy vô tiệm chệt Hí rồi mang ra đủ loại thuốc hút, mì gói, bánh ú.

“Đứa nào muốn bánh ú thì có nghe. Thằng Thành đây, tao biết mày khoái Bastos Luxe. Tao gởi ít gói cho thằng Biệt, nó đâu rồi? Hộp quẹt hả, chờ chút xíu. Mày lấy cái hộp quẹt có chưa vậy Gấm, cái con qủi cái này.”

Hàng lính ngang qua cổng ít ai không dừng lại. Bà mợ Năm cảm thấy có một chút gì đó gượng gạo trong thái độ của những người lính, rồi thêm giọng nói thảnh thót của “con mẹ Sáu”, cùng với cái cảnh hỗn tạp mà xót xa quá cho tất cả mọi người hiện diện. Đầu óc như quay cuồng, bà nói với Tư Nghiệp:

“Lính mình bỏ đồn hết rồi.”

Thấy mợ Năm bước vô nhà, con Sượng đang nằm ngồi bật dậy:

“Thằng Sùng dìa chưa bà mợ?”

“Chưa. Mà kệ bà nó.”

“Bà Mợ biết nó ở đâu hông? “

“Đừng hỏi lảng lảng. Tao nói kệ bà nó!”

Có thêm mấy loạt súng nổ ở phía chợ cá, lần này thì đạn bay về hướng khác rồi chắc, không nghe tiếng rít. Bà mợ Năm kéo cái ghế xếp tới gần cửa nhà, ngồi quay lưng vô, ngó ra ngoài. Lúc này chỉ còn lưa thưa vài người lính mang bảng đỏ cố đi thật nhanh ngang qua nhà. Người ta vẫn còn đứng đầy khoảng đất cát trước cổng.

Tiếng “con mẹ Sáu” bên kia:

“Thằng nào còn một mình ênh ở tuốt đằng kia vậy kìa, giống như thằng Canh. Nó nằm bệnh viện mà, về đồn hồi nào vậy?”

Một người lính trả lời lí nhí mấy tiếng xong thì hối hả đi. “Mẹ Sáu” quay qua con Gấm:

“Mầy lấy thêm ít gói Capstan, tao đưa thằng Canh. Tội nghiệp thằng này lắm, nó biết điều.”

Bà mợ Năm nheo mắt nhìn qua bên kia đường, bóng dáng con Gấm xen vô rồi mất hút trong đám người đứng trên thềm tiệm chệt Hí. Bà quay về hướng phi trường. Người lính, có lẽ là người lính cuối cùng, bệnh hoạn chầm chậm bước, trên người không mang theo gì khác ngoài khẩu súng cầm tay.

Bà im lặng, thở nhè nhẹ. Bà chợt phát giác ở bên kia đường, cả một khoảng đường ở cổng Xóm Năm, ai cũng im lặng.

Bà mợ Năm giữ mãi cái thế ngồi đó, miệng cũng thôi nhai trầu, bà không ngó người lính mà ngó xuống vệt nắng, lúc đó, đã xế ra tới giữa đường, như một lằn ranh giữa cái còn và cái mất.

Người lính từ từ đi qua khỏi nhà bà mợ Năm, cuộc sống từ từ đi qua khỏi nhà mợ Năm, khỏi cổng Xóm Năm, sau khi ngừng lại một chút ở chỗ “con mẹ Sáu.”


Trong Lòng Cách Mạng, truyện ngắn Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Măng Đầu Mùa

VÕ HOÀNG

Có lẽ con bé nghĩ rằng từ đây tới nhà, hết lối mòn này thế nào cũng bắt được một chú chuồn chuồn nên vừa bước qua cây cầu ván đã móc vội chiếc lọ cầm sẵn ở tay, chiếc lọ bé vừa nhặt được ở cổng trường. Sáng nay, trời có chút nắng ấm như chia cùng bé một chút niềm vui.

Sao con đường mòn đẹp lạ lùng! Cho tới những hòn đá cuội thường ngày dơ bẩn, đáng ghét đến độ bé phải tránh né và đi trên lề cỏ bất chấp phân bò, hôm nay bỗng dưng được nhuộm ướt đẫm sương và chiếu ngời dưới nắng sớm. Bé nhặt vội một mẩu đá tròn dẹp và vàng như chiếc kẹo cam cho vào lọ, “để chút nữa chuồn chuồn đậu…”

“Thầy mầy cũng nghỉ hả Hiền?”

Con bé thoáng giật mình, thằng Tề từ đàng sau sấn đến ôm chầm lấy vai bé, nó thở hổn hển rồi tiếp:

“Cô tao cũng nghỉ, thầy Hiệu Phó biểu chiều nay mỗi đứa đem vô một cái bao để xuống bãi lấy cát về đổ sân trường. Tao thấy thầy mầy dắt xe đạp, cột tới ba cây cuốc.”

Con bé vùng khỏi tay thằng Tề:

“Đừng! Mầy đi sau tao, để tao bắt một con chuồn chuồn,” bé vừa nói vừa cho chiếc lọ vào túi.

“Để làm gì? Mầy về đào trùng, chút nữa tao với mầy chun rào qua trường Chệt câu cá. Bữa qua thằng Hợi câu được một con cá trê bự lắm, với hai con cá rô nhỏ.”

“Nội tao hỏng cho đâu!”

Thằng Tề đứng sựng lại, cụt hứng. Lâu lắm nó mới chầm chậm bước theo sau con bé. Vài con chuồn chuồn kim bay nhởn nhơ nhưng không con nào chịu đậu thành ra con bé có vẻ chán và đi hơi nhanh. Những đám mưa từ tuần trước vẫn còn làm đọng nước từng khoảng dưới con mương chạy dài theo lối mòn. Con bé biết mình cũng sẽ chỉ đứng nhìn thôi khi có chú chuồn chuồn nào đậu trong khoảng đó. Đột nhiên, con bé cảm thấy rõ ràng thằng Tề tới làm phiền mình quá và không giúp gì được, bé quay phắt lại:

“Mày trả lại tao cái nút ve bữa trước mượn.”

Đi được thêm mấy bước, thằng Tề lại giựt mình, trợn trừng đôi mắt. Nó nhận ra con bé hôm nay hơi lạ lạ nên không nói mà chỉ kịp đứng ngơ mắt nhìn, dáng dấp thiểu não. Con bé hối hận ngay, nhỏ giọng:

“Chiều đi vô trường, mầy ghé qua nhà tao, kêu tao đi với nghe.” Xong, bé nhìn thẳng vào mắt thằng Tề.

“Tao kiếm nút ve hoài, hổng có. Tao đền cho mầy hai cái lon sữa, vài bữa làm bo bo qua trường Chệt thả.”

Con bé lại quay đi. “Trường Chệt, trường Chệt hoài, đã biểu Nội hỏng cho qua đó!” Lúc trước một lần, mon men dọc hàng rào trường câu cá dẫm phải kẽm gai, vết thương làm độc cả tháng mới hết. Bé khóc vì đau, rồi Nội khóc vì thương bé, thằng Tề đâu có biết chuyện đó!

Con đường mòn như dài thêm ra, hai đứa không nói gì thêm nữa. Thỉnh thoảng thì hay có chuyện “không lành” với nhau như vậy. Thường thì mỗi buổi sáng, con bé thức dậy và ra đường sớm hơn. Bé phải đợi một lát thằng Tề mới lù lù tới rồi y như, nó kiếm đủ chuyện nói để mong con bé quên rằng nó tới trễ. Bé thật sự không dám giận thằng Tề nữa, vì nhiều lần rồi, con đường dài nửa tiếng đồng hồ đến trường mà không được nói chuyện với ai, bé buồn cả ngày hôm đó. Vậy mà hôm nay, bé thấy ghét nó quá.

Tới ngã rẽ, thằng Tề vụt chạy nhanh lướt qua con bé, nó quay vòng một cánh tay:

“Chút nữa tao qua mầy.”

Con bé không thèm lên tiếng, đi nhanh hơn. Tới cổng rào, con bé móc chiếc lọ đặt lên cây trụ xi măng với vẻ hằn học, tháo trút. “Thằng Tề này, làm người ta không bắt được con chuồn chuồn nào hết. Chiều nay thế nào cũng… hỏng thèm nói chuyện.” Bé dùng chân đạp cửa cổng sắt rỉ sét trong một điệu bộ nghịch ngợm và bước thẳng về phía hàng chùm ruột, khòm người nhặt những trái còn tốt nhất cho vào túi rồi lửng thửng bước. Ngang qua cây mận, bé đưa tay đập phành phạch vào những nhánh lá ve ra cạnh đường. Bao nhiêu bực bội lúc nãy tan biến, con bé cảm thấy cây lá xôn xao. Từ bụi hoàng điệp tới hàng tứ quý, rồi đám mẫu đơn, tất cả như vẫy tay chào bé.

“Nội ơi! Nội thức chưa Nội?”

Con bé đang mở bung cánh cửa chợt ngưng tay. “Cửa bếp mở mà Nội không có trong nhà.” Con bé gọi lớn hơn:

“Nội ơi, Nội!”

“Ngoài này nè, Hiền. Con trốn học hay Thầy nghỉ?”

“Nội ở đám bù ngọt mà nãy giờ không thấy.” Con bé lôi ra một trái chùm ruột đưa lên miệng thổi vài hơi cho sạch cát bụi, bỏ vào miệng.

“Thầy nghỉ, Nội!”

Bé sà xuống cạnh ông cụ, hớn hở và không nhìn thắy ông cụ thoáng cau mày. Ông lầm bầm:

“Tuần này nghỉ hết ba ngày.”

“Mà chiều nay con cũng vô trường. Thầy biểu đi lấy cát. Nội đổ khoai ra cho con lấy cái bao, nghe.”

Ông cụ im lặng một chốc, thở nhẹ:

“Hiền nè, con còn nhớ đường đi qua nhà ông bác Tư không? Nội nhớ đã dắt con đi hai ba lần rồi.”

“Nhớ, Nội,” con bé nhanh nhẩu. “Đường đi qua chợ cá, tới cầu ngang quẹo mặt, đi dọc theo mé sông, đi khỏi mấy đám cây, gần cái lạch. Nhà ông Bác có nhiều dừa, con biết.”

“Ờ! Nhưng mà ăn cơm xong hãy đi, không có con đói. Đây qua nhà ông bác Tư xa lắm đó. Con vô bằm khoai trộn nửa chén gạo bắc lên bếp, ông đi bẻ đậu bắp chút nữa hấp.”

“Ăn với tương nữa, hả Nội?”

Không cần chờ nghe trả lời, con bé đứng dậy đi liền. Được vài bước, bé co một chân, nhảy cò cò lên những chiếc lá khô vương vãi khắp mặt đất. Ông cụ ngoái nhìn theo cố nén một tiếng thở dài.

Tội nghiệp con bé, mười một tuổi đầu đã phải cáng đáng nhiều thứ việc. Ông thương cháu nhưng không làm sao khác hơn được. Những ngày mùa nắng, còn có thể đi làm kiếm thêm ít tiền, ông ra đi từ sớm khi con bé hãy còn ngủ, để lại nhà trăm thứ việc như một kiểu buông xuôi, con bé đi học về thì lần lượt làm hết. Đêm về nghe con bé tự khoe, nào là “con giặt hết hai bộ đồ của Nội,” nào là “con chùi cái ấm nước bóng như mới mua,” nào là “lúc này con gánh mỗi đầu được hơn nửa thùng nước.” Con bé tưới cây không sót một gốc, không bỏ một buổi suốt mùa nắng. “Nội thấy hông, mấy chậu lan của Nội trưa nắng mà không héo lá, còn đâm đọt thêm nữa.”

Bằng cái sức lực đã quá tuổi lao động, ông cụ làm đủ thứ công việc suốt hai ba năm nay mà chưa lần nào dám nghĩ sẽ mua cho con bé một món đồ chơi. Con bé cũng biết “nội Nội mua gạo không, cũng đã hết tiền rồi.” Con bé cũng biết “có dư, Nội trả dần dần cho bà Dì Tư, để thiếu hoài kỳ lắm.” Con bé biết gần hết những thứ mà thỉnh thoảng vui miệng, ông cụ thố lộ một cách cởi mở, không dè dặt đối với một đứa bé về những khó khăn đang gặp. Ông cụ chỉ nghĩ một điều, ít ra con bé cũng là người để ông tâm sự và độc nhất trong nhà này.

Nhưng con bé không thể biết được một điều, bắt đầu từ mùa mưa này, ông cụ sẽ không còn đủ sức làm thêm bất cứ công việc gì để kiếm ra tiền. Ông lo nghĩ mãi một chuyện và ân hận trước đây đã không đánh liều mua cho con bé “hoặc là một con búp bê, hoặc là một đôi guốc bông” như con bé thường ao ước, mỗi món giá bằng bốn ngày công đi làm.

Trong một trường hợp nào đó, khi mà tâm tư vừa trải qua một sự giày vò, xao động, ông mới chợt nghĩ đến thằng con và hai đứa cháu trai ở một nơi xa lắc, ông không mường tượng ra được nó nằm từ hướng nào trong căn nhà buồn thảm – theo ông nghĩ – này. Gần ba năm, con bé lớn lên với cái chăm sóc vá víu của ông sau những công việc mệt nhọc và những cơn bệnh theo hạn kỳ hành hạ. Nhiều lần, ông chịu không thể giải thích thế nào cho con bé hiểu được sự vắng mặt của cha mẹ và hai em nó. “Hai em còn nhỏ phải theo cha mẹ, con lớn ở nhà với Nội, nấu ăn cho Nội ăn chớ!” Con bé không quen thắc mắc nên không hỏi tiếp. Đôi lúc nó thở mạnh, “Ở chỗ hai em Kha chắc nhiều đồ chơi lắm…” Xong nó đâm ra bực mình với thằng Tề thỉnh thoảng sang chơi, nó giữ gìn thật kỹ các món đồ, từ cái cân tay bằng nhựa đến mấy món dùng nấu bếp bằng nhôm đã xám xịt, dơ bẩn. Thằng Tề bỏ lạc mất của nó một món, nó biết ngay.

Ông cụ thở dài chống hai tay vào gối uể oải đứng gượng dậy. Sự mệt mỏi của một ngày mới giờ này đã bắt đầu lấn vào người ông.

“Cơm bắt đầu sôi rồi, Nội ơi. Nội đem đậu bắp vô đi.”

“Con đậy nắp lại đi. Nội thấy đậu còn non quá, bẻ uổng lắm, nên thôi.”

Con bé bỗng phác giác ra ông cụ đang bị chứng mệt đuối lâu nay vẫn thường hành hạ. Mặt ông tái xanh và hai tay buông thõng xuống, con bé hốt hoảng:

“Nội vịn vô con, Nội vô nhà nằm đi.”

Vịn làm sao được, để hai ông cháu lăn đùng ra đó à? Ông cụ nhếch môi như muốn nói điều gì lại thôi. Con bé chạy bay vào nhà, dọn thật nhanh chiếc ghế bố xếp ở một chỗ thoáng nhất. Ông cụ ôm chầm lấy bé và ngồi phịch xuống ghế.

“Con ăn cơm xong nhanh, đi ngay qua nhà ông bác Tư nói với ông kiếm cây thuốc cho Nội, nói vậy là ông bác biết.”

“Dạ. Nhưng mà chưa có gì… ăn hết, Nội.”

Ông cụ nín bặt, ông quên phắt đi điều đó. Dù sao thì con bé cũng để ý và nghĩ tới những món ăn thường ngày, vì hình như hồi này con bé ngán ngẩm các món lá cây, đậu trái luộc chín… Nhưng biết làm sao hơn?

Còn bụi măng tre sau nhà! Ông cụ nhắm nghiền đôi mắt lại. Đã một mùa mưa qua, ông không đủ can đảm chừa lại một mụt măng nào để kéo dài đời sống cho bụi tre. Từ lúc thức ăn trở thành một thứ nhu yếu phẩm độc nhất, mỗi mụn măng tre bán đi được giá bằng nhiều ngày làm việc và những ngày ông phải nằm bệnh, ông đem nó thế vào khoảng thiếu hụt đó. Bụi tre qua một năm bị đẽo gọt hết mầm sống, già đi trông thấy. Mùa này thì ông cụ nhất định “ít nhất cũng chừa cho nó ba mụt lên cây, không có nó chết, nhất là mụt măng đầu mùa…”

“Con đi hén, Nội. Chút nữa thằng Tề qua, Nội nói nó chờ con về rồi vô trường luôn, nghe Nội. Con lấy dép Nội mang nghe, trưa nắng nóng chân lắm.”

Con bé không biết vô tình hay cố tình, không nhắc lại món ăn cho buổi trưa này. Thật ra là buổi cơm của bé, vì Nội bệnh, không ăn được cho đến chiều. Bé biết thế.

Ông cụ bất chợt thở dài:

“Hiền nè, khỏi đi ông bác Tư con, mai mốt cũng được.”

Con bé hơi chút ngạc nhiên:

“Sao vậy, Nội?”

“Con ra lấy cây dao găm Nội để cạnh thùng củi, lên bụi tre cắt cái đọt măng non, cái măng lớn nhất. Đừng sắn dưới gốc, nghe con, chỗ đó già cứng lắm con sắn không nổi đâu, ở trên đọt thôi, mai mốt Nội mạnh, Nội cắt phần còn lại.”

“Xào ăn hả Nội?” Con bé hí hửng. “Măng đầu mùa, chắc ngon hả Nội?”

Con bé quay đi, không thấy ông cụ cố ngồi gượng dậy nhìn theo bóng dáng gầy guộc của con bé, tay lăm lăm chiếc lưỡi lê, kỷ vật của thằng con để lại đi nhanh về phía sau nhà. Ông chép miệng:

“Đã đến lúc không làm sao khác hơn được, đành vậy!”

Ông hết muốn nghĩ gì thêm và nhắm nghiền đôi mắt mệt mỏi lại, vẫn không cảm thấy lòng thư thái.


Măng Đầu Mùa, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Sóng Nước

VÕ HOÀNG

MỘT

Ba bốn ngày liên tiếp, mưa có lúc dịu bớt nhưng không chịu ngưng. Mưa xối xả, mưa ầm ì sấm chớp rồi mưa rả rích dai dẳng giữa trời đất tối om om. Mưa làm tả tơi cây cỏ, đất nổi bong bóng rồi gió tuy không lạnh mà ào ào át cả tiếng sóng biển lâu nay ngự trị, suốt năm suốt tháng. Ai đời khoảng giữa tháng mười rồi mà trời nổi giông, nổi gió như thế này.

Người ta nói với nhau về chuyện “Ông lụy” mấy hôm trước, người nghe mường tượng đâu đó tiếng âm binh kêu gào than khóc, ai cũng thấy não lòng.

Lão Một cũng thấy não lòng. Ai không biết vì sao chớ bà vợ lão thì biết rõ. Suốt một ngày hôm kia, lão vác chài đi từ sáng tới tối mang về được ba bốn con bống mú bằng hai ngón tay, lão cằn nhằn và thú nhận đã định quăng đi vì mắc cỡ. Bị cái chứng gì mà nước dâng đùng đùng, bọt nổi trắng nước vẫn cuốn chài không cả buổi.

Làm sao mà chuẩn bị cá mắm cho kịp với cơn giông bất thần kỳ lạ này? Bà vợ thì không thích ăn khô mặn, cũng không thích ăn trứng luộc, đã không ngon lành gì lại mắc quá đâm ra chú trọng tới cái chuyện ông chồng chài suốt ngày mấy con cá, lải nhải mãi đến hôm sau vẫn chưa chịu thôi.

“Bà coi, mai mà không bớt gió làm gì tui cũng rủ Cả Thọ lòn ra cửa, thưng một mẻ…”

Mai, là ngày hôm nay đây. Lão Một cũng đã rủ được Cả Thọ đi cùng. Vậy mà bà vợ đâm lo:

“’Ông lụy’ mấy hôm trước, chắc giông gió thêm ít ngày nữa cũng dứt, ăn khô mặn cũng được. Ông nó đừng làm liều, năm nay chưa có chiếc ghe nào chìm hết đó, phải coi chừng…”

“Nói gở! Nói gở!” Lão Một gắt. “Trời này mà có một ‘cần xé’ cá đụt là quí như vàng. Xế xế là bận áo mưa, đi coi tui ra cửa nè. Giông nhỏ mà!”

Giông nhỏ mà dai, thổi không ngớt ngọn. ‘Ông lụy’ mấy hôm trước ở Gành Gió, mình lớn hơn thùng phuy đã được liệm và chôn gần Miếu Bà, Cả Thọ có đi coi về kể lại và lấy làm ngạc nhiên lắm:

“Làm sao biết được là ‘Ông,’ chú Sáu? Sao tui thấy giống cá lúp, cá nược, cá heo.”

“Bậy mầy! ‘Ông’ là ‘Ông’ chứ gì mà cá nược, cá lúp! Mầy dân miệt ruộng làm sao biết được. Hễ ‘Ông lụy’ thì trời làm giông hai ba ngày, ba bốn ngày liên tiếp vậy đó. Nhiều khi người ta thấy làm giông dai quá thì chia nhau đi dài theo biển kiếm, ai thấy ‘Ông’ trước phải để tang.”

“Mà ‘Ông lụy’ năm sáu ngày ruồi cũng không bu phải không chú Sáu? Tui nghe người ta nói.”

“Ừ, ‘Ông’ đi ngoài biển có cặp cá đao theo phò. Hễ ai gặp nạn, gõ lườn ghe ba tiếng, ‘Ông’ tới đưa vô bờ. Hồi trước tao có thằng cháu kêu bằng Cù được ‘Ông’ đưa một lần. Dân miền Trung kêu là Ông Nam Hải, bà con vùng này chỉ kêu là ‘Ông’…”

Cả Thọ nhớ lại, Dinh Bà có cặp đao dài gần ba sải tay, biết chắc rằng con cá đao đó dài ít nhất cũng sáu bảy sải tay, vị chi là mười thước thì lè lưỡi.

Lão Một thì chỉ thắc mắc có một điều, giông chướng ban ngày thổi chắc là không nói làm gì, sao giữa khuya đổi qua “mặt trời,” gió nhẹ hơn nhưng không đều. Chính cái gió này lão sợ hơn hết vì đúng vào lúc lão sẽ vô cửa. Cái thứ gió đâm hơi này làm sóng đi bậy, lão sợ chế không kịp. Nhưng dù thế nào thì cũng phải đi. Lão nói với vợ mà như nói với chính mình:

“Ra cửa cũng gian nan lắm chớ phải chơi đâu!”

Bà vợ cột cái nắp nồi bằng sợi dây bố, ba bốn nuộc mới an lòng và đưa cho Lão Một.

“Ông cắt dây mà mở nắp, tui sợ sóng đánh thì đổ hết. Nhớ bỏ hai cây muỗng vô hộp.”

Cả Thọ cũng vừa cài xong hai cái móc câu đè đống phao lưới xuống thật chắc rồi ra mũi ngồi hút thuốc mặc cho mưa rỉ rả hắt vô mặt. Cái áo mủ chỉ che phần trên người. “Phần dưới không cần, ướt quần thì ướt.”

Ở trong sông mà cũng có sóng bạc đầu, nước chảy cuồn cuộn, chà cây trên nguồn đổ xuống theo giòng nhấp nhô như những con rắn ngụp lặn dưới nước. Ngoài cửa chắc sóng ghê lắm. Cả Thọ thật ra không mấy hứng thú lắm trong việc đi thưng lưới lúc này với Lão Một, nhưng nghĩ tới món tiền sẽ có được, nếu đúng như lời lão nói thì cũng cam tâm.

Lão Một tự tay quay máy rồi mở dây xô ghe ra, Cả Thọ chỉ ngồi nhìn vì nghĩ rằng công việc không có gì khó khăn lắm. Ghe dài năm sáu sải tay, Lão Một chỉ xô mạnh một lần, ghe trôi ngang ra giữa giòng. Bà vợ bước trở lên nhà dặn mấy đứa nhỏ vài câu xong, trùm tấm mủ đi nhanh về hướng cửa biển.

Ngang qua chợ cá, vắng tanh người. Dưới bến, những chiếc ghe hàng từ đất liền tới nằm im lìm chịu đựng cơn mưa dai dẳng mấy ngày nay chưa bốc hàng lên được. Người ta chịu đựng đủ mọi thứ dưới cơn giận dữ của trời đất. “Ở miền biển sao có nhiều chuyện kỳ cục, chớ ở xứ mình, giờ này nếu không nắng cũng đâu có mưa, những ngày này là những ngày phơi cải làm dưa mà…” Cả Thọ thấy nhớ nhà ghê.

Tới rạch Ông Chi, hai bên bờ người ta hé cửa nhà nhìn ra sông đều hay biết. Lão Một hôm nay đi thưng lưới, ai cũng lấy làm ái ngại.

“Tóm chèo nghe Cả. Ra tới cửa khi nào tao bắt vô lạch thì mày dọc chèo ghe, bên trái thôi, núp trong sóng cũng được. Ăn thua tao chế hà!”

Cả Thọ im lặng làm theo lời Lão Một, tóm chèo trái xong ngồi bẹp xuống cạnh đó, nghĩ tới một mẻ lưới đầy cá thì tự nhiên nhịp nhịp giò, quên cả lạnh. Sắp tới rồi, đây ra tới Kiến Vu còn xa mà không biết phải làm gì. Cả Thọ cảm thấy mình thừa đi suốt chặng đường. “Ra cửa xong, xuống hầm nghỉ một giấc cho đã!”

Vợ Lão Một đứng dưới chân tượng Đức Mẹ, gió thổi tốc tấm mủ che mưa, trông giống như những chiến sĩ thời cổ La Mã đứng dưới chân một tượng thần linh khổng lồ. Bà vừa thấy dạng chiếc ghe Lão Một lú ra khỏi cua quẹo đầu cồn thì lùi xuống đi lần về Gành Cậu. Ở đó cao, có thể trông ra xa được. Không nói ra lời chớ trong thâm tâm, bà lo lắm.

Tới đầu cồn thì đã có sóng, sóng ngay giáp nước theo ngọn tràn vào và nước trên nguồn theo giòng đổ ra. Nước xoáy trông thấy rõ. Lão Một bớt nhỏ ga, kiểm soát trong trí tất cả mọi thứ cần thiết trong vòng vài chục giây đồng hồ. Lão liếc vội về phía Cả Thọ đang đứng lom khom, mông tựa hầm máy, chân đạp tấn vô be, mặt hết sức bình thản. Cả Thọ đã sẵn sàng.

“Cởi áo mủ ra mầy, Cả. Xuống nước làm sao mầy lội cho nổi. Rán chịu ướt một chút.”

Cả Thọ không nghĩ tới chuyện phải “xuống nước” nhưng cũng nghe lời Lão Một. Gió thổi tạt vô mặt, gió thổi rung rinh sợi giây neo căng thẳng, gió đánh phành phạch lá cờ sau lái đã rách hết viền. Lão Một nhìn thấy bà vợ đứng tựa chân đèn hải đăng đang nhìn chằm chặp về phía mình, tự dưng lão nghe lòng ấm áp.

Lọt vô lạch thì ghe đi phon phon như bị đẩy mạnh. Sóng bên ngoài tràn vào tới đá giăng thì rạp xuống và tan dần. Lão Một biết rằng mình chịu ít nhất cũng bốn ngọn sóng, ba ngọn thẳng và một ngọn ngang. Tiếng máy ghe nổ giòn đều làm lão có cảm tưởng mình đang ở trên lưng một con ngựa chiến khỏe mạnh. Vấn đề còn lại là con đường trước mặt phải qua, mà phải qua cho khéo!

“Tui dọc chèo nghe chú Sáu,” Cả Thọ hét nhỏ.

“Ừ, dựng thẳng một chút, đừng lo cạn nữa. Trúng lạch rồi.”

Cây chèo, bỏ dọc theo be ghe cắm sâu xuống nước làm cản được nhiều sức đẩy của sóng trên mình ghe. Cả Thọ còn biết phải kéo mái chèo mỗi lúc ghe nghiêng bên phải và đẩy mái chèo mỗi lúc ghe nghiêng bên trái. Bây giờ thì lòng Cả Thọ lắc lư theo những cái lắc lư của chiếc ghe tội nghiệp này.

Ngọn đầu phủ dài ra tới tận sau lái. Ở trên gành, bà vợ không nhìn thấy Lão Một đâu nữa, kể cả Cả Thọ. Tiếng máy ghe như ngưng lại một chút và tới lúc những bọt trắng tràn tới chân đá giăng thì nổ vang dội lên như thách thức.

Lão Một xô lái về bên trái và bớt ga, ngọn thứ hai cất cao đầu ùa tới từ phía bên phải như một tàng cây cổ thụ sập đổ ụp xuống. “Mình đang ở cuối ngọn, sau lái sẽ chịu nặng…” Lão Một đạp mạnh chân vào bục chắn hai bên hầm máy, cắn răng chờ đợi. Cả Thọ quay lại nhìn về hướng Gành Cậu, mái chèo áp vào ngực, cũng trong tư thế chờ đợi.

“Đẩy mạnh chèo nghe Cả, coi chừng té.”

Như lần trước, bà vợ cố giương mắt nhìn cho kỹ cái bóng dáng đen đủi của Lão Một dưới lớp sóng bạc phũ phàng. Tới lúc này, bà thấy mình bất lực hoàn toàn. Ngoài việc van vái trời phật, thật tình bà không biết phải làm gì khác hơn được. Bà thì thầm:

“Mình có cản ổng cũng không được.”

Thêm một ngọn, rồi một ngọn nữa. Ghe Lão Một lúc này đã thoát ra khỏi vùng nước trắng xóa, trườn lên sóng. Những lượn sóng như những dãy núi liên tiếp nối lưng nhau tiến vào bờ. Lão Một kéo mạnh ga xô lái hướng thẳng lên ngọn chỉ vừa kịp bỏ vòi. Chiếc ghe có lúc mất hút trong lòng nước giữa hai lượn sóng. Cả Thọ đã gác mái chèo và loay hoay mặc lại chiếc áo mủ. Trời tối thật rồi, ở hướng tây, bầu trời và mặt biển liền nhau một màu xám ngắt.

Bà vợ Lão Một quay trở về nhà lúc bóng tối che hết tầm nhìn, chiếc ghe lẩn khuất trong đó.

***

HAI

“Bốn cần xé có bị thu mua không chú Sáu? Sao tui lo quá. Gần ba trăm ký chớ có ít đâu…”

Lão Một không trả lời Cả Thọ. Bị thu mua thì uổng công thật, đâu có được bao nhiêu tiền. Lão hết còn hứng thú khi nghĩ tới chuyện phải giấu giếm lại chút ít về bán lén ra cho hàng xóm. Một cần xé thì không sao, đàng này nhiều quá làm sao tránh khỏi.

Lão nghĩ tới bà vợ sẽ phải quýnh lên vì số cá nhiều hơn sự tưởng tượng của bà, rồi thì còn phải phập phồng lo âu suốt buổi bán cá không lấy gì làm hứa hẹn sẽ trót lọt êm xuôi. Mà phải đổ bỏ bớt cá xuống biển là điều mà lão không thể làm được. Cả Thọ cũng nghĩ đến điều này rồi.

“Mầy dọn hầm mũi cào một mớ xuống đó đi Cả, chừa lại chừng một cần xé cho xuống khoang để lưới. Thế nào thì mình cũng phải ghé trạm cho tụi nó kiểm soát, có ra sao thì ra.”

Lão định rằng nhân viên hải sản thấy ít cá sẽ cho phép lão đem bán chợ, chừng đó sẽ đem ra từ từ mà bán. “Dầu máy chợ đen mua mắc quá mà phải bán cá cho hải sản thì còn gì mà ăn.”

Cả Thọ hút xong điếu thuốc thì đi lần về phía đàng trước. Trời vẫn mưa như hai ba ngày nay đã mưa. Mưa mà không có sấm chớp, mưa như một thứ buồn tủi ngậm ngùi của những con người miền biển nước mênh mông bị trời đất dành mất đi đất sống. Lão Một có linh cảm như mình và Cả Thọ đang làm một chuyện trái với tự nhiên. Lão cố nhớ mà không thể nhớ nổi tâm trạng của mình kể từ sau ngọn sóng thứ hai bủa ngang ghe lúc ra cửa. Lão chỉ nhớ một điều là mình cố ghì lái thật chắc và gục đầu để sóng nước khỏi đánh rát vào mặt, còn thì phó thác cho “bà Cậu” như nhiều lần lão từng phó thác.

“Chắc ba bốn giờ khuya rồi hén chú Sáu?” Cả Thọ đã làm xong việc rồi loạng choạng về phía sau lái, ngồi cạnh Lão Một. “Bây giờ tui hết thấy lạnh, nhưng vô cửa chắc lạnh…”

“Chừng ba giờ. Còn ít cơm nguội mầy có ăn thì ăn.”

“Thôi, còn no, chú Sáu.” Cả Thọ vừa ngáp vừa nói.

“Buồn ngủ hả, chút nữa vô cửa rồi. Mầy lau tay khô vấn cho tao điếu thuốc, Cả.”

Tàng cây bàng hiện ra mờ mờ. Ở xóm đầu cồn, vài ánh đèn chớp tắt ẩn hiện sau sóng. Lão Một nghĩ tới miình sắp phải chống chọi với cái gian nan nhất trong chuyến đi này thì mặt đanh lại. Lá cờ sau lái thỉnh thoảng tốc nhẹ lên, nhưng không cùng hướng, lão lo lắm.

“Gió mặt trời hén chú Sáu, vô cửa khỏe thôi.”

“Không khỏe đâu Cả, mầy chuẩn bị dọc chèo đó, mà nhớ đừng cựa quậy gì hết, để cho tao. Gió này kỳ lắm nghe.

“Đâu có lớn, chú Sáu.”

“Vậy mới kỳ,” Lão Một nói nhỏ. “Sóng đi bậy bạ không biết đâu mà mò đó mầy.”

Lão Một dán mặt vào bóng đêm. Cây đèn sáng nhất ở đầu cồn là tiệm cà phê A-Phú, ngọn hải đăng trên gành không còn cháy vì Ủy Ban Huyện tiết kiệm chất đốt vào lúc biển động, lão chỉ có thể bắt trúng lạch bằng vùng ngời sáng của bọt sóng. Nhưng ở gần như cùng một mặt phẳng thế này, nhìn thấy cho rõ hướng sóng là chuyện không thể làm được mặc dầu sóng đi có ngời. Lão Một chỉ thấy loáng thoáng trước mặt mình một tấm thảm bông trắng xóa trông đến chóa mắt.

“Làm gì cũng phải tới sát một bên,” lão lầm bầm. “Trời tối quá!”

“Gài lưới lại hết chưa, Cả? Để nó tuôn xuống là nó kéo ghe lật úp à, nghe hông.”

“Rồi, khỏi lo chú Sáu.”

“Thằng này không coi trời đất vào đâu.” Trong một thoáng, Lão Một nhớ ra mình cũng đang có cuộc sống, bất giác, như quên hết mọi chuyện chung quanh, quên cả Cả Thọ có dọc chèo hay chưa, lão kéo mạnh ga về phía sau, bỏ hẳn ý định đảo một vòng gần bọt sóng để nhìn cho rõ. Cùng một lúc ở hai bên lườn ghe, hai ngọn đổ ập vào, giáp nhau ngay trên mình và phủ dài từ trước mũi tới hầm máy. Cả Thọ buông chèo nằm rạp xuống sàn, một tay ôm cứng bục chắn hầm máy, tay kia thòng ra ngoài be cố bám thật chắc.

“Bỏ chèo, Cả. Kệ nó!” Lão Một hét.

Lão thấy hối hận ngay vì sự nông nổi của mình. Cái nông nổi bắt đầu từ sự bực tức vô cớ, không đâu. Từ bóng dáng gầy còm của bà vợ, những gương mặt phờ phạc của con Thực, của thằng Thà, của một lũ nhỏ nữa nheo nhóc, từ những rổ cá đầy ắp đến giọng cười lảnh lót của bọn con gái trong tổ thu mua, rồi gương mặt lúc nào cũng có vẻ bình thản của Cả Thọ… Tất cả những thứ tạp nhạp nhưng chắc nịch ghì buốt đầu óc, quấn cứng lồng ngực. Lão Một không muốn nhớ tới bất cứ gì có thể làm lão phát giác ra rằng mình đang chống chọi với một thứ địch thủ mà ít nhất trong lúc này, lão chịu thua.

Dưới những bọt sóng phũ phàng đánh ập trên tấm lưng xương xẩu, chịu đựng. Lão Một kẹp chắc lấy cần lái hướng thẳng về phía trước. Trong thâm tâm lão, lão biết chắc chắn mình vẫn còn có cuộc sống, cuộc sống được dựng đứng từ những con cá chết cứng dưới hầm, trước mũi.

Gió và mưa vẫn một nhịp như mấy hôm nay, không hề thay đổi. Sóng biển cũng một nhịp vô tình, dấu kín trong lòng nó, trên lưng nó, sự sống và sự chết.

Lúc đó, khoảnh trời ở hướng đông vẫn tối đen.


Măng Đầu Mùa, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Nghề Rèn

VÕ HOÀNG

Hơn một tiếng đồng hồ rồi, Tư Huỳnh uống gần hết một bình trà mà than vẫn cứ cháy ngún ngún ở một góc lò. Thằng Mót vẫn chưa thấy tới. Hôm nay làm gì thì cũng phải rồi mấy cái lưỡi búa cho “thằng chả,” xong cái nợ đời, còn phải làm này làm nọ kiếm tiền nữa chứ!

Tư Huỳnh ngẫm nghĩ mà thấy mình vô phước, tưởng rằng làm thợ rèn vào thời buổi này dễ kiếm ăn, ai có ngờ nhiều việc phải làm không công, còn bị lằng nhằng khen chê.

Ở một góc lò, một đống ngùn ngụt nào là miểng bom, nhíp xe hơi, cọc sắt… Tư Huỳnh liếc xéo về phía đó, phát ngán. Tiền không ở đó mà chưa có giờ làm. Cả tuần loay hoay với mấy cái lưỡi cuốc “chưn tượng” làm cho Tư Huỳnh thấy rằng nghề của mình thật sự “chưa tới.” Không phải tại lửa, không phải tại nước sao nhiều cái bị nứt, chặt bỏ bớt xong rèn lại cũng bị nứt.

Hư, thường cho người ta là cái chắc, mà nhiều cái hư quá lấy gì mà thường, vì cuốc có đai, nhưng phải đai chưn tượng, không chưn tượng người ta không chịu. Tư Huỳnh không còn thấy hăng hái mấy trong cái nghề của mình, nhiều lôi thôi quá mà khó kiếm ăn…

Thằng Mót tới. Nó vừa đánh bò cạp vừa móc túi lôi ra bịch thuốc rê. Tư Huỳnh phì cười:

“Che mưa mà che bằng vải, cũng như không. Trời lạnh quá, mầy uống trà không?”

“Ừ, để đó tui, chú Tư.” Thằng Mót lột tấm lều vải ra khỏi người, lưng áo nó ướt một nửa phần trên. “Thứ này lâu thấm nước mà gió hổng bay, ‘đã’ hơn mủ chớ chú Tư!”

Lều vải “đã” hơn mủ, dao nhíp xe “đã” hơn dao cọc sắt, thuốc vấn “đã” hơn thuốc Vàm Cỏ, thằng này thì luôn luôn có cái này “đã” hơn cái kia. Tư Huỳnh với lấy một miểng bom nhỏ cào nhẹ bùn dưới gan bàn chân, chép miệng:

“Bữa nay ông Ba Sửu tới lấy mấy cái lưỡi búa, chút nữa mày cưa thêm hai khúc sắt làm luôn cho rồi, mai rảnh được làm cho người ta kiếm tiền.”

Thằng Mót lặng thinh. Nó không còn bực mình khi nghe Tư Huỳnh nhắc tới Ba Sửu nữa. Dưới mắt nó, “thằng chả làm lớn trong hậu cần mà chỉ được có cái tháo nhíp xe mười bánh bán cho lò rèn, rồi mượn làm giùm cái này cái kia…”

Dốc ngược ấm nước châm thêm vô bình tích, thằng Mót sực nhớ ra điều gì cần nói:

“Ờ, chệt Hón làm lèm phát, bán có tám trăm một cái hà chú Tư, chả còn nói là lèm của mình non lửa, mà mũi thì quá già, dễ gãy. Tui nghe tui tức mình.”

Tư Huỳnh nhìn thẳng vào mắt thằng Mót một lúc thì thở ra. Tự dưng mà thấy buồn ngủ trở lại. Phải chi nghĩ tới một số ít tiền sẽ được ngày hôm nay mà nghe thằng Mót nói tới vụ chệt Hón cũng rán mà làm, đàng này chút nữa Ba Sửu tới, cà kê đủ thứ chuyện từ chuyện hồi chín năm tới chuyện lập tổ hợp thợ rèn huyện, từ chuyện biển động chìm xuồng tới chuyện chệt Hón làm bộ đau không rèn giúp đồ hậu cần, rồi thỉnh thoảng “chỉ thị” thằng Mót dũa lại cạnh kia chút xíu, mài lại góc này chút xíu… Tư Huỳnh ngó ra ngoài, thầm mong đừng bao giờ thấy mặt Ba Sửu và thầm mong trời tối thật nhanh cho hết thật sớm ngày hôm nay.

Vậy mà làm xong cái đai búa đầu tiên thì Ba Sửu tới. Hắn dắt xe vào dựng tuốt phía trong lò rèn và để nguyên áo mủ ra ngồi trên sạp tre, hắt bỏ tách nước dư rót lại đó một ít, xong mới chào Tư Huỳnh:

“Mạnh giỏi anh Tư. Bữa nay thì chắc thế nào cũng xong đồ tui hén, tốt quá. Nghỉ tay chút đi, anh Tư, uống miếng trà mà. Mót, nghỉ mầy, làm nhiều quá không sợ đau sao?” Hắn uống một ngụm rồi nói luôn, “Mấy cái này chắc làm hơi lâu hả anh Tư, phải tối mới xong. Tôi chỉ ở đây được một chút rồi phải lên huyện có chuyện, để coi anh làm xong cái đầu ra sao đã, tui cho thêm ý kiến.”

“Ừ, ý kiến!” Tư Huỳnh buông búa đặt khối sắt hừng hực nóng trở lại lò, cười gượng:

“Bảo đảm, bảo đảm mà anh Ba, tối xong mà.”

Thằng Mót cũng thôi không kéo cưa nữa, nó ngồi bẹp trên miếng ván dầu, quẹt mũi nhìn chầm chập vào khúc sắt đang cưa dở nửa chừng, không nói gì cả. Tư Huỳnh gác một chân lên máng nước, ngửa cổ uống cạn tách trà:

“Cây lèm phát hôm trước xài được không, anh Ba? Tui ưng ý cây đó nhứt đó, nhíp xe mà!”

“Được thôi, hơi non lửa. Đáng lẽ anh trui thêm ít nước nữa, mới chặt tràm mà phải mài liền liền, gặp đước, bằng lăng dám cuốn mép lắm.”

Tư Huỳnh biết hắn nói đúng: “Đồ làm giùm nó vậy đó, hơi đâu tốn than trui cho tới!”

Ba Sửu xếp hai chân lên sạp, cao giọng:

“Nhu cầu lèm phát rồi đây tăng lên nhiều lắm, anh Tư. Đừng lo không có việc.”

Tư Huỳnh giật thót người. Đừng lo không có việc làm giùm à? Thằng Mót lần này không thể không quan tâm tới Ba Sửu, nó thỏ thẻ:

“Ông Hón làm lèm ‘tới’ lắm, chú Ba. Ổng làm mau hơn chú Tư nhiều.”

Ba Sửu đồng ý ngay:

“Cha Hón là thâm niên mà, chả chỉ có cái nghề rèn. Rồi đây tổ hợp cần nhiều thợ giỏi như vậy đó.”

Thằng Mót nói câu vừa rồi đúng là một câu nói mà Tư Huỳnh muốn nói. Tổ hợp thợ rèn huyện trong tương lai sẽ có hai lò. Người, thì cha con chệt Hón, Tư Huỳnh và thằng Mót. Tư Huỳnh lâu nay vẫn nghĩ nghề rèn mặc dầu cũng là nghề “làm dâu thiên hạ” nhưng ít ra phải có ít nhiều duyên nợ mới sống với nó được.

Việc tổ hợp làm thằng Mót lải nhải nhiều ngày và có ý định không làm với Tư Huỳnh nữa. Có một dạo, nó để Tư Huỳnh vừa quay quạt gió, vừa vỗ đe, rồi mài, giũa… Cáng đáng hết công việc cần có ít nhất hai người làm. Nó không đành lòng, phải trở lại lò.

Nửa năm nay, thằng Mót đã làm Tư Huỳnh thấy rằng nghề rèn không còn là một cái nghề nữa bằng cái nhìn thật sự ngán ngẩm với tổ hợp trong tương lai mà nó sẽ là một tổ viên.

Vô tổ hợp được mua đồ chế độ mà lương đâu có bằng mình làm riêng, chú Tư. Làm riêng “đã” hơn nhiều. Làm riêng dĩ nhiên là “đã” hơn, nhưng nhu cầu của hậu cần nhiều lắm, Ba Sửu nói thế và cho biết Huyện “quyết định yêu cầu” hai lò rèn phải sát nhập thành tổ hợp, vả lại, “cái lò anh Tư ở giữa xóm, mà theo phong tục nước ta, lò rèn phải ở đầu xóm, cuối xóm.”

Trong thâm tâm, Ba Sửu nghĩ rằng mình đã làm cái công việc thuyết phục được người thợ rèn theo sự sắp đặt của mình. Thằng Mót cũng cho như thế: “Chả đem hết đồ này đồ nọ tới làm, toàn là nhu cầu của huyện, của hậu cần làm mình đâu có dám nghỉ bỏ ngang xương được, chú Tư.”

Nhưng Tư Huỳnh cảm thấy không đúng hẳn như vậy. Nghề rèn dầu “tới” hay chưa cũng đã là nghề của mình. Cái “tinh” trong nghề mình đã bòn mót bao nhiêu năm nay đâu dễ một sớm một chiều bị gạt hẳn ra ngoài cuộc sống bằng những chuyện xét ra không dính líu gì tới sự cố gắng của mình. Việc Ba Sửu đem đồ đạc tới tấp nhờ làm giùm và việc lâu nay Tư Huỳnh phải mất ăn mất ngủ vì mấy lưỡi cuốc “chân tượng” là hai việc hoàn toàn khác nhau, mặc dầu hai việc đều đem lại cho Tư Huỳnh sự buồn nản kéo dài từ ngày này sang ngày khác.

“Không phải tại nước, không phải tại lửa,” Tư Huỳnh lẩm bẩm mãi vấn đề này. “Chẳng lẽ tại mình?”

Lâu nay nghĩ mãi Tư Huỳnh cũng vẫn chỉ biết có vậy, nếu không tại mình thì chắc chắn là tại chất thép. Có lần, Tư Huỳnh nghĩ tới sự phối hợp có thể giữa khối sắt nung đỏ và cái tâm của người thợ, những nhát búa chẳng hạn…

Ba Sửu dắt xe đạp lướt ngang qua mặt, miệng lải nhải những gì không rõ lắm. Tự dưng, Tư Huỳnh buông tách nước ngã sang, nói với theo:

“Bữa nào anh Ba về rẫy, trở lại đem theo cây lèm hôm trước tới đây tui trui lại nghe.”

Thằng Mót đang dúi đầu vào cái lưỡi búa làm dở, phần đuôi cắm ngập xuống than hồng, quay phắt lại:

“Ai biểu,” nó liếc nhanh ra cửa, “hôm trước chú Tư nói là làm cho cha Ba Sửu là làm lấy có thôi. Bây giờ chú kêu trui lại, mất công thêm.”

Nhìn theo cái bóng dáng hăm hở sấn ra ngoài trời đang mưa, Tư Huỳnh thấy lòng thật nhẹ nhàng. “Mình sẽ không bỏ nghề. Thằng Mót làm sao biết được có những ràng buộc thật thân ái giữa cái im lặng tịch mịch và tiếng bóp chát chói tai làm con người ta cảm thông được với những cái chướng mắt nhất trên đời. Thằng Mót làm sao biết được có những ràng buộc thật thân ái giữa tàn lụi của than hồng và sức chịu đựng vô cùng tận của máng nước làm con người ta dễ dàng nhận thấy cái tinh diệu của trời đất. Ừ! Cái máng nước chứa đựng trọn vẹn năm thức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ của ngũ hành. Nhất là điều này, Ba Sửu lại càng không hiểu.

Tư Huỳnh lại nghĩ trở lại những lưỡi cuốc bị nứt và thấy rằng mình sẽ có lúc tìm được nguyên do, chứ bây giờ thì chưa ngoài cái ý tưởng nhất thời là cứ đổ thừa cho chất thép của nó không tốt, vậy thôi.

“Chệt Hón nói mình như vậy là đúng, Mót à! Ngày mai chắc tao nghĩ một bữa xả hơi.”

Tư Huỳnh luồn tay gãi lưng, ngẫm nghĩ, “Ít nhất cũng đúng với trường hợp Ba Sửu.” Thằng Mót quơ cây sắt nhỏ gạt đùa những hòn than trên lò. Tiếng nổ lách chách và những vệt lửa văng tung toé chắc làm nó vui lắm. Nó nghĩ tới ngày mai có quyền nằm nhà đọc hết cuốn chưởng, cho “đã.”

Tư Huỳnh cúi mình rót trà, nghĩ đến những lời lẽ thân thiện nhất để nói với chệt Hón vào ngày mai về nghề rèn.


Măng Đầu Mùa, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Đưa Chân

VÕ HOÀNG

Như thông lệ, Bảy Cò tấp xe lam vào sát lề, lột nón quăng mạnh xuống ghế, vặn tắt máy rồi thọc tay vào túi, lửng thửng bước ngược về quán chệt Ký. Trời chỉ vừa hừng sáng, khách mới tới lai rai, Bảy Cò cảm thấy thơ thới lòng, dư sức chọn một chỗ ngồi vừa ý.

“Uống gì, chú Bảy? Bữa nay có thuốc Vàm Cỏ mới, đồng ba điếu. Chú có ăn xôi ăn cháo gì không?”

Cha này lảng nhách, hỏi không kịp thở! Bảy Cò mắc tức cười, nhưng cũng cố làm tỉnh, giựt giựt cái miệng:

“Bạc xỉu, kêu giùm đĩa xôi sầu riêng, ba điếu Vàm Cỏ.”

Với cha này thì nói càng gọn càng tốt, không có ngồi nghe hết buổi cũng chưa thôi! Chệt Ký quay đi rồi, Bảy Cò mới dám ngồi ngay ngắn lại, chống tay dưới cằm nhìn dãy phố.

Cạnh cây cột đèn độc nhất ngã tư, chị con gái một tay phe phẩy chiếc quạt giấy trên cái thau còn đầy ắp bánh khoai, tay kia luồn vào ống quần gãi lấy gãi để. Cách đó một thước là một thằng bé mặc độc chiếc quần đùi bạc màu chàm, ngồi trên lề, thòng hai chân xuống đường nhịp từng chập, lơ đãng nhìn người đi qua lại, gương mặt bình thản, vô tích sự. Lúc Bảy Cò nhìn lâu ở đó, thằng nhỏ đang ngáp.

Nó là Hòn, thằng bé con thường ngày nổi tiếng phá phách nhất ngã tư Xã Mai này. Mười hai mười ba tuổi, nó chưa hề sợ một ai, ngoại trừ bà chị nó, chị Mắm, chị con gái lỡ thì bán bánh khoai.

Hai chị em sống với bà mẹ già trong một căn chòi lợp nửa thiếc nửa lá, vách vừng nửa ván nửa thùng sữa thụt sâu tuốt trong lòng con hẻm tận dưới Lâm Quang Ky. Căn nhà mười một tuổi được sửa sang mỗi năm một lần vào giữa mùa mưa và mỗi lần như vậy, vài chục lá hoặc ít tấm thiếc đã rỉ sét, một vài tấm ván thông vụn, thùng giấy… được tấp vội tấp vàng vào căn nhà tội nghiệp này.

Thằng Hòn được hàng xóm biết đến từ ngày nó vừa đi chập chững, rồi một năm sau nữa, giữa mưa thả rong dọc theo con mương nước tìm bắt cá cóc đựng đầy những keo chao, đem về sắp ngang sắp dọc khắp nhà. Nó lớn lên và cái việc thả rong của nó cũng kéo dài mỗi ngày một thêm ra theo thời gian. Ở vào những ngày cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, nó chín tuổi, bỏ hẳn thói quen la cà với tụi nhóc trong xóm Bánh Tầm buồn thảm và nhiều phũ phàng, bỏ hẳn ngã tư Xã Mai xanh xao và chán ngấy, bỏ hẳn xóm nhà sình lầy với những cây bần quen thuộc dọc theo bãi biển Lâm Quang Ky, nó tính toán và tự chia chác cuộc sống ra hai đầu thị xã, Ngư Cảng và Cổng Tam Quan.

Má nó, không rõ từ bao giờ đã quen làm lơ không hỏi tới bất cứ những gì xảy ra chung quanh nó. Một lần, nó về nhà với một bên mắt tím bầm, bà chỉ nhìn trừng nó một lúc thì vừa co chân tống cho một đạp, vừa quát:

“Bà mẹ mầy, đi lấy muối mà đắp lên. Đừng đứng đó, lớ quớ tao bẻ cổ thấy mụ nội.”

Một lần khác, nó về nhà, vẻ mặt hớn hở và bí hiểm với những tờ giấy bạc lấp ló trong vạt áo, bà túm lấy, hối hả kéo cuốn tiền ra, thuận tay xô thằng nhỏ chúi nhủi vào vách nhà:

“Chết mầy, thằng mất dạy. Có bữa chúng còng đầu mầy.”

Xong, thì bà xoạt tiền ra đếm, ném lại thằng nhỏ chút ít, chửi thêm một lúc thì đâu vào đấy. Còn phải đi làm cho người ta nữa chứ, rảnh rang đâu mà ở nhà chửi hoài, thằng Hòn biết như vậy nên thường thường nó léo về nhà những lúc bà sắp đi làm, hoặc đã đi làm.

Bà mẹ đã như vậy, chị Mắm lại cũng không hề đả động gì tới thằng em. Chị ít nói, không thích la cà nên thỉnh thoảng hàng xóm mới có chuyện nói tới chị. Hồi mới tới ở căn nhà này độ một hai tháng, người ta chỉ thấy chị thường nằm võng đu đưa qua lại và ca vọng cổ những khi trời sắp về khuya. Tiếng ca nhỏ mà trong trẻo, nghe buồn buồn:

“Bước xuống ruộng sâu em mảng sầu tấc dạ
Tay ôm bó mạ nước mắt hai hàng
Ai làm cho trễ chuyến đò ngang
Cho sông cạn nước, đôi dòng biệt ly…”

Rồi giọng cao lên thánh thót, nghe như có chút nghẹn ngào. Người ta đoán một cách mơ hồ rằng chị phải có một tâm sự gì não lòng lắm. Nhiều khi, chị ngồi lặng thinh hàng giờ, gương mặt đăm đăm nhìn vào khoảng không. Hỏi, thì họa hoằn lắm chị nói, mà nghe như không phải để trả lời:

“Không có gì làm tôi buồn được hết. Đừng thấy vậy, mà tưởng vậy. Ai hơi đâu lo nghĩ mà buồn thêm, cuộc sống này nó đã như vậy rồi mà…”

Rõ ràng chị con gái không giấu nổi tâm sự của mình. Bảy Cò biết chắc chắn như thế, nhưng vấn đề là phải biết câu chuyện nó như thế nào mới được? Sát một bên nhà, nhiều khi cả năm trời, chưa bao giờ Bảy Cò nghe được mẹ con chị Mắm nói chuyện với nhau như một sự nhắc nhở về cuộc sống đã qua, ở đâu đó, trước khi tới căn nhà này.

Một dạo, Bảy Cò đánh bạo lân la gợi chuyện, rốt cuộc cũng không biết được thêm bao nhiêu, nhiều khi lại đâm ra bực mình:

“Anh Bảy hỏi nhiều quá, làm an ninh hả?”

Hoặc:

“Tui đã cố tránh không hỏi cái gì về anh Bảy, thì anh Bảy cũng đừng hỏi cái gì về tui, mới phải chứ…”

Bảy Cò chỉ biết lơ mơ rằng hồi trước mấy mẹ con nhà này ở Châu Đốc, ở Kinh Sáng, ở Láng Bông Súng, rồi hình như làm lụng vất vả mà không đủ ăn chi đó, phải tìm nơi khác, và tới Rạch Giá, vậy thôi. Còn có hỏi thêm nữa, thế nào cũng bị chị con gái khó tính – Bảy Cò nghĩ vậy – lựa lời này lời nọ nói cho qua.

Riết rồi Bảy Cò thôi, không cố hỏi, được cái là ngồi cạnh chị con gái nói chuyện trên trời dưới đất, nhiều lúc nghĩ lại thấy vui vui. Chẳng qua, có lúc Bảy Cò đâm ra ghiền nghe tiếng hát chị Mắm. Nhiều lần cố làm vẻ mặt hết sức tình tứ, Bảy Cò yêu cầu chị hát cho nghe, nhưng không bao giờ, nói gì nói cũng không hát. Chị phân trần với giọng nhạt nhẽo:

“Tui đâu có phải là ca sĩ, đâu có phải là đào hát, mà hát cho người khác nghe.”

Vài lần như vậy, Bảy Cò đâm ngượng, không nhắc lại nữa. Đành phải chờ đêm đêm, chị Mắm nằm trên võng đong đưa, một mình thả hồn theo tiếng hát.

“Tại anh Bảy không biết, chớ tui thì tui dễ tính lắm, ai làm gì thì làm, tui sống cho tui, miễn sao đừng có ai đụng tới cuộc sống của tui.”

Không biết ai đã đụng tới cuộc sống của chị làm cho chị có cái mặc cảm to lớn này vì mỗi lần nói chuyện như một kiểu tâm sự, chị Mắm luôn luôn nhắc lại câu này. Bảy Cò nghe hoài cũng hết thắc mắc.

Có một người khách mua bánh, chị Mắm lăng xăng phủi sạch tấm lá chuối héo vàng rồi rút vội cặp đũa đang cắm ngập vào thau bánh, bắt đầu xới, gói. Cái vẻ lăng xăng này, lâu lâu Bảy Cò mới thấy được một lần, mà lần nào cũng nghe lòng nao nao, suy nghĩ mông lung.

Bảy Cò nghĩ tới mình, tự nhiên thấy cái đầu lầng quầng, thở dài từng chặp. Sáng tới tối chạy xe xoèn xoẹt, đêm về tính lại còn ít đỉnh sống qua ngày qua buổi. Làm cũng nhiều mà không thấy dư, thiệt đúng như lời ông già bà cả thường hay nói, phải có một người đàn bà trong nhà “cho nó giữ tiền, mới khá được.” Mà thời buổi này, cái chuyện kiếm một người đàn bà thiệt khó. “Mình đã từng tuổi này…”

“Hết thời!” Bảy Cò luôn luôn phán một câu sau những suy nghĩ về chuyện này. Thằng Trung sĩ nhất Lâm Thành Bảy phong nhã hào hoa một dạo đã hết thời! Từ cái hồi vợ chết, rồi bị thương cưa bỏ một giò, rán quơ quào nuôi thằng con cho kịp lớn để làm lơ xe đò, tuần lễ thấy mặt nó một lần, Bảy Cò ít khi chịu tìm hiểu để đả thông những vướng bận trong lòng.

Cho tới buổi tối hôm trước, chị Mắm khóc.

Chị Mắm khóc, Bảy Cò không tài nào ngủ được vì tiếng khóc mặc dầu nhỏ nhưng nghe rất rõ. Phải nói, mười một năm rồi, mãi tới hôm đó Bảy Cò mới biết được “câu chuyện nó như thế nào.”

Câu chuyện có lẽ bắt đầu từ chiều. Lúc Bảy Cò về thì trời tối hẳn, nhà chị Mắm không thắp đèn nhưng cũng còn thấy được bóng dáng nhỏ thó của thằng Hòn ngồi chồm hổm trước hiên. Bảy Cò vô nhà chưa kịp cởi áo đã nghe vách bên kia, chỗ chị Mắm thường nằm đong đưa ca vọng cổ có tiếng hỉ mũi, rồi lại có tiếng khóc rấm rức. Rõ ràng là tiếng chị Mắm!

Đêm vắng mà nghe tiếng khóc thì buồn quá.

Trước hết, Bảy Cò nghĩ ngay tới bà mẹ. Chắc có chuyện gì xảy ra cho bà mẹ không chừng. Nhưng đâu được vài phút, tiếng nói của bà nhè nhẹ kéo dài:

“Thế nào rồi cũng có bữa nay, tao biết…”

Bảy Cò giật mình cố lắng nghe. Một hồi, chị Mắm mới lên tiếng, vẫn còn có vẻ ấm ức:

“Má, tui đã nói với Má hoài, là tui hổng đi đâu hết, sao mà Má còn trả lời với ổng như vậy?”

“Tao nghĩ tới thằng Hòn, nó dù sao cũng còn cha.”

“Ổng” là ba thằng Hòn. Có lẽ hôm nay ổng tới và bắt mẹ con chị Mắm đi đâu đây. Bấy giờ Bảy Cò mới nhớ ra có lần chị Mắm không hiểu vì chuyện gì đã vừa nói vừa cười với thằng Hòn “mầy giống in hệt ba mầy, cái giò cao nhòng…” Thì ra, ba chị Mắm và ba thằng Hòn là hai người đàn ông khác nhau, và hôm nay ba thằng Hòn tới không phải chỉ để bắt thằng Hòn đi, mà bắt hết cả nhà. Nhưng đi đâu? Bảy Cò thắc mắc quá!

“Năm ngoái,” tiếng chị Mắm như phân trần, “má dìa dưới, má biết là hổng thể nào ở luôn dưới đó được.”

Bà mẹ ngắt lời ngay:

“Tại lúc đó dượng Hai mầy chưa về! Bây giờ có ổng thì phải khác đi chứ. Ổng làm việc trên huyện mà.”

“Huyện! Huyện gì huyện cũng đâu có lo nổi cho Má được. Ổng lo cho ổng sợ còn chưa xong nữa là….”

“Mày nói, rồi người ta dàn xếp được chớ!”

Nãy giờ hết nghe chị Mắm thút thít, đột nhiên chị “xì” lớn một tiếng rồi nói xẵng:

“Ngay tại đây còn không dàn xếp được, nói gì ở dưới đó. Mấy cái thằng…”

“Chắc tại thằng Căng chết nên mầy ghét người ta.”

Thằng Căng! Nghe thêm một hồi nữa, Bảy Cò biết được ra rằng ngày trước chị Mắm có bồ đi lính Cộng Hòa nhưng không biết là lính gì, rồi chết, đụng trận chết. Chết một thời gian ngắn trước khi ba mẹ con bỏ xứ tới đây.

Trưa này, chắc là người dượng ghẻ, ba thằng Hòn tới với ý định bắt ba mẹ con trở về Láng Bông Súng và bà mẹ đã hứa sẽ thu xếp để về thiệt. Chị Mắm không bằng lòng nên xảy ra việc đôi co với bà mẹ. Bây giờ câu chuyện vẫn chưa ngã ngũ ra sao.

Bà mẹ nhắc tới “thằng Căng,” chị Mắm im lặng lâu lắm mới nghe tiếng nấc nhẹ. Lúc này là lúc chỉ còn lại tiếng lầm bầm của bà mẹ nói tới những cái lợi hại trong cuộc sống ở đây và cuộc sống Kinh Sáng nếu mai mốt ba mẹ con trở về dưới.

Bảy Cò biết thêm, không những ở chỗ này mà ngay cả ở các làng mạc hẻo lánh, xa xôi, nhà nước đưa cán bộ miền Bắc vào thế chân cán bộ miền Nam để giải quyết việc hành chánh làm cho tình trạng “cần phải được dàn xếp.” Ba thằng Hòn cũng đang chờ sự “dàn xếp” đó. Phần chị Mắm thì chắc có lẽ sự gặp lại “cảnh cũ” mà không gặp được “người xưa” thành ra nhất quyết không chịu về, Bảy Cò nghĩ vậy mà không biết có đúng không

Nhưng cái vướng bận trong lòng Bảy Cò không phải là vì chưa biết rõ nguyên do khiến chị Mắm nhất quyết không chịu về, thật ra, nó không “ăn nhằm gì tới mình,” mà là câu nói cuối cùng của bà mẹ, câu nói chấm dứt đôi co của hai mẹ con và cũng chính câu nói làm chị Mắm suy nghĩ, suy nghĩ suốt đêm. Bảy Cò biết chắc như vậy.

“Không lẽ ổng trở vô bưng lần nữa!”

Trở vô bưng lần nữa. Câu nói của bà mẹ chắc chắn là được thốt ra bằng nhiều ý tứ gói ghém trong câu chuyện với ba thằng Hòn. Thân phận của một thằng thương phế binh thiếu thốn và hèn kém ở rất nhiều lãnh vực trong cuộc sống, nhưng Bảy Cò biết, óc tưởng tượng và mặc cảm thì nhiều, quá nhiều.

Lâu lắm rồi, Bảy Cò mới có dịp nhìn thấy lại cái mặc cảm bằng một câu nói bâng quơ, nghe lỏm được. Bắt đầu từ đêm đó, óc tưởng tượng của Bảy Cò làm việc trở lại. “Tưởng đâu mình có thể làm tỉnh trước tất cả mọi việc…” Bảy Cò tự thú nhận và nhất định sẽ nói chuyện với chị Mắm thật nhiều, nếu có dịp.

Cả nửa tiếng đồng hồ mà không có thêm một người tới mua bánh khoai. Bảy Cò ngồi thừ suy nghĩ miên man thêm một hồi, gọi chệt Ký tính tiền rồi đứng dậy thẳng người, đi lần về phía chị Mắm. Chiếc giò giả tám năm không hề vương vít thường ngày, hôm nay tự nhiên nghe nặng chình chịch. Bảy Cò vịn tay vào cột đèn, khè cần cổ lấy giọng, rồi nói nhỏ:

“Cô Mắm bữa nay mạnh giỏi hén!”

Chị con gái thoáng giật mình, quay phắt lại. Thấy Bảy Cò, chị tươi cười, mặt hơi đỏ:

“Anh Bảy mạnh giỏi?”

“Cám ơn cô, sáng nay tự nhiên làm biếng chạy. Tui ngồi đây nói chuyện chút, nghe…”

Bảy Cò biết mình đang khớp. Đương không chỗ người ta buôn bán tới bắt chuyện, làm rộn. Chị con gái cúi đầu nhìn xuống chân mình, cũng ấp úng:

“Chuyện gì? Anh Bảy ngồi đi.”

Đâu còn cái ghế nào, Bảy Cò lấy bộ ngồi xuống lề đường y như thằng Hòn đang ngồi, bật lửa châm nốt điếu thuốc còn lại:

“Hồi này, làm ăn bất cứ cái gì cũng có vẻ không khá được hết, cô Mắm hén!”

“Không khá thiệt, chớ có vẻ gì. Anh Bảy không thấy sao, từ sáng tới giờ…”

Chị con gái vừa nói vừa đưa tay giở tấm vải thưa đậy thau bánh, chặc lưỡi. Thằng Hòn tự dưng cúi mình nhặt một hòn đá nhỏ, úp vào lòng hai bàn tay lắc lắy lắc để, vừa đứng dậy, lủi thủi bước lần về hướng Cầu Đúc. Chị Mắm để mặc nó. Bảy Cò quay nhìn vào mắt chị con gái:

“Cô Mắm nè, tui hỏi tò mò một chút. Cô với thằng Hòn cùng mẹ khác cha phải không? Đừng trách tui… Hôm trước vô tình ngủ không được, tui nằm tui nghe hết.”

“Ờ, ờ… Cái hôm dượng Hai tui ghé chớ gì? Ổng đang làm việc ở Tịnh Biên, ổng ghé biểu má tui trở dìa Kinh Sáng làm ruộng. Ba thằng Hòn đó.”

Chị con gái bữa nay chịu nói chuyện, Bảy Cò thấy vui lòng ngay, không còn vẻ gượng gạo nữa.

“Gồi má cô có chịu về không?”

Chị con gái không đáp. Bảy Cò biết thế nào chị cũng không đáp, nhưng đã lỡ hỏi rồi, đành lấp liếm nói lảng:

“Quê ngoại tui ở Vị Thanh, cũng làm guộng…”

Rồi nín. Bảy Cò thấy mình dở ẹc, phải chi chị Mắm tỏ ra đanh đá, sắc sảo gì cho cam. Không hiểu chị con gái có ý tứ gì khi nghe Bảy Cò nói trỏng, ngập ngừng hỏi nhỏ:

“Anh Bảy có làm ruộng được hông?”

Do cái mặc cảm sống lại và kéo dài mấy hôm nay, rồi óc tưởng tượng chung quanh chuyện ba thằng Hòn, chung quanh lời nói của bà mẹ chị Mắm lớn dần ra cộng với nỗi thắc mắc vì những tiếng khóc của chị Mắm, Bảy Cò biết mình thế nào cũng phải nói một lần những gì mình muốn nói.

“Cô Mắm thấy tui làm guộng có được không? Chân cẳng tui như thế này…”

“Có sao đâu. Anh Bảy dù dở cách mấy, anh Bảy cũng là đàn ông mà!”

Bảy Cò nhìn thẳng vào mắt chị con gái, muốn nói một lời cảm ơn nhưng không nói ra được. Chị Mắm liếc nhanh về phía Bảy Cò rồi quay nhìn ra đường, nói trỏng:

“Chắc tui phải theo bà già dìa dưới. Ở đâu cũng vậy.”

Chị cúi đầu, mấy ngón tay hơi đen nhưng vẫn còn tròn trịa cào nhè nhẹ vào mặt bàn, giọng nói nhỏ hơn:

“Nếu mình cần có bạn, thì ở đâu cũng có thể có được, phải không anh Bảy?”

Bảy Cò không đáp ngay vì bất chợt nghĩ tới thằng con giờ này không biết nó đang ở phương trời nào. Hồi lâu, Bảy Cò gật đầu:

“Ờ, cô nói đúng quá!”

Ở đâu thì chắc cũng vậy trong thời buổi này. Bảy Cò thấy rõ ràng những lời nói xét ra giản dị của chị Mắm đã làm mình suy nghĩ hơi nhiều. Từ lâu, cuộc sống hối thúc, vất vả đã làm mình quên khuấy đi mất là mình cũng nên có bạn, đâu phải cuộc đời này nhiều đau khổ quá rồi con người ta không còn biết yêu thương nhau? Tự dưng, Bảy Cò cố nghĩ ra một câu nói, bất cứ câu nói nào có thể làm chị Mắm suy nghĩ, hay ít nhất cũng ngạc nhiên mà nhất thời nghĩ chưa ra.

“Anh Bảy, hổng nói chuyện gì nghe đi.”

“Ừ, ừ… Tui nghĩ… mỗi người đều có quyền sống theo ý mình muốn… Nhưng khó cái là không biết mình đang muốn gì.”

Chị Mắm chưa kịp ngạc nhiên thì Bảy Cò đứng hẳn lên:

“Bây giờ tui phải đi làm, tối tui về sớm.”

“Dìa sớm, anh Bảy qua tui chơi, nghe.”

Bảy Cò quay lại nhìn, không ừ hử cũng không gật đầu, bước về hướng chiếc xe lam. Ở đó, không biết từ lúc nào, thằng Hòn ngồi chễm chệ trên ghế, hai tay cầm lái, mà miệng thì cứ phì phò giống như tiếng xe chạy. Bảy Cò vỗ đầu nó:

“Xuống mày, thằng cà chớn!”

Nó quay đầu nhìn Bảy Cò, phì cười. Bảy Cò cũng cười.


Măng Đầu Mùa, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Chỗ Mới Tới

VÕ HOÀNG

Chỗ mới, chắc chắn là chỗ này rồi!

Cao Sơn ngẫm nghĩ như vậy. Anh loáng thoáng nghe tiếng nhiều người nói với nhau, toàn giọng miền Bắc.

Trời bắt đầu lạnh. Cái ý tưởng biết rằng sắp sửa tối làm Cao Sơn cảm thấy mất hứng. Hai tiếng đồng hồ trên xe, rồi gần hai tiếng đồng hồ đi bộ với biết bao nhiêu nhận xét đành phải chờ đến sáng mai mới rõ đúng hay sai thì quả là một hình phạt. Mấy người đàng trước dừng lại. Cao Sơn cũng phải dừng lại. Anh nín thở cố nghe ngóng.

“Tớ nghĩ hơn nửa tiếng nữa mới tới. Các đồng chí đi nhanh ghê. Vào trong này chút đi, nhé!”

“…”

“Đợi chốc, anh Tư tắm, có lẽ gần xong.”

“Đồng chí giữ giấy này, tên của bọn nó. Cả thảy là tám thằng. Phần việc của tớ coi như xong nhé.”

“Vâng, chốc nữa thì xong, đến lượt bọn tớ. Phải chi bọn này đến sơm sớm một tí, mấy hôm trước có chuyến, bọn tớ khỏe rồi…”

Ngưng một chút, Cao Sơn nghe tiếng một thằng hỏi nhỏ:

“Đồng chí có biết thế khi nào thì bọn chúng này đi?”

“Không biết chắc được đâu, ít ra cũng nửa tháng nữa. Thì chốc hỏi anh Tư thử xem.”

Nửa tháng, ít nhất là nửa tháng ở đây! Quan niệm về thời gian đối với Cao Sơn lúc này không còn giản dị như anh từng nghĩ tới trước đây. Bắt đầu từ ngày thứ ba ở Bê Tư, anh biết rõ thế nào là sự liên hệ hết sức nguy hiểm của thời gian và không gian, nhất là sự liên hệ ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống của một thằng người như anh ba tháng nay, đời sống một thằng tù.

Cả bọn được lịnh ngồi xuống tại chỗ. Cao Sơn lấy làm ngạc nhiên vì hình như cả tám người cùng ngồi xuống một lượt, bằng chứng là đằng trước anh, đằng sau anh không có một cái giật nhẹ của sợi dây nối liền cả bọn. Ai cũng muốn ngồi xuống ngay sau khi có lịnh, cái “muốn” kéo dài cả tiếng đồng hồ lội bộ đường rừng, cái “muốn” mãnh liệt dồn nén có sức căng phồng tỷ lệ nghịch với sức lực tàn lụn một cách nhanh chóng không thể tưởng tượng được, sức lực của một củ khoai ngắn hơn gang tay mỗi ngày. Cả bọn ngồi xuống một lượt thật.

Không biết rồi tình hình ở đây ra làm sao đây!

Thời gian thì đã biết đại khái ít nhất là nửa tháng, còn tình hình trong hoàn cảnh này với không gian là một. Sự liên hệ nguy hiểm, theo Cao Sơn nghĩ, chắc phải đợi tới ngày mai mới đánh giá rõ mức độ của nó. Ở Bê Tư, sau những lần lấy cung trở về phòng để vui mừng được biết mình còn sống, Cao Sơn dễ dàng nhận ra sự liên hệ ít nhất cũng còn kéo dài ảnh hưởng tới cuộc sống của mình.

Cao Sơn biết mình hơn ai hết. Anh không lấy làm thắc mắc khi một bạn tù nhìn trừng vào mảng sườn tím bầm rướm máu trên người anh rồi lắc đầu nhè nhẹ; anh cũng không lấy làm ngạc nhiên khi buổi sáng mờ nghe tiếng la thấy thanh trong góc phòng, một người tù mới vào chưa đầy tuần lễ chết cứng tự bao giờ. Mỗi lần như vậy, anh khám phá ra đang có một con người thật lạ thế chỗ trong anh, và ở con người thật lạ đó, tâm hồn nó sẽ nâng đỡ thể xác nó cho tới bất cứ giờ phút nào cần thiết.

Người được gọi là “anh Tư” chắc đã tới, có tiếng hai ba người cùng nói một lúc. Cao Sơn biết còn phải chờ thêm một lúc nữa, anh cảm thấy khó chịu. Không khéo đến khi được tháo tấm băng đen, anh không còn có thể nhìn thấy mọi vật chung quanh xa hơn hai thước. Trời tối rồi mà!

Để coi, xe chạy ngoằn ngoèo một lúc thì đi ngang qua cầu. Tiếng lạch bạch của bánh xe nghiền xuống những tấm ván cầu làm sao mà nghe trật được? Rồi mười lăm phút trên đường đá nhỏ, qua hai vũng nước lầy lội chắc chắn phải đoạn đường có ngả rẽ vào Ấp Nùng. Tụi nó chạy thẳng thì không phải ra phía phi trường là gì? Tới khúc có cát, những đồi cát nhỏ chạy dọc theo Núi Trọc, Cao Sơn ngửi thấy mùi thơm hăng hắc của tràm, rồi hơn nửa tiếng đồng hồ quanh co, buốt lạnh không có chút nắng, tụi nó băng qua cánh rừng rậm bằng con đường cặp sát chân núi Chóp Chài chớ gì nữa? Nhưng từ đó về phía Bắc Đảo có tới những ba con đường rẽ cách nhau không xa lắm, tất cả đều rẽ về hướng tay phải mới chết chứ! Đầu óc Cao Sơn được phép nghỉ xả hơi ít ra cũng tới khi xuống xe.

Cảm giác đầu tiên lúc đó không phải tức giận vì tiếng quát mắng của thằng cán bộ, cũng không hốt hoảng vì bị kéo ghịt ngược bởi cái nhảy của người tù đằng sau, Cao Sơn chỉ bực mình vì thật tình anh không thể đoán ra được chỗ nào ở vào khoảng nào của hải đảo mấy chục cây số bề ngang này. Tắt máy xe mà chưa nghe được tiếng sóng biển thì có bực mình cũng phải. Nó không đưa qua Bãi Bổn để chở chuyến ghe giải về tỉnh sao cà?

Có ba cách đưa tù từ đảo về tỉnh. Thứ nhất, tụi nó chở thẳng một mạch xuống cầu đoạn ở cửa biển vào ban đêm rồi xuống ghe đi tuốt; thứ hai, biển động ghe không ra cửa được thì đưa xe xuống Cây Dừa rồi cũng dùng ghe đi vào ban đêm. Cao Sơn biết mơ hồ con đường này đối với tụi cán bộ, tụi nó không cho là an toàn lắm vì thỉnh thoảng có chuyện xảy ra. Còn mùa này thì biển động, không thể dùng ghe tại cửa biển, tụi nó phải đưa về trại Bãi Bổn chứ. Nhưng Bãi Bổn sao không nghe tiếng sóng biển?

Có một điều làm Cao Sơn ngẩm nghĩ hoài, người tù đằng trước anh hai lần bị đánh dọc đường, một lần bằng bằng báng súng thụi vào bụng chắc. Cao Sơn nghe anh ta “hự” thật rõ, một lần thì chắc chắn ăn bạt tai, chỉ vì anh ta luôn tìm cách nói chuyện trong khi được dặn dò kỹ nhiều lần, “bọn bây không được mở miệng nói bất cứ gì” trong suốt chặng đường.

Vậy mà lúc đi bộ, có lẽ anh ta biết chắc chắn tụi cán bộ chỉ đi được ở hai đầu của hàng tù, vì con đường mòn nhỏ lắm, bước lạc chân một chút là dẫm phải gai mắc cỡ và những lá tranh bén như dao cắt xớt ống chân ngay, Cao Sơn nghe anh ta lầm bầm:

“Bến Tranh! Chắc mình đi Rạch Vẹm!”

Cao Sơn cố đi chậm một bước cho dây thẳng kéo giựt anh ta lại, xong chồm nhanh tới hỏi nhỏ:

“Sao anh biết?”

“Tui ở đây cả đời…”

Anh ta ở đây cả đời. Cao Sơn không thể không tin tưởng sự nhận xét của anh ta, nhưng biết được làm thế nào để anh ta có cái nhận xét này thì chịu. Bến Tranh, mình cũng nghĩ như vậy mà!

Rồi những cái giật chúi người làm cắt đứt từng chập dòng suy nghĩ của Cao Sơn. Cả anh cũng vậy, một lần anh ngã khụy gối đau điếng nửa bên người làm anh tự nhủ phải để hết ý vào những cái bước chân cho đến khi tới nơi hãy nghĩ tiếp. Không nghĩ tiếp nhưng vẫn thắc mắc. Bây giờ rảnh rỗi lại ngẩm nghĩ.

Ngồi tại chỗ, đến ai phải đi thì đi.

Mỗi người đều phải qua đúng thủ tục, nghĩa là được tròng vào hai ống chân hai cái còng sắt, hai cái còng sắt được nối liền bằng những mắt xích lớn lắm. Cao Sơn tự hỏi, “ở đâu mà tụi nó có được thứ này kìa?” nhưng chưa cố tìm câu trả lời vội.

Yên chỗ, thì được tháo băng che mắt. Mặc dầu biết rằng trời đã tối, nhưng Cao Sơn cũng phải nhắm kín mắt lại, “cho đúng nguyên tắc.”

Trời đất! Vách nhà tù vừng bằng vỏ cây, vỏ cây kiềng kiềng nứt nẻ. Đứng lên là có thể nhìn thấy nhiều thứ bên ngoài, nhưng bây giờ thì Cao Sơn biết rằng có đứng lên cũng không trông thấy gì. Anh chớp mắt nhiều lần rồi nhìn thật nhanh chung quanh.

Không có nền, hay đúng hơn, nền đất. Tụi này nhốt tù mắc cười thật, nhưng không sao, chỗ này chỉ nhốt tạm mà! Cao Sơn lầm bầm, chưa kịp đưa hai tay dụi mắt đã nghe vách phía bên trái, tiếng dội của một dòng nước bắn xè vào vách vừng, người bạn tù bên kia đang làm cái chuyện mà Cao Sơn muốn làm suốt chặng đường đi bộ mà chưa có dịp.

Đái ỉa tại chỗ khác, Cao Sơn nghĩ vậy.

Ở một góc “phòng” có một tấm vỏ cây nhỏ, đó là “cái giường” chớ gì? Cao Sơn quyết định bỏ hết thảy mọi việc, nằm yên một lát cái đã, khỏe, sẽ nghĩ mà biết tình hình ở đây ra làm sao ngay, đâu có gấp gáp gì. Anh nâng những mắt xích lên và nhoài người về phía tấm vỏ cây, nằm ngửa nhìn lên nóc.

Đột nhiên Cao Sơn muốn nhảy dựng lên. Nhà tù không có nóc và vách chỉ cao hơn đầu người một chút. Mẹ nó, điệu này mà mưa thì chỉ có chết, đâu phải giỡn chơi! Anh ngồi dậy ngay.

Đêm nay trời không mưa, nhưng giữa mùa mưa mà không mưa thì ban đêm muỗi hoành hành không can được. Ở đây lại là rừng, muỗi rừng thì phải biết. Cái ý tưởng đầu tiên kể từ khi Cao Sơn ngồi dậy là nghĩ tới thể chất và sức lực đang còn trong người, anh quên ngay mình đang đói, cái đói thường ngày, mãnh liệt nhất là mỗi buổi chiều kéo dài cho tới khi ngủ lịm đi được.

Nếu khẩu phần ăn giống như ở Bê Tư thì mình ở đây nửa tháng là bỏ xác. Cao Sơn tính thật nhanh nhưng biết mình không trật được. Sự “liên hệ nguy hiểm” ở đây không kéo dài thêm được với khẩu phần ăn không có khả năng tạo thành máu trong khi mỗi đêm, cố ngồi mà quơ tới sáng cũng thua bầy muỗi đói.

Chớ gì nữa? Chất bột của củ khoai vào trong người đã trở thành mủ rồi liên tiếp rỉ ra ở những vết bể trên mặt, sau lưng, dưới ống chân, ở những mụn ghẻ lở loét hai bên nách, hai bên mông đít còn đâu nữa.

Như vầy thì không khá được!

Cao Sơn thấy mình tệ hơn thằng thợ mộc Ivan Denisovich ở Tây Bá Lợi Á nữa. Nó còn dám nghĩ, dám phân phối sắp đặt cuộc sống tới cỡ mười năm mà ở đây, mình chỉ nghĩ tới nửa tháng đã thấy không ổn rồi. Để coi, hãy tưởng tượng cho ra cuộc sống ở đây như thế nào rồi mới chắc được! Khuyết điểm của Cao Sơn là thiếu óc tưởng tượng nhưng anh cố nghĩ, mình đang ở trong cùng một hoàn cảnh chắc tưởng tượng ra được, có khó gì?

Vấn đề thứ nhất là phải phấn đấu, nghĩa là cũng biết phân chia công việc, phân chia nguồn sống có được của một ngày để được sống ngày kế tiếp cho đến ngày thứ ba ngàn sáu trăm năm mươi ba của “kiếp tù” như thằng thợ mộc của Solzhenitsyn, nghĩa là cũng biết “tận hưởng hết vị ngọt của từng thớ thịt tan vữa trong nước bọt trước khi nuốt từ từ xuống” nếu được ăn một miếng thịt. Nhưng phấn đấu để làm gì kia? Phấn đấu như thằng thợ mộc Ivan Denisovich là để được sống cho tới khi hết hạn tù, phấn đấu như những người tù của Trần Văn Thái ở trại Đầm Đùn thì cao hơn một bậc, cái phấn đấu không phải để sống mà là để chết chậm hơn. Còn ở đây? Cái phấn đấu ở đây có một thời hạn nhất định, thời hạn quá ngắn, thời hạn được biết rõ ràng ngay những giây phút đầu tiên đối diện, chưa kể tới những “biến chuyển” có thể có xẩy ra bất cứ lúc nào trong một phần nhỏ của thời hạn ấy.

Cao Sơn ngồi co quắp thân người lại, cố kéo hai vạt áo đã mở banh nút che bớt phần đùi và gối. Mấy “phòng” bên cạnh có tiếng xì xào, nhỏ như muỗi kêu. Anh lần về một phía vách, dùng ngón tay trỏ búng nhẹ mấy cái, tiếng nói bên kia thì thào:

“Ai bên đó?”

“Cao Sơn, Quảng Ngãi. Còn anh?”

“Tường! Tôi biết thế nào cũng có anh.”

“Tụi mình khốn nạn rồi. Ở đây ghê quá! Mầy có chịu nổi tới nửa tháng không, Tường?”

“Ai biết được. Mẹ, qua Khám Lớn chắc đỡ hơn. Mấy người kia anh biết được ai không?”

“Tao cũng như mầy thôi, nhưng hình như có cả thằng Hà, tao nghe có đứa hít tọt tọt suốt chặng đường, nó đó.”

Bên kia, Tường ngưng một lúc thì chép miệng:

“Thôi rán ngủ, nói chuyện tụi nó đánh chết oan mạng!”

Ngủ làm sao được ? Cao Sơn mò qua phía bên kia, cũng lại gõ gõ và lần này anh hỏi trước:

“Ai ở bên đó?”

“Điền, Năm Điền! Cao Sơn hả?”

Thì ra là thằng cha dân Bến Tranh. Cao Sơn hỏi tới:

“Sao anh Năm biết đây là Rạch Vẹm?”

“Sao không! Tụi nó qua núi Chóp Chài thì tới đồng Tràm, mày không nghe cò kêu từng lúc đó sao. Rồi hồi tụi mình đi bộ, khỏi con suối nhỏ là qua đám tranh, con đường này lúc trước tao đi hàng ngày. Nó bịt con mắt, tao còn hai bàn chân chớ, tin tao đi. Mà nè, đừng có lộn xộn gì nghe, chung quanh đây tụi biên phòng đóng cả trung đoàn. Thằng Hà ở phía bên phải của tao, nó biểu nó chảy máu mũi phải nằm ngửa. Trời lạnh quá, mầy. Đêm nay không mưa đâu.”

Cha này nói nhiều thiệt. Cao Sơn tin Năm Điền ngay, mười mấy năm làm du kích huyện mà. Cha này dính líu tới chuyện chận xe hậu cần bắn chết thằng thủ trưởng người Bắc rồi giải thoát sáu người tù trên đường đi Cây Dừa tháng trước. Hồi này tụi địa phương và tụi chính qui đụng nhau mạnh quá, Cao Sơn biết vụ này hồi còn ở Bê Tư lận mà!

“Tụi mình toàn thứ dữ không hà nghe Cao Sơn. Không chừng ở miệt mài. Nhưng phải chi nó đưa thẳng qua Khám Lớn, mẹ nó, ở đây khó chịu thấy mẹ. Tao mới… làm ít cục, cũng lấy đất lấp lên như người ta, thằng Hà dưới gió cằn nhằn quá trời. Tao đói quá, Cao Sơn.”

Ai cũng đói chớ riêng gì Năm Điền. Ở tù Cộng Sản thì đói là đòn đầu tiên, mà cũng là đòn chí tử. Một miếng ăn, không còn ý nghĩa của một món ăn nữa, nó mang ý nghĩa của cả một đời sống. Người tù, nếu muốn được luôn luôn nghĩ rằng mình có thể sống sót được ít nhất hắn phải nghĩ rằng mình có khả năng ăn được tất cả, ăn được tất cả…

Tường, Năm Điền, Hà và mấy người khác nữa, dường như ai cũng nhìn thấy cái chết trước mắt, nhưng Cao Sơn biết rõ một điều, mọi người, ai cũng quá coi trọng sự chết nên cố tình lờ đi, không khi nào nhắc tới. Họ chia sẻ với nhau những cái khó chịu đang gặp phải. Cao Sơn hỏi Năm Điền:

“Mà sao tụi nó bịt mắt mình chi vậy, anh Năm?”

“Mẹ, sao mầy không hỏi tụi nó? Tao thì nghĩ rằng đây là trại mới, tụi nó không muốn cho lộ vậy thôi. Mầy thấy không, vách vừng còn mới tinh. Mấy cái “phòng” này nhiều lắm là hai ba người ở trước mình thôi, không nhiều đâu. Bộ mầy không nghe nhiều vụ lộn xộn tháng rồi hay sao, tụi du kích địa phương Khu Tượng, Suối Mây tự nhiên rút vô rừng. Hồi ở Bê Tư mầy không thấy có thằng cha Hai Khoa bị bắt đó sao.”

Cha Hai Khoa là dân tập kết về. Cao Sơn có nghe nói, cha này mới đầu thì hay cãi cọ với đám cán bộ huyện, miền Nam miền Bắc cũng cãi tuốt, rồi bẵng đi một thời gian không hiểu sao chả bị vô Bê Tư. Với bản tính e dè thường nhặt, Cao Sơn ít khi lân la hỏi chuyện. Không biết trong chuyến đi này có Hai Khoa hay không.

Cao Sơn trở về “giường” cũng chỉ ngồi với tư thế cũ, đầu gục vào gối suy nghĩ miên man. Anh nghĩ tới Thân, Quang và tụi bạn còn ở ngoài. Tụi nó giờ này ra làm sao rồi? Những lời khai của mình chắc chắn là không làm phiền tới tụi nó, nhưng biết đâu. Rồi Cao Sơn nghĩ tới Năm Điền, tới Hai Khoa, những người ở trong tù, những người ở ngoài tù. Anh mơ hồ có cái cảm tưởng bất cứ ai sống trên đất nước này cũng có tội, và người ta bị kết án bởi chính đời sống đó.

Ờ, người ta phạm tội tất nhiên như người ta sống trên đời. Cao Sơn cố nhắm chắc hai mắt lại nhất định không nghĩ gì thêm nữa. Anh biết mình chết rồi, một người chết nghe được tiếng vỡ nát của đời sống mình.

Bây giờ chắc đã là nửa đêm!


Măng Đầu Mùa, tuyển truyện Võ Hoàng & Tưởng Năng Tiến, Hương Quê phát hành 1982.

Góc Bể Bên Trời (20)

VÕ HOÀNG

Bên trời, ở một góc bể xa lạ, khuya, A Kiếu nói với thằng Hải:

“A Kiếu biết làm như vậy thì A Kiếu không có đi đâu. Ở lại trại với ba má còn hơn…”

Rồi nó ôm ghì lấy thằng nhỏ, khóc rưng rức.

Trước phòng lái cũng có tiếng khóc, thằng Cụt. Nó khóc vì bị đánh. Thằng Chí từ đàng trước nắm mối dây neo còn dư đi lòn ra phía phải, xỏ dưới con lơn cột thêm cho chắc, xong nghiến răng:

“Cái thứ của mầy, tao giết không biết bao nhiêu thằng rồi, còn sót có mình mầy. Chui xuống hầm cho khuất con mắt. Ở đó lạng chạng tao xô dưới biển thấy mẹ mầy.”

Một dọc hai bên be, có hơn mười đứa ngồi im thin thít. VNKG 0042 ADC vừa trải qua nhiều cuộc náo loạn. Hình như lúc này ai cũng mệt mỏi, không thiết trò chuyện với nhau nữa.

Thằng Văn lo xong cái thùng phuy cắt đôi ra rồi cầm “can” dầu trút đó. Nó im lặng nhét vội cái mền màu cứt ngựa vô rồi lại tưới dầu lên. Thanh nói với nó:

“Đừng đổ nhiều quá, sóng lắc mạnh bị lật. Mày phải để xuống nước rồi hãy đốt.”

Lúc một mảnh của cái thùng phuy bốc cháy và trôi băng đi, Thanh mới nhận thấy nước dòng này chảy ghê quá. Chớp con mắt một cái, nó trôi biệt ngàn. Cứ cái điệu này, tới sáng sớm, ghe không gặp được tàu nào thì thua cuộc. Hiện tại, anh chưa xác định được rằng mình đã lọt vô hải phận Úc hay chưa.

Theo hải trình, còn không đầy ba mươi sáu tiếng đồng hồ nữa là bọn anh tới được vùng vịnh hải cảng Darwin thì máy bị hư. Máy tự động ngưng nổ. Khói đen bốc hừng hực từ dưới hầm máy. Đầu nắp quy láp bị bể.

Từ chạng vạng cho tới bây giờ, không biết là bao nhiêu chuyện gay cấn xảy ra. Trước hết, anh em thằng Hùng chưởi nhau, đánh nhau phải can ra. Thằng Minh Quảng Ngãi nổi cơn khùng bất tử nhất định thả phao xuống “lội vô bờ.” Vợ thằng Phong giành thùng nhựa với thằng Cụt chứa nước uống để thủ thân. Thằng Chí lấy búa bửa bàn thờ Bà Thủy quăng xuống biển sau một lúc cãi lẫy với đứa này đứa nọ. Rồi thằng Trường, thằng Phong, thằng Tịnh, ba thằng trụ cột của cái máy đổ thừa nhau trách nhiệm.

Thanh thông cảm hết mọi điều. Khi thằng Phong ở dưới hầm máy chui lên nói lớn để mọi người cùng nghe “Máy hết chạy được rồi!” thì chính anh cũng nghĩ trước tiên những điều kiện để được sống sót cho riêng mình. Một can nước uống chẳng hạn, giấu và không chia sớt cho ai rồi sau đó, mới tới ai là người đáng được chia sớt…

Vợ thằng Phong nói với chồng:

“Người ta nói gặp rắn thì đi, gặp qui thì trở lại. Mấy cha nội tui tự dưng ở đâu xin cho được con ba ba, vít lửa để trên ghe, tui biết là xui lắm mà không dám nói.”

Thằng Phong:

“Bà im cái miệng bà lại đi. Người ta lo trối chết, bà ở đó bà lải nhải. Chết thì chết hết chớ mình ênh bà sao bà nói hoài. Vậy chớ hồi đi, bà đã không kể chết rồi sao?”

Thằng Minh Quảng Ngãi:

“Từ đây đi vô bờ, lội ba ngày tới không anh Thanh? Mình cách bờ xa không? Nước có lạnh không? Ở đây có cá mập không?”

Thanh ngó nó:

“Mầy muốn lội thì nhảy xuống lội đi. Mà coi chừng ma da, hà bá.”

Thằng Chí thì cằn nhằn:

“Mẹ, ngày nào cũng thắp nhang đều chi, mà tới chuyện, ông bà ở đâu trốn hết. Để cái ‘trang’ chình ình ở đó làm gì?”

Thằng Giàu, thằng Văn can nó một hồi cũng không lại. Nó có cây búa trong tay mà.

Bây giờ thì thằng Văn lo xong việc đốt lửa làm hiệu, nó quay qua thằng Chí:

“Bà Thủy phạt mầy mà lây tới tụi tao, tao quăng mầy xuống biển giống như cái thùng dầu dơ đó.”

Trong đêm tối, thằng Chí ưỡn lưng, hẩy bụng đưa của quí cho thằng Văn, nó xì một tiếng nhỏ trong miệng.

Tình trạng còn rất nhiều hy vọng. Hồi chiều, Thanh nói với mấy đứa đứng lớ ngớ trong cabine:

“Máy không chạy được nữa, nhưng bây giờ mình lọt vô hải phận nước Úc rồi. Sớm muộn gì mình cũng gặp tàu. Đêm nay mình đốt lửa làm hiệu, thế nào cũng có người thấy.”

Còn một cái bình điện dư bỏ lâu nay, Thanh đem lên bắt chung dây với cái bình đang xài, dùng cho đèn pha.

Thanh nói với Chí:

“Nước chảy cỡ đó thì quăng neo xuống, nó kéo ghê lắm. Neo không ăn thì neo làm chi, Chí. Càng lúc mình càng đi xa bờ Úc thì phải rán mà làm cho đứng lại một chỗ chớ. Chặt dây đi!”

Thằng Chí tiếc sợi dây hoài nên cứ nấn ná, mà kéo neo trở lên thì kéo không nổi. Bốn đường dây, vị chi gần ba ngàn thước. Nó chịu thua nhưng cứ ngồi ngó đường dây cầm chừng. Chút chút xách cái mối dư đi tới, đi lui.

Thằng Nghiêm thì vừa bước qua cái nắp thùng nước uống, vừa bỉu môi nói với thằng Hòa:

“Non nước này mà ngồi một đống ở đó, ôm xà nẹo, xà nẹo. Tưởng như vậy là hay chắc! Mẹ…”

Nó liếc về phía A Kiếu, thằng Hải.

Ám ảnh của cái chết ít nhất cũng một lần đến trong đầu từng đứa, thành ra, có đủ thứ chuyện lạ lạ xảy đến. Thằng Hùng nói với em nó:

“Thầy bói nói anh sống tới bốn mươi mấy tuổi lận mà.”

Thầng em trừng con mắt ngó anh, không đáp gì hết mà cái miệng mấp máy.

Thanh cầm đèn pin chui trở xuống hầm máy. Ba bốn đứa, mình mẩy đầy dầu nhớt, lom khom, tháo ráp. Trường chửi thề:

“Mẹ, máy ba bloc đầu bạc mà như c.”

Thằng Tịnh:

“Phải chi cái hồi mới nứt, có khói ít ít, anh Trường tắt máy liền thì đâu đến nỗi.”

“Mầy biết cái củ c. gì mà nói.”

“Sao không biết!”

“Biết sao mầy không làm?”

“Làm sao được mà làm?”

“Mẹ mầy, mầy nhỏ mà hỗn hả?”

“Hỗn cái gì.”

Toàn là những chuyện đâu đâu không. Thanh nhờ tụi nó kéo cho hết đường dây của cái bình điện dưới hầm, đem lên trên luôn.

Cái kẹt của bọn anh là trời tối nay trong sáng quá. Mây thấp không có mà mây cao quá, đèn đi không tới. Gần như tất cả những cố gắng của bọn anh, chỉ ở giữa lưng chừng trời. Ánh sáng đèn không đi thành tia được, hình như nó lên được ít thước trên cao rồi tan mất.

Xa xa, bốn đốm lửa lập lòe nhấp nhô, ma quái quá. Thanh nói với thằng Triều:

“Mầy để ý việc gạo thóc với nước uống dưới ghe nghe Triều. Thằng nào lạng quạng chặn họng nó lại.”

“Cái bình hơi” nghe lọt được, tiếp lời Thanh:

“Mình phải tổ chức cho kỹ, chia sớt, dành dụm gạo thóc, nước ngọt. Mấy anh cho Nhung tiếp với. Ăn cháo cầm hơi nghe không. Chưa biết chừng nào mình gặp được tàu đâu.”

Rồi tất cả trở lại im lặng, tịch mịch. Thứ im lặng thiệt sự. Qua khoảng hở giữa hai cái đầu của thằng “bộ đội,” của “cô thịt chó,” Thanh nhận ra được có một đốm lửa sắp tàn đàng xa. Anh nghĩ tới Cha, tới Phượng, tới thằng Canh, nhỏ Thảo, rồi nghĩ tới quyển kinh Quan Đế, cái bàn thờ Bà Thủy. Còn có một sự liên hệ nào giữa những hình ảnh mông lung đó với cuộc đời tàn ở đây, ở một góc biển xa lạ, ở một cảnh trời xa lạ. Anh quay trở lại Triều:

“Chắc phải làm thêm một cái thùng phuy nữa, mấy cái kia sắp tàn hết rồi.”

THAY ĐOẠN KẾT

Sáng ngày 29 tháng 3 năm 1978 thì VNKG 0042 ADC nhận được tín hiệu từ một chiếc phi cơ của Hải Quân Úc Đại Lợi.

Bản tín hiệu được cột cặp với cái phao dù và quăng xuống nước ngay đầu ghe. Thằng “bộ đội” bắt lấy và đưa cho Triều. Triều đưa lại cho Thanh. “Chánh phủ Úc Đại Lợi chào mừng quý vị ghe số 0042.”

Năm giờ chiều cùng ngày, ở vịnh Darwin, Thanh bước qua ca nô của Cảnh Sát Hải Cảng để vô trụ sở của họ, có thông dịch viên Việt Nam đi kèm. Anh phải đối chất về việc cả bọn bị tố cáo là đã cướp chiếc ghe của cảnh sát Thái Lan. Hai tiếng đồng hồ sau đó, Thanh được biết mình bị tạm giam cho tới khi có sự chứng nhận từ Bangkok, chiếc ghe đó không phải là ghe của người Thái.

Thanh bước đi theo người cảnh sát Úc bằng những bước thật nặng sau khi nói với người thông dịch viên:

“Chiếc ghe đó từ nước mình chạy qua. Bỏ nước mà chạy, thì của ai cũng được. Sao anh không nói với tụi Úc như vậy?”


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (19)

VÕ HOÀNG

“Mười rằm trăng náo, mười sáu trăng treo.” Hai đêm rồi ở biển lớn, VNKG 0042 ADC vẫn âm thầm tiến dưới bóng trăng giữa trời tháng ba.

“Hừng sáng là mình đi ngang đảo Sumbawa, tới trưa là ghé hòn Lahaluta, nghỉ máy được rồi.”

Triều dán mắt vào bóng đêm, không đáp lời Thanh.

Sóng, lượn nào lượn nấy cao bằng nửa cái núi nhưng không bỏ vòi thành ra ghe nhỏ chạy càn lên đó, nhồi mà không lắc.

Thanh giở quyển tập ghi chép hải trình coi lại. Từ ngày 9 tới hôm nay, 26, trừ ra một số ít giờ đậu nghỉ máy, cặp tàu và ba đêm ở Djakarta, chiếc ghe mười sáu thước dài, ba bloc đầu bạc đã làm hết sức của nó. Tội nghiệp!

Nhiều lúc Thanh tự hỏi, có bao nhiêu sự dồn nén, ẩn ức trong tất cả những thứ hiện diện ở đây? Từ tấm thân gầy gò, đen thui của thằng “bộ đội” đến cái ống “xẹt măng” hừng hực nóng, khói nhớt ri rỉ chui qua những mảnh sét bao lâu rồi ấp ủ, từ cái khuôn mặt đầy mụn mủ của thằng Văn với bàn tay một ngón, gân xanh nổi dồn của thằng Cụt, rồi bên trong cục bướu của “cái bình hơi,” bên ngoài lớp rong rêu bám đầy thân ghe, tất cả!

Đêm qua, đêm đầu tiên trong đời Thanh ra biển lớn, Ấn Độ Dương, và lại là đêm trăng sáng nhất trong chuyến đi. Đúng vào đêm nguyệt thực toàn diện. Thanh cảm thấy mình thật sự sống trong một ngày bắt đầu của cuộc đời khác.

Từ đầu hôm, lúc mà ánh trăng tự dưng cuốn khoanh lại rõ vành và ngả màu vàng nhạt thì trên ghe, cả bọn náo động. Tụi nó tranh nhau tìm chỗ nằm tốt, ngửa mặt mà ngắm. Chưa tới nửa đêm thì kể cả Thanh cũng quên tuốt rằng trên đầu mình, một bằng cớ biểu hiện của sự đổi thay đang thay đổi.

Thằng nào ngủ, thằng nào thức? Và thằng thức thì đang nghĩ gì? Đàng trước, thằng Chí cuộn tấm mền lên tới cổ ngồi nhìn ra đâu đâu, đàng sau, “cô thịt chó” nằm nghiêng người, tay chống gò má cũng nhìn ra đâu đâu.

Rồi cái thẩn thờ không hẹn mà đêm nay đến với tất cả mọi người. Có lẽ dư nhiều thì giờ quá, không ai nghĩ tới chuyện ngủ mặc dù hơn nửa đêm rồi. Vợ thằng Phong còn không ngủ nữa mà! Lạ cái nữa là nhiều người thức, nhưng không ai nói gì với ai cả.

Gần hai chục ngày, tiếng máy nổ đập chát hai bên mang tai riết rồi cũng quen. Có khi, Thanh quên nó đi được và cảm thấy trời đất im lặng, tịch mịch, quái dị. Trong cái không gian nửa đêm nửa ngày này, sao tự dưng thấy mình lạc lõng, nhỏ nhoi quá!

Thanh nhớ nhà quá, nhớ cái sườn dốc núi nghiêng nghiêng mà ngạo nghễ, thách đố, chắc nịch từ hướng bờ biển chạy dài vô lòng đảo. Nhớ những ngày tháng ba này năm nào, đất quê khô nứt mà có quá nhiều rau cải xanh mượt xấp từng luống, từng hàng. Người ta thừa sức sống, thừa sức ngoi dậy từ những cái ép uổng của trời đất, từ những cái tráo trở của cuộc đời này mà! Cả năm nay, kể từ ngày Thanh bỏ đi, đã có bao nhiêu thay đổi?

Nói làm sao cho hết được tâm tình của một người tự dưng lưu lạc cả năm rồi mà chưa có một nơi nương tựa, dung thân, bỗng một đêm khuya nghĩ về cái hốc núi âm u, nghĩ về cái bìa rừng bốc khói đã có lần mơ ước dựng lên đó căn chòi lá, bên cạnh mấy giồng khoai… Xong rồi cuộc cách mạng máu lửa dai dẳng với đủ thứ khủng bố, lừa đảo, con người ta chỉ còn có những ước mơ. Rồi phải tới lúc quay đi, mang theo.

Mà không đi thì phải làm sao? Có lần, Cha nói với Thanh “Sẽ có lúc mình phải luôn luôn nói dối mới có thể sống được. Sẽ có những đứa hèn hạ sống khỏe hơn những đứa không hèn hạ. Sẽ có lúc con người ta chỉ còn biết tìm nguồn an ủi bằng cách trông chờ ơn trên giải thoát cho mình. Sẽ có lúc con người ta chỉ còn biết hài lòng với chính mình bằng sự thờ ơ của những người chung quanh. Sẽ có lúc con người ta nói tới hai điều trái ngược nhau mà vẫn tưởng là một.” Còn nhiều thứ “sẽ có lúc” nữa, Thanh nhớ không hết, nhưng chung quy toàn là những thứ dù muốn dù không, một người có tối thiểu một người thân, phải rán mà tránh đừng để có “cái lúc đó” xảy đến.

Sống mà phải nói dối người này nói dối người nọ thì khó thiệt. Cuộc đời, theo Thanh, cho dù có khốn đốn đến cỡ nào, con người ta tối thiểu còn lại cái chữ tín để ấp ủ. Có đâu như vậy?

Cho tới bây giờ, Thanh vẫn chưa hiểu được cái môi trường để sanh ra và nuôi dưỡng một loại người như vậy từ đâu mà có. “Người mình từ hồi nào tới giờ, cái gốc là sống với nhau bằng chân tình. Tụi này nó về, nó đã không có tình, còn dối nhau, vậy mà nó vẫn sống, vẫn thắng. Mới kỳ!”

Những ngày cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, một lần, ông bác ghé thăm Cha, có nhắc lại những ngày còn ở Liên Khu Năm. Thanh không thấy rõ những cái không ổn trong đó mà thiệt tình, Thanh tin ông bác nói thật lòng: “Chú nó coi, mình dìa, là mình biết mình dìa phía bên thua. Trước sau gì cũng thua mà! Có điều, ở lại trong đó, quá nhiều bực mình. Mà không chừng mình mất mạng như chơi.” Rõ ràng có một sự lựa chọn khắc nghiệt mà Thanh vẫn chưa hiểu rõ lắm cái mức độ khắc nghiệt tới cỡ nào. Niềm tin tất thắng của phía bên kia ở đâu mà có?

Chiều qua, thằng Văn hỏi thằng Triều:

“Sao mầy không ở bển, làm rẫy, đánh cá, mà đi làm chi cho khổ như vầy?”

“Ừ! Đi khổ thiệt. Mà điều ở bển, lâu ngày tao thấy tao ghét. Ai đời ông bà ông vải mình, mình thờ mình cúng mà nó vô nhà nó kêu thờ cúng là cái gì đó sai đường lối, rồi một hồi nó biểu thờ ông Hồ Chí Minh. Phải nó là cha người ta không?”

“Nếu như tụi nó không làm mầy bực, mầy có đi không?”

“Đi làm chi. Thời nào cũng vậy thôi. Để yên cho người ta làm ăn, thì ai mà không khoái.”

Hai đứa nói chơi nhiều thêm nữa nhưng Thanh biết, đứa nào cũng thiệt lòng.

Bây giờ, thằng Triều ngồi im lặng hút thuốc. Mặt nó ngó ra ngoài vùng ánh sáng vàng vọt của trăng nguyệt thực. Thằng Chí nằm dật dựa thòng một chân xuống sàn cabine, chút chút đưa tay gãi chỗ này, chỗ kia. Nó chưa ngủ, nhưng nó đang nghĩ gì? Thằng Triều đang nghĩ gì?

Cho tới lúc trăng bắt đầu nhả, thằng Chí nhảy xuống, mò thuốc hút, nó nói với Thanh:

“Mặt trời ăn mặt trăng như vậy, ở xứ mình chắc cũng thấy hén Thanh!”

Rồi nó không chờ nghe đáp lời lại, vội vã nhảy trở lên, tiếp tục nằm ngửa mặt lên trời.


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (18)

VÕ HOÀNG

Mười một giờ sáng hôm sau thì bọn Thanh đi lọt vào con nước giữa hai hòn đảo Bali và Lombok. Con nước nằm ở khoảng kinh tuyến 116 về hướng đông và xuyên thẳng xuống Ấn Độ Dương đúng 180 độ.

Bắt đầu từ khi máy nổ buổi sáng sớm, không khí trong lành cộng với vẻ tấp nập của con đường hàng hải quốc tế làm cho Thanh thấy ấm cúng.

Hàng loạt những con tàu buôn xuôi ngược với đủ thứ quốc tịch. Thường thì họ nhìn bọn anh với cặp mắt là lạ, có khi họ cho tàu đi gần sát và bóp còi inh ỏi. Bên này, thằng Triều cũng không chịu thua, nó bóp còi trả lễ.

“Chiều tối là mình lọt xuống Ấn Độ Dương rồi nghe Triều. Chặng cuối đó, mà nguy nhất đó.”

“Sóng lớn không?”

“Ai biết. Nhưng chắc chắn là phải khá hơn bất cứ tháng nào trong năm. May cho mình lắm chớ không phải chơi đâu. Hồi đi, thật tình tao không nghĩ tới đoạn này. Mình tưởng nó cứ là biển như các biển khác.”

“Vậy thì khác cái gì?”

“Khác nhiều. Biển lớn khác nhiều. Mầy không thấy từ mặt nước lên cao tới gần phân nửa các dãy núi không có cây mọc sao? Sóng đánh quá mạnh thì cây cối nào chịu cho nổi. Mà đó là chỉ ở trong kinh này thôi. Mình lọt ra mặt nam của đảo này thì biết.”

Thằng Triều im lặng, suy nghĩ. Thanh tiếp:

“Sóng biển lớn thường thường thì không ảnh hưởng của gió mùa theo vùng nào cả. Nó quanh năm biển động. Nhưng mà không sao đâu, liên tiếp mấy ngày nay gió về hướng nam không hà. Ra tới đó, sóng có lớn cỡ nào cũng không thể bỏ vòi được. Ghe mình nhỏ thì chỉ sợ sóng bỏ vòi thôi, còn sóng lượn bằng cái núi cũng chấp.”

“Chà, chừng đó giống như là sãi ngựa, lên cao chót vót rồi xuống ào ào, sướng à.”

“Ừ. Tao cam đoan là mình sẽ không gặp rắc rối về sóng gió.”

“Chỉ cần máy không hư là yên chuyện,” thằng Chí góp ý. “Mà chắc không hư đâu.”

“Mầy chắc không? Phải hỏi lại thằng Trường, thằng Phong. Tụi nó là tài cải, tụi nó có quyền trả lời.”

“Đừng nói vậy chớ Triều. Chuyện hên xui ai biết được. Mà tao thì nghĩ vậy thôi. Tao tin là tao sẽ không chết ở tuổi này. Thầy bói nói mà.”

Thanh ngắt lời Chí:

“Mầy cũng tin dị đoan à?”

“Tin chút chút. Mầy không thấy có lần tao thắp nhang đó sao. Mình có lòng thành tốt hơn chớ!”

“Cái thằng không sợ người mà cũng biết sợ thần thánh. Làm như nó hiền đức lắm.” Thanh cười:

“Lúc nào mầy sợ chết, mầy mới vái ông bà phải không?”

Thằng Chí nghe nói thì nín. Triều cười lớn:

“Chớ gì nữa! Qua tai nạn thì nó quên hết trời phật, vái bao nhiêu bỏ luôn…”

“Giỡn mầy,” Chí cãi. “Tao công nhận tai qua nạn khỏi rồi thì ít khi tao nghĩ tới trời phật, nhưng đã vái cái gì là phải cúng cái đó. Uy tín mà!”

“Cái bình hơi” là gái, lại là gái xấu ỉnh, đêm qua nói tới chữ tín, bây giờ đến phiên thằng ba đá này nói tới uy tín. Thanh không nghĩ nhiều cũng biết được cả hai người đều nói thật lòng và anh tin ở lời nói của cả hai.

Thằng Chí cười, nói tiếp:

“Mầy còn nhớ thằng cha Ba Khước ngoài đầu Cồn không Thanh. Tụi tao đặt chả là cha Ba Gà.”

“Bị cá ba gà đâm phải không?”

“Không, mắc cười hơn.”

Triều xen lời hỏi với giọng ngạc nhiên:

“Cá ba gà gì?”

“Mầy biết cái mẹ gì con cá đó. Xứ mầy, chắc kêu là cá phướn đó. Ở Phú Quốc kêu là cá ba gà. Có người bị đâm, khóc mấy ngày mấy đêm, phải vái cúng ba con gà mới hết nhức.”

“Phải con cá nhỏ bằng hai ngón tay mà đẹp hơn cá lia thia Tàu nữa phải không?”

Thanh đáp ngay:

“Đó đó, nó đó. Đẹp lắm, hình như nó đẹp nhứt trong những con cá biển mà tao từng thấy. Nhỏ như vậy mà đâm một cái, thằng lì cỡ nào cũng la trời mấy ngày.”

“Rồi, tao biết rồi. Mà vái ba con gà có hết nhức không?”

“Ai biết đâu, tao nghe nói vậy thôi.”

“Còn chuyện cha Khước cha khẹo gì đó thì sao?”

Chí im lặng một lát, kể chầm chậm:

“Thì cũng là chuyện gặp điều lo sợ thì vái van vậy mà. Chả đi lưới ông Non ở ngoài cồn. Bữa đó gặp một mẻ cá bạc má lớn quá mà ông Non hồi nào tới giờ mang tiếng là đánh cá dở ẹc. Chả thấy mẻ cá quá lớn thì vái, vái thầm thôi, đánh trọn mẻ cá này cúng một con gà. Tới chừng bỏ lưới xuống, khấu ngáng lại rồi, thấy cá nó đóng quá, chìm hết phao, chìm mất luôn, bẩy tám người trục không lên, chả lại vái thầm là trục lên hết được cúng con gà nữa. Tụi bây biết không, đánh lưới xuống nước rồi, chín mười tiếng đồng hồ sau mới lấy hết lên được, cá nó muốn sình hết trơn. Từ đó mà chạy về cửa mấy tiếng đồng hồ nữa, còn mẹ gì, bán cho ai. Rồi tới cửa, ghe khẩm quá, lại sóng lớn, cha Khước vái nữa, vái là vô cửa bình yên cúng con gà nữa. Về tới cồn, cá sình rồi cũng phải tuôn lưới xuống nước cho rục đầu đặng mà rũ bỏ. Mặt chả buồn xo. Ông Non hỏi, chả nói là chả vái tổng cộng ba lần ba con gà mà không được đồng nào mẻ cá này. Tụi tao nghe, tụi tao cười từ đầu hôm cho tới sáng, ngủ thức dậy thì cười tiếp. Từ đó, ở dưới ghe, ai cũng kêu chả là cha Ba Gà.”

“Mà chả có cúng không?” Thanh hỏi.

“Cúng. Một hơi ba con gà, dưới ghe nhậu đã hết.”

“Ừ, phải cúng chớ!”

Triều tặc lưỡi:

“Đúng rồi, sống nghề biển đã không thể giỡn mặt với ông bà được. Coi vậy mà linh lắm.”

Chuyện có vậy mà đàng sau, tiếng cười A Kiếu vang vang lên. Tiếng thằng Chí kể chuyện bay theo gió lọt ra sau, mấy người con gái nghe chắc kỹ.

Không khí dưới ghe bữa nay vui hơn tất cả bữa nào hết. Trong cabine cả chục thằng nói chuyện huyên thuyên. Các câu chuyện mới đầu xoay quanh vụ ba con gà rồi dần dần chia ra hai ba tốp, đứa đứng đứa ngồi.

Thằng Hoà, thằng Văn xúm nhau xem xấp bản đồ Thanh bày ra trên tấm ván cạnh cái hải bàn, xì xào. Thanh bước ra ngoài. Gió heo thổi nhè nhẹ về phía trái ghe, lá cờ S.O.S. không biết rút dây hồi nào bay vật vờ. Thanh quay vô trong, nói trổng:

“Đứa nào ra lấy dây cột lá cờ lại. Mình đi đường trường đâu có cần phải trương lên.”

“Đi đường này khỏe hơn đi đường trong không Thanh?”

“Tao chắc là khỏe hơn.”

“Đường trong nhiều đá ngầm phải không?”

“Ừ, nhiều đá ngầm mà mình phải để ý nhiều thứ quá. Chẳng hạn như những hòn đảo nhỏ lớn chi chít, rồi sóng gió bất thường, mấy cái giáp nước tùm lum, nguy hiểm lắm. Mà đi lâu…”

Thằng Trường xoa xoa tay:

“Hai ngày nữa là phải thay nhớt nghe Thanh.”

“Ừ, hai ngày nữa, cao tay thì mình chỉ đi tới hòn đảo Lahaluta ở ngoài khơi Sumba. Ở đó, đậu núp trong sóng thay nhớt, nghỉ máy rồi trực chỉ tới Úc.”

Tụi kia nghe nói về đoạn đường cuối bằng giọng tỉnh táo và tự tin của Thanh, mặt đứa nào đứa nấy mừng lộ ra mặt.

Thằng Văn lần tay trên bản đồ, lầm bầm:

“Để coi… Lombok, rồi tới Sumbawa, rồi tới Sumba. Hòn đảo Lahuluta ở đây. Chà, sát một bên Úc. Đã thiệt.”

Hai ba đứa lại châu đầu xuống.

Thanh hỏi Trường:

“Chặng cuối mình phải đi tới gần bốn ngày. Không thay nhớt chắc được chớ gì?”

“Kẹt thì phải như vậy. Nếu không sóng lớn quá thì mình thả trôi mấy tiếng đồng hồ thay nhớt cũng được.”

“Không được. Ra tới đó mầy sẽ thấy nước nó chảy cỡ nào. Mấy tiếng đồng hồ nó trôi mấy trăm hải lý, làm sao mầy biết mầy ở đâu. Tới Úc được mà lọt vô đám sa mạc thì bỏ xác.”

“Neo không được sao Thanh?” Triều hỏi.

“Đó, ở trong lòng đảo Bali chỉ là màu xanh trắng mà xài hết bốn đường dây neo, neo mới tới. Ra khỏi con kinh này, màu xanh đậm. Tới khoảng hòn đảo Lahaluta thì xanh đậm đen. Mầy quăng neo chưa chìm tới đáy thì ghe mầy trôi biệt ngàn rồi.”

Thằng Văn lại lầm bầm:

“Để coi, đảo Lahaluta… ra một chút. Nước sâu mười tám ngàn. Mười tám ngàn gì vậy anh Thanh?”

“Bộ. Mười tám ngàn bộ tính ra gần sáu cây số. Sáu ngàn thước thì neo nào cho tới?”

“Teo thiệt. Cái này mà lọt xuống, chìm chưa tới đáy là sình nổi trở lên.”

“Bây giờ còn khoảng hai tiếng đồng hồ nữa là ra biển lớn. Kêu tụi nó nấu cơm ăn cho no, ra đó sóng lớn khó nấu lắm đó.”

Thằng Triều la lớn:

“Ê Thanh, cái tàu này nãy giờ tụi nó chạy cặp sát mình hoài, tao hụ còi mầy ra đàng trước phất áo kêu nó cho ghé lại mình xin đồ.”

“Thôi, mình có thiếu gì nữa đâu mà xin.”

“Thì kệ, đồ khô để dành lỡ có bề gì.”

Thật tình thì cũng không lấy làm chắc là mình sẽ không có bề gì. Tuy nhiên, theo Thanh, phải cặp một chiếc tàu để xin xỏ thứ này thứ kia chẳng qua ở những lúc anh không thể không xin.

Bắt đầu chặng đường này, ngay từ buổi chiều ra cửa Djakarta, Thanh tự nhủ, đoạn này mình có thể tự túc và tự giải quyết hết thảy mọi vấn đề. Cái tự ái mỗi lúc mỗi lớn sau những lần ghé tàu đã làm cho anh cảm thấy ái ngại mỗi khi nghĩ tới chuyện phải ghé lại chỗ này, phải ghé lại tàu kia…

Thằng Triều hụ còi. Đằng trước mấy thằng cởi áo quơ lia lịa, có đứa làm loa tay hú như Tarzan kêu voi. Năm bảy thằng thủy thủ nãy giờ đứng tựa bao lơn nói gì đó, chỉ chỉ chỏ chỏ qua bên này nhốn nháo.

Thằng Triều cho ghe chạy cặp gần hơn. “Ở trong kinh, tụi nó chạy tà tà quá. Mình chạy cỡ này có khi còn nhanh hơn nó.”

“Cây cờ chánh của nó cột ở đâu Thanh?”

“Ai biết đâu, nhưng phòng lái nó vẽ lá cờ lớn vòng qua tới bên kia đó.”

“Sao lại chữ thập màu xanh há!”

“Ừ, tụi Hy Lạp mà.”

Tàu Hy Lạp vẫn không đổi tốc độ. Khi thằng Triều cho ghe chạy gần lại, chiếc ghe nhẩy trườn lên những lượn sóng do tàu gây ra, bọt nước phủ tràn ra tới sau cabine. Thanh hét nhỏ:

“Thôi Triều. Tàu nó chạy mà gần làm sao được. Sóng đập ướt nhẹp hết.”

Cùng lúc, bên tàu mấy thằng thủy thủ động tay ném vài thứ qua ghe. Gần hết những thứ này lọt dưới nước. Đàng trước có thằng la:

“Nó cho đồ.”

Vài giây sau, lại có thằng la, nhỏ hơn:

“Đ. má nó. Nó liệng cam thúi.”

“Cam thúi.”

“Nó liệng, chớ không phải cho.”

Thanh lặng người. Anh bước hẳn ra ngoài, sau khi trườn mình hất tay thằng Triều và đẩy vô lăng về trái. Từ đó ra tới nắp hầm số hai có mấy bước, anh nghĩ thật nhanh và thầm mong đó là những trái cam tốt vì sức liệng và sức rơi, bị dập. “Để khỏi thấy xót xa, hay đúng hơn, để bớt thấy xót xa…”

Nhưng được vài bước, anh dừng lại, hét:

“Đ. má. Quăng bỏ hết. Quăng hết!”

Tụi kia chưa kịp ngơ ngác, Thanh nhỏ giọng lại:

“Không phải cam thúi đâu, xa quá mà, nó liệng qua dập hết. Không thằng nào ăn hết. Bỏ đi.”

Rồi anh quay trở vô, nghe đầu óc nặng chịch. “Cho dù thế nào, mình vẫn cảm thấy đau. Cố tránh không dám nhìn tận mắt những trái cam, cố nghĩ thật tốt lành về những trái cam mà cũng không ổn được. Đúng ra, nó cho mình cũng không nên cho bằng cách đó. Có lẽ tại vì nãy giờ, lá cờ S.O.S. bay vật vờ, tụi nó thấy tụi nó ghét.”

Thanh kéo hộc tủ lấy gói thuốc. Anh cầm ở tay mà cúi đầu suy nghĩ. “Thật ra cái thân phận mình chỉ có đồng bào mình hiểu với nhau. Thế giới này nhiều người vô tình quá.” Anh nhớ lại hình ảnh cô Linda, mục sư gì đó ở Songkhla, rồi viên Đại úy người Nam Dương, cố tìm một chút an ủi.

Thằng Văn trở vô cabine, một nửa người ướt sũng nước, nó nhăn nhăn:

“Cam thúi thiệt, anh Thanh à. Mẹ nó.”

“Ừ. Thay áo đi. Tiếp tụi nó nấu cơm nhanh, ăn cho kịp ra biển lớn…”


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (17)

VÕ HOÀNG

3 giờ sáng ngày 24 tháng 3-1978.

Vịnh Bali vằng vặc ánh trăng đầy. Không khí ở đây dường như nhẹ hơn những nơi khác. Thanh cảm thấy lồng ngực tràn lan một thứ tình cảm dịu dịu mà mát rượi, nghĩ tới ai cũng vui được. Hình như đêm nay trăng rằm thì phải.

Neo lại nghỉ hơn một tiếng đồng hồ rồi mà Thanh vẫn chưa ngủ được. Tiếng hát “cái bình hơi” dù cho cố nén cách mấy cũng nghe tỏ rõ từng lời.

“Đêm khuya rồi, hát làm gì những câu hát đó, nghe buồn quá chừng,” Thanh nói thầm, nghe tiếp:

“Tình người sau cơn mê vẫn xanh
Dù bao tháng năm đau thương dập vùi
Trường quen vắng ta, mai ta lại về
Cùng theo lũ em học hành như xưa

Rồi đây qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng
Ta lại về bên em…”

Phải công nhận là tiếng ca truyền cảm không thua một ca sĩ thứ thiệt nào cả. “Cái bình hơi” chợt ngừng nói khẽ:

“Mầy gởi thơ về trại cho ổng rồi hả, Lược?”

“Cô thịt chó” tên Lược! Có lẽ chỉ gật đầu nên không nghe được tiếng trả lời. Chập sau, “cái bình hơi” nói tiếp:

“Đáng lẽ mầy không nên đi như vầy. Mấy đứa em mầy buồn chết. Mà mai mốt mầy cũng buồn chớ không phải chơi đâu nghe Lược.”

“Kệ! “Cô thịt chó” nói với giọng nhỏ xíu. Tui cũng lớn rồi, tui tự lo cho tui được mà!”

“Hồi đó mầy học tới lớp mấy?”

“Mới có lớp sáu thì giải phóng, nghỉ luôn.”

“Tao, thì tao rớt phần hai, bà già biểu nghỉ.”

“Cái bình hơi” cũng dân có học chớ không phải chơi đâu nghe. Thanh trở đầu qua một bên, lắng nghe.

“Mầy biết không, hồi đó tao học chưa có thằng con trai nào học lại tao mà. Con gái mà học toán mới hay chớ!”

“Hay, sao chị thi rớt?”

Có lẽ “cái bình hơi” suy nghĩ, nên trả lời chậm một chút:

“Năm đệ nhứt, kỳ đó, thi ai-bi-em mà, hên xui. Với lại tao học được có nửa năm, ông già chết, học hết vô.”

“Tui thì không ai chết hết mà ông già bà già cũng biểu nghỉ. Mà thiệt! Giải phóng rồi, đi học toàn là hát với lượm rác, không chán sao được.”

“Ừ, chán lắm.”

Rồi hai người cùng im lặng.

Thanh ngồi hẳn dậy, vươn mình kéo hộc tủ lấy thuốc hút. Anh bật diêm quẹt, ánh sáng chập chờn soi phòng lái chỉ có một mình. Đêm nay trời trong và mát, tụi kia kéo hết ra sàn ghe ngủ cả. “Cái bình hơi” lên tiếng:

“À, anh Thanh cũng không ngủ được hả?”

Không hỏi “sao chưa ngủ” mà lại hỏi “sao không ngủ được,” cô này hay thiệt. Thanh đáp:

“Ừ, nằm một hồi tự nhiên nhớ nhà quá!”

“Anh có đói không, Nhung nấu cái gì cho ăn nghe?”

“Thôi, cám ơn chị. Chị có đói thì nấu mà ăn. Còn cô Lược nữa đó, hai chị em nấu ăn đi.”

“Không, không. Nếu anh đói thì tụi này mới nấu, còn không thì thôi.”

“Thử nói chuyện lâu lâu với hai cô này coi sao.” Thanh gấp đôi tấm mền lại hất qua một bên, ngổi quay mặt ra sau, vừa cười vừa nói:

“Tôi nhớ nhà không ngủ được, hai người có nhớ nhà không mà cũng không ngủ?”

“Cô thịt chó” hớt lời:

“Nhớ chớ, nhớ chớ anh Thanh. Thường đêm em ngồi một mình, nhớ ba nhớ má…”

“Cái bình hơi” xen vô:

“Xí, mầy nhớ sao tự dưng mầy bỏ ổng bả mầy đi?”

“Vậy mới nhớ!”

“Nhớ thằng ‘bộ đội’ chắc!”

“Cô thịt chó” nín khe.

Thanh cười, đỡ lời:

“Phải rồi. Hồi ở với cha mẹ, có ai nhớ cha nhớ mẹ đâu. Đi khỏi rồi mới nhớ chớ!”

“Ra đời rồi mới biết,” “cái bình hơi” nói chầm chậm. “Nhung thì Nhung chỉ thấy tiếc mà không thấy nhớ.”

“Vậy là sao?” Thanh hỏi.

“Tiếc thật, anh Thanh à. Biết rằng con người ta sống đâu ai được trọn vẹn nhưng ít nhất mình có cố gắng chắc cũng khá hơn. Hồi Nhung ở nhà, chưa bao giờ dám nghĩ là mình phải làm cái này, phải làm cái nọ cho cha mẹ vui lòng. Ngay cả khi hay tin ông già chết trong trại cải tạo cũng còn chưa biết thương mẹ. Thiệt kỳ!”

Thanh im lặng, hơi xúc động. “Cô thịt chó” cũng không nói gì, và hình như cô cũng mới biết chuyện nhà của “cái bình hơi”.

“Mà phải chi mẹ Nhung đòi hỏi nhiều gì cho cam, đàng này bà chỉ mong chị em Nhung hiểu rõ hơn cái thân phận của mình rồi cố làm cho đừng khác người ta. Anh biết không, mầy biết không Lược, thiệt lâu lâu nghĩ tới, đứt ruột. Ông già bị bịnh ruột cả chục năm rồi, vô học tập mới nửa năm thì hết chịu nổi. Ở nhà hay được thì nó chôn đâu hồi nào rồi.”

“Làm sao mà ở nhà chị hay được?” “cô thịt chó” hỏi.

“Nhận được giấy báo tử! Bà già không khóc một tiếng, anh Thanh à. Mẹ Nhung không khóc một tiếng, nhưng thường thường, bà ưa ngồi yên lặng nhìn ra đâu đâu, nhất là ban đên, nhất là khuya…”

Thanh thở nhẹ. “Cái bình hơi” ngừng lời như đón nhận niềm thông cảm của người nghe chuyện.

Mà Thanh thông cảm thật. Bao nhiêu câu chuyện dù có cố nghĩ là được thêu dệt thêm, cũng không làm giảm đi cái tủi hờn đau đớn phải có của đời tủ, mà lại là tù Cộng Sản. Có những cái chết mà chỉ quỷ thần biết đến. Có những nỗi đau mà chỉ người tù và cai ngục cảm nhận ra được, Thanh nghĩ như vậy, bởi vì thật sự tất cả những sinh hoạt trong đời tù cộng sản đều được thực hiện theo một kế hoạch đã nghiên cứu tinh vi rồi.

Thanh lắc mạnh đầu, xua đuổi hình ảnh thằng cha Tám Nương với giọng cười hềnh hệch, đứng cạnh cổng chính nhìn vào hai ống chân anh, cái ngày rời trại Giồng Riềng. “Ghẻ khuyết ăn loét tèm lem ra trông giống như cái… mặt mẹ nó, rồi cười!”

Thanh nhìn “cái bình hơi”:

“Tù cộng sản ghê lắm, tôi biết. Tôi ở hết tám tháng mà. Thiệt tình là chỉ muốn trốn để chết, mà chưa dám.”

“Rồi sao, anh được thả hả?”

“Ừ. Ở nhà lo tiền mà. Bốn ngàn đồng, tiền mới.”

“Cô thịt chó” lè lưỡi:

“Hai triệu!”

“Ừ, hai triệu.”

“Anh tội gì?”

“Tội gì đâu! Nó nghe gì đó thì nó bắt!”

“Cái bình hơi” với tay lấy tấm mền đang đắp hờ ngang chân A Kiếu quấn vào người. Cô gái Tàu Chợ Lớn ú ớ mấy tiếng rồi lại ngủ tiếp. Thanh hịt mũi:

“Mấy cô gan thiệt. Biển cả sóng gió ghê gớm lắm sao rủ nhau mà đi như thể này. Ở trại chờ người ta bốc, cho sướng.”

“Mình thích là mình đi chớ, anh Thanh. Ở đời, làm cái gì mình thích làm mới có ý nghĩa. Nhung nghĩ, người ta ai cũng một lần chết, Nhung đâu có sợ.”

“Bữa nay, tưởng nói chuyện chơi cho vui ai dè ‘cái bình hơi’ làm thiệt như kiểu tâm sự.” Thanh quay qua “cô thịt chó”:

“Cô Lược vì cớ gì bỏ cha mẹ, em út ở trại mà đi? Cô không buồn sao?”

Cô gái nhỏ ngượng ngập cúi mặt, không đáp. Thanh nhìn thấy bàn tay bé tí xíu đang run run vò nhẹ lai quần thì đâm thương hại:

“Ừ, tôi đồng ý với cô Nhung là mình cứ làm những gì mình thích làm, miễn sao đừng phạm tội là được. Vấn đề chính yếu là ở chỗ đó.”

“Với lại phải sống cho đàng hoàng. Anh Thanh biết không, Nhung thì Nhung kỵ nhất là sống mà gạt người ta, với lại nói đàng này làm đàng khác.”

Cô nàng nhỏ giọng lại:

“Hồi ba Nhung còn sống, lâu lâu ổng về nhà một lần, mà ổng nói hoài, tín vi quốc chi bảo, chữ tín nếu ai cũng biết giữ thì nước yên, không loạn lạc. Như Nhung, hồi đi Nhung hứa với mẹ là sẽ lo cho thằng Thông tới nơi tới chốn, mà cái thằng thiệt không ra gì, cũng buồn…”

Thanh gục gặc đầu. “Cô nàng nói chuyện lộn xộn mà nghe ra cũng hết được. Ý nói làm người phải sống thành thật với nhau, rồi mượn cớ đó xin lỗi mình về chuyện làm của thằng em mấy hôm trước chắc!”

“Cô Nhung cũng rành chữ nho nữa à?”

“Không đâu, biết chút chút thôi. Ông già dạy tới đâu, biết tới đó chớ hay ho gì. Ở trường đâu có dạy…”

“Ba cô trước kia làm gì mà phải học tập?”

“Ông dạy học, rồi làm Thủy Lâm. Mấy năm sau này đổi tuốt lên Ban Mê Thuột. Phó trưởng ty đó!”

“Cô thịt chó” xen lời:

“Nhà chị hồi trước chắc giàu?”

“Giàu gì?”

“Thì phó trưởng ty…”

“Phó trưởng ty thì sao?” “Cái bình hơi” lớn giọng.

“Phó trưởng ty mà không giàu?”

“Mầy con nít mà cũng biết.”

Thanh phì cười:

“Thôi! Sao cô Nhung hay lớn tiếng với cô Lược quá vậy. Chuyện có chút xíu mà cũng muốn gây được.”

“Anh Thanh coi. Nó biết gì mà hỏi xách hỏi mé chuyện nhà Nhung. Bộ phó trưởng ty là phải giàu sao?”

Thanh không đáp lời, chỉ cười nhẹ. “Cái bình hơi” buông xẵng:

“Mà dù cho có ăn hối lộ thì cũng chỉ vì phải chia chác, đút lót cho mấy ông lớn ở trên để mà yên thân chớ giàu có gì. Nó hỏi giọng đó là ý nó muốn nói ông già Nhung không tốt chớ gì nữa.”

Thanh hết hứng nói chuyện với hai cô này rồi. Anh chống hai tay đẩy người lui về phía trước sàn cabine, chặc lưỡi:

“Tôi ít có ý kiến về chuyện đã qua. Nói một hồi sanh ra đủ thứ chuyện. Hai cô nhịn với nhau đi cho rồi.”

“Thì nói cho con Lược nó biết vậy mà, rầy rà gì nó. Nhung coi nó như em mà nó đâu có biết.”

“Cô thịt chó” thỏ thẻ:

“Thì tui cũng coi chị như chị tui, tui mới hỏi vậy chớ không, tui đâu có thèm hỏi.”

“Mà mầy hỏi cái giọng đó là không nên, mầy biết không?”

“Chắc tại tui dốt nên tui không biết.”

Thanh quay ra trước, cười thành tiếng. Hai cô gái chắc cảm thấy chuyện vừa rồi làm phật ý Thanh nên im luôn.

Thằng Hải có lẽ nghe tiếng nói hơi lớn của “cái bình hơi” nên không ngủ được nữa, từ trên nóc cabine thòng chân tìm chỗ tựa để leo xuống. Nó lầm bầm:

“Bàn đêm bàn hôm, nói chuyện nho nhỏ một chút cho người ta ngủ. Tiếng thanh quá!”

Không nghe tiếng “cái bình hơi” đáp lại. Cô nàng có lẽ biết đó là lỗi của mình nên im chắc. Thằng Hải kéo cửa hông cabine, lách mình vô:

“Anh Thanh cho em điếu thuốc.”

Thanh hất mặt:

“Trong hộc tủ đó. Có cả ống quẹt trong đó.”

“Đương ngủ, nghe ‘tiếng động lạ tai’, hết ngủ.”

“Thôi mầy.” Thanh cười nhẹ. “Đừng lớn tiếng, người ta nghe người ta buồn.”

Thằng Hải bật diêm châm thuốc. Nó lập bập mấy cái rồi cặp điếu thuốc, quơ quơ:

“Mai mình ghé vô đảo này không anh Thanh, hay đi luôn?”

“Đi luôn. Có mấy người đi lậu dưới ghe, tao sợ ghé vô gặp rắc rối. Mình còn đủ dầu đi tới Úc lận mà.”

“Bữa nay mấy rồi anh Thanh?”

“Hai mươi bốn, mai hai mươi lăm. Năm ngày nữa, nếu không có gì trục trặc, mình lọt vô hải phận Úc.”

Thằng Hải thấy Thanh tung mền ra đắp lên tới ngực, nó biết anh định ngủ, nói trỏng không:

“Trăng sáng quá, nằm ngửa trên kia khó ngủ ghê!”

Xong, nó lách mình ra và kéo cửa cabine lại. Thanh nghe tiếng nó mở nắp thùng nước uống và hỏi nhỏ:

“Lược uống nước không?”

“Mới uống.”

“Sao không ngủ đi, khuya rồi.”

“Ngủ không được.”

“Sao vậy?”

“Ai biết.”

“Ngủ đi.”

“Thì ngủ nè.”

“Ngủ sao còn ngồi đó?”

“Thì nằm.”

Có tiếng “cái bình hơi” cười khúc khích. Thằng Hải chắc ngượng nên không nói nữa và lọc cọc lạch cạch đạp chân vào vách cabine leo trở lên.

Đêm càng về khuya, trăng càng sáng. Thanh rút tay ra khỏi mền xem đồng hồ, hơn bốn giờ. Sắp sáng tới nơi. “Làm gì cũng phải ngủ cho thẳng giấc, hy vọng không ai làm ồn phá giấc sáng. Khi nào thức cũng được. Khi nào thức thì lại đi tiếp.”

Thanh kéo mền lên nửa mặt, nghiêng người về trái nhìn ra ngoài cửa kính nứt nẻ sau trận bão kỳ trước. Mặt nước sáng hực ánh trăng, chập chờn những lằn nét phối hợp hỗn độn của gợn sóng và lằn nứt cửa kính, lăng nhăng quá.

Anh nghĩ tới tiếng máy nổ đầu tiên của ngày mai, cảm thấy nôn nao. “Nó mà kiếm chuyện là mình chỉ có nước chịu thua. Giờ này, làm gì nó cũng mát lòng rồi. Chiều, thằng Phong xả nhớt, thay nhớt, lau chùi đâu đó sạch sẽ…” Thanh muốn kiểm điểm sơ trong đầu coi thử lúc này, ai thức ai ngủ, thằng nào còn thức thì nghĩ gì, thằng nào ngủ, có mền đắp không. “Không nghĩ tới thì thôi, mà hễ nghĩ tới ai dưới ghe này cũng thấy thương quá. Đương không tụ họp nhau rồi đi như thế này, sống chết không biết tới, cũng kỳ!”

Có bao nhiêu người thân yêu của từng này đứa ngóng trông chờ tin lành. “Ai mà biết được nơi trú của mình đêm nay ở đây, ngoài mình với trời đất?”

Thanh nghĩ tới cha rồi xót xa với mẹ. “Bao nhiêu năm mình không có mẹ rồi?” Anh nhớ ngày nào, mẹ lấy sách của cha đọc cho nghe hết một thiên Lục Nga, lại lẩm nhẩm “ai ai phụ mẫu sanh ngã cù lao” mà rưng rưng nước mắt. Mẹ kể cho nghe chuyện ông Vương Tồn Cổ: “Mày buổi sáng đi ra mà chiều về, thì tao tựa cửa nhà mà ngóng. Buổi chiều đi mà không về thì tao tựa cổng xóm mà ngóng.”

Non nước này, bao nhiêu người cha, bao nhiêu người mẹ đứng đâu mà ngóng? “Tụi này nó đi không biết ngày nào mà về.”

Thanh nhắm mắt, nghe từng hơi thở nhẹ của mình. “Phải lặng trước cái đã, chuyện, mai rồi tính tới…”

Anh mơ màng nghe tiếng “cái bình hơi”:

“Lược, sao mầy không xích vô trong này nè. Đắp chung cái mền với tao. Trời lạnh lắm đó. Trúng sương trúng gió mang bệnh ai lo cho mầy…”


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (16)

VÕ HOÀNG

“Đảo Paulo Kanglam là đảo này đây. Từ đây mà đi xuống tới con kênh cũng mất nửa ngày. Nếu mình không ghé ở Bali thì phải nghỉ máy ở đây.”

“Vô đây đi Thanh. Đừng ghé đảo lớn sợ gặp cảnh sát lôi thôi lắm.”

Thanh cũng nghĩ như Chí. Nước uống sắp cạn, cần phải lấy thêm mặc dầu nước đá vẫn còn đủ cho bọn anh đi tới Úc. Thanh bước vô cabine, quăng mạnh xấp bản đồ lên bục:

“Lòn qua mặt bên kia kiếm chỗ êm hơn đậu nghỉ máy ít tiếng đồng hồ, tối chạy tiếp.”

Triều không nói gì, chỉ bập bập điếu thuốc.

Ba giờ chiều mà trời không có nắng, lại còn lành lạnh. Thanh chồm người lấy cái áo khoác của Canh, rút hai chân co vào ngực, nhìn vào đảo.

“Trên này chắc có người ở. Đảo cũng lớn lắm, Triều hả?”

“Ừ.”

Thanh lay thằng Hòa đang quấn một cục to tướng trong góc sàn cabine, sát phòng lái:

“Dậy. Dậy. Vô lấy nước, Hòa.”

Thằng nhỏ ngóc dậy, ngó bâng quơ, vừa định kéo chăn trùm tiếp thì Thanh vò đầu, la tiếp:

“Dậy đi, dậy hết đi.”

Triều bớt ga, máy chạy chậm chậm tìm chỗ tốt bỏ neo. Bất chợt đàng trước thằng Minh Quảng Ngãi la lớn:

“Có người, trên đảo có người.”

Ba bốn người, mỗi người một chiếc xuồng bơi dọc theo bờ biển cát trắng, nhìn đúng chỗ là thấy rất rõ. Thanh bước ra ngoài sau khi nói với Triều:

“Để ga nhỏ nhỏ, đừng lớn lắm, chạy vô trong một chút đi.”

“Tụi này đi xuồng giống mọi quá, Thanh hén.”

Thằng Chí nói xong thì đi lần về phía sau, nó hét tụi kia soạn thùng nhựa sẵn sàng chút nữa lấy nước ngọt. Thanh vịn tay vào cái bè bên trái, cố nhìn cho rõ ở trong để đánh giá mức độ an toàn cho mình khi phải ghé vào đó. Suốt một dọc bãi cát trắng, có thêm vài chiếc xuồng được kéo, kê hờ hững, không thấy một mái nhà nào trên đó.

Có gì bên trong?

Đảo Kanglam lớn bằng hai hòn Xưởng, nhưng chắc cũng có người. Dân Nam Dương, trước Thanh học địa lý có biết, đông và kém văn minh. Có nhiều nơi chính phủ trung ương vẫn chưa kiểm soát được. “Không biết tụi này có cà răng căng tai và ăn thịt người hay không?”

Ba chiếc xuồng có người rẽ một vòng ngắn rồi bơi thẳng ra ghe. Lúc này, khoảng cách còn chừng hai trăm thước.

Nhựt, anh em bà con với thằng Minh Quảng Ngãi đi lần về phía Thanh, nói nhỏ:

“Tui nói tiếng Nam Dương được chút chút, để tui hỏi thăm tụi nó nghe anh Thanh!”

“Nhớ là mình chỉ chủ ý ghé lên lấy nước ngọt thôi nghe. Không ổn thì thôi, ghé đảo lớn cũng được.”

“Dạ, để tui hỏi thử.”

Mười mấy cái thùng nhựa sẵn sàng để dọc theo be. Thằng Chí cẩn thận móc những khúc cây vạt nhọn đầu ở hầm mũi lên, quăng cho mấy thằng đang đứng xớ rớ đằng trước. Tất cả im lặng.

Đàng sau cũng im tiếng mấy bà.

Tới gần hơn. Ba người dân Nam Dương không mặc áo, chỉ có một mảnh chăn quấn ngang bụng, không giống váy, cũng không giống xà rông của người Thái. Da tụi nó đen bóng như thoa mỡ.

“Hỏi tụi nó, đây là đâu, Nhựt?”

Thằng Nhựt làm loa tay nói líu lo như mọi trong các phim thám hiểm. Tụi kia đồng loạt ngưng chèo. Một trong ba thằng đáp lại.

“Nó nói là cái gì đó, tui không hiểu. Mà thấy tụi này có vẻ hiền lắm, anh Thanh à.”

“Ừ, hiền thì hiền, nhưng nói với tụi nó, mình cần nước uống thôi, vô lấy xong thì đi ngay.”

“Chắc được!”

Khi ba chiếc xuồng áp sát vào ghe, hai ba đứa ở Nam Dương lâu ngày khom người xuống nói xí xố xí xào, thằng Văn la to bằng tiếng Anh:

“Nước, nước.”

Nó cầm cái thùng nhựa đưa lên cao.

Thằng Nhựt quay lên:

“Tụi nó biết rồi, tụi nó chỉ ở đầu gành đàng kia có nước, mình chạy ghe về phía đó đi anh Thanh.”

Thanh nhìn về hướng tay thằng Nhựt và thằng Nam Dương cùng chỉ. Những gành đá không lớn mà dài nằm san sát trên mặt nước. Chung quanh, rong rêu và bọt biển nổi lều bều chứng tỏ không được an toàn lắm. Anh nói:

“Chắc mình chỉ đậu được ở đây thôi rồi đổ bộ về đó lấy nước. Chạy ghe qua đó nguy hiểm lắm.”

Thanh nghĩ lại mấy tháng trước lúc ghé lại hòn Gầm Ghì cho người dưới ghe lên bờ đã bị kê lên đá. Mối nguy lớn tới độ xuýt nữa anh, thằng Hòa và hai thằng nhỏ nữa bỏ xác ngoài khơi nếu không gặp ghe Thái Lan vớt kịp. Thật thì ghe chỉ bị dộp một ít dưới đáy, nhưng chạy đường trường thì cái nguy càng lúc càng lớn. May là bọn anh đi được suốt đêm và nửa ngày hôm sau nữa, tới được lằn đánh cá của tụi Thái Lan.

Còn bây giờ, “có bề gì, lo làm sao nổi.” Trong khi mình vẫn có thể làm được chuyện với một chút khó khăn hơn, mà an toàn.

“Anh Thanh, nó nói mình cho nó tấm lều vải, nó sẽ chở nước ra đây cho mình.”

“Đâu được!” Chí nói. “Lều vải để che mưa che nắng mà cho cái gì, mình có một cái thôi mà.”

Thằng Nhựt quay xuống phân bua với người Nam Dương, cả hai thằng đều có vẻ không được vui.

Thanh thấy vấn đề không phải ở chỗ đặt điều kiện này nọ để trao đổi mà ở chỗ anh biết được những người trên đảo không có ý xấu với bọn anh là tốt rồi. Anh nói với thằng Phong đang đứng gãi đùi bên cạnh:

“Lấy mấy cái áo, cái quần lính, đồ của Liên Hiệp Quốc cho, cái nào không xài đem ra cho tụi này, chắc tụi nó cũng khoái như thường. Tụi này nghèo quá.”

Phong quay đi một lát, nó ôm ra một đống đủ thứ quần áo lâu nay nằm lang thang trong hốc kẹt. Thằng Nhựt vớ ngay một cái có vẻ tốt nhất, cúi xuống.

Kết cuộc, những người Nam Dương bơi xuồng trở vô với những cái thùng nhựa và đống quần áo cũ. Tụi nó có vẻ hài lòng lắm.

Thằng “bộ đội” chợt la bai bải:

“Chết mẹ rồi, cái áo của tui!”

“Kệ!” Phong cười. “Đồ Việt Cộng để làm gì?”

“Kỷ niệm! Tui để dành, nhớ ông già tui.”

“Mẹ mầy, ông già mầy là Việt Cộng hả? Qua Úc, người ta cho mầy đồ ‘vét’ mà mặc, mặc chi mấy cái thứ đó. Cảnh sát Úc còng tay mầy.”

Thằng “bộ đội” nín khe.

“Chắc tụi này không phản phé đâu Thanh há. Tụi này hiền quá.”

“Tụi nó hiền thiệt. Thôi bây giờ tắt máy nghỉ một lát, nấu cơm ăn tối chạy tiếp.”

Hùng, Hồng, Nghiêm dở hầm số hai lôi lên mấy con cá bè khô xách về phía sau. Tiếng chẻ củi phá rách không khí im vắng của buổi trưa âm u ở đây. Cảnh vật chung quanh gần như bất động, trông sao mà buồn quá.

Nửa tiếng đồng hồ sau thì một loạt sáu bảy chiếc xuồng từ trong bãi cát bơi thẳng ra. Không thấy những cái thùng nhựa bên trên. Thằng Triều tặc lưỡi:

“Mẹ, mấy cái thùng đâu hết trơn rồi. Có chuyện gì nữa đây!”

Tới gần thì rõ ra rằng những cái thùng nhựa chứa đầy nước ngọt vặn cứng nắp được cột dọc theo hai bên xuồng chìm dưới nước. Tụi này cột thùng bằng một loại dây rừng mà ở Việt Nam không thấy có. Trên xuồng, ngoài mớ quần áo cũ lúc nãy, có thêm những trái bí rợ to tướng.

Thằng Nhựt chỉ trỏ mấy trái bí, nói cười huyên thuyên, hai ba thằng Nam Dương cùng cười.

Những trái bí được chuyền lên trước tiên rồi lần lượt những cái thùng nước. Thằng Chí trở ra với thêm một đống quần áo ôm trước bụng. Nó quăng xuống một chiếc xuồng gần nhất. Mấy người Nam Dương thoáng một chút ngạc nhiên.

Tình hình cởi mở và vui vẻ hơn khi thằng Nhựt cho hay, những người Nam Dương sẽ chở thêm bí và thịt ra cho. Hỏi thịt gì thì thằng Nhựt không biết.

Tám cái thùng nhựa nước ngọt được đổ vội vàng vào thùng chứa và quăng trở lại xuồng. Còn bao nhiêu thùng khác, cả bọn chuyền nhau đem xuống hầm sau lái. Phải chờ thêm một chuyến nữa.

“Bí này dẻo mà ngọt lắm đó!” tiếng “cái bình hơi.” “Cậu Hùng đưa đây tui chặt cho. Nhỏ nhỏ thôi…”

“Sao chị biết ngọt, biết dẻo?”

“Đó, coi cái màu của nó.”

“Hay quá ta!”

Đàng sau xôn xao nấu nướng. “Cô thịt chó” với A Kiếu khệ nệ bê nửa cái thùng phuy chắt bỏ nước vo gạo. Thằng Nghiêm đứng cạnh đó, chỉ nhìn chớ không chịu tiếp tay. Thanh cảm thấy mắc cười trong bụng.

Gần nửa tháng nay, ít khi thằng Nghiêm léo ra chỗ mấy bà trú đóng. Nó với A Kiếu hình như không nói chuyện với nhau tiếng nào. Câu chuyện tình hình như đã không còn hấp dẫn như lúc ở trại đối với A Kiếu. Mà chắc thằng Nghiêm cũng muốn như vậy.

Cái đêm cuối cùng ở Djakarta, thằng “bộ đội” trên bờ xuống, thỏ thẻ với Trường rằng nó thấy A Kiếu ngồi ăn chè đậu đen với thằng Hải mà “hai người có vẻ tình lắm.”

Trường rầy nó:

“Chuyện của người ta, mầy xía vô làm gì. Con nít con nôi, kệ người ta.”

“Thì tui thấy vậy, tui nói vậy, xía cái gì đâu?”

“Vậy là xía rồi đó,” Thanh cười góp chuyện.

“Anh Thanh, sao anh Nghiêm làm tỉnh hay quá vậy. Tui thấy, tui phục ảnh ghê.”

“Vậy chớ như mầy, mầy làm tỉnh không được sao?”

“Đâu được anh, người ta thương mình, mình không thương lại là có tội chớ sao.”

Thằng Trường trề môi:

“Mẹ mầy. Mầy sợ tội với “con thịt chó” chắc!”

Thằng “bộ đội” nín ngay. Nó không muốn ai nhắc “cô thịt chó” trước mặt nó.

Chuyện thằng Nghiêm, Thanh chỉ mong cho nó được như vậy, ít ra cũng đỡ lu bu hơn. Chẳng qua, một đằng thì thờ ơ đã đành, một đàng thì cần thiết có sự che chở trên bước đường xa lắc không chắc tới bến tới bờ… Vậy cũng xong!

A Kiếu còn ông già bà già và hai đứa em ở Songkhla và nghe đâu có người anh ở Gia Nã Đại bảo lãnh, còn đang lo cho đủ tiền vé phi cơ là điều kiện của phái đoàn Gia Nã Đại như thế. Gia đình cô ở trại cả năm rồi.

Cô không đẹp, nhưng thật thà và làm gì cũng làm chí tình. Những ngày đầu, Thanh để ý thấy cô vẫn còn liếc trộm thằng Nghiêm mà sắc mặt không lộ vẻ gì gọi là cay đắng lắm, cho tới khi một buổi sáng mờ thay lái, Thanh thấy Hải và cô ngồi nói chuyện thì thào ngoài sau, cạnh thùng nước uống.

Mà sao thằng Nghiêm biết chuyện, lại có vẻ “khờ” hơn trước? Thanh nghĩ không ra.

Vợ thằng Phong cằn nhằn nho nhỏ gì đó, có lẽ đứa nào lấy mất cái áo khoác lâu nay cô ta dùng làm gối kê đầu. Xong thì ngồi ôm gối nhìn ra biển, không để ý gì đến xung quanh.

Mấy chiếc xuồng lại trở ra, vẫn mang theo nước uống, bí rợ và có thêm mấy xâu thịt khô. Thằng Nhựt nhăn mặt hỏi mấy câu. Một thằng dưới xuồng nói một hơi rồi cúi người giả cách bơi hai tay, mặt úp xuống.

“À, con vít cỏ,” Triều la lớn.

“Phải rồi, vít cỏ!” Phong la theo.

Thằng Triều làm như rành lắm, nó bô bô:

“Xứ tui kêu là vít cỏ, có nơi kêu là con thịt. Nó giống như con đồi mồi, con ba ba, con rùa đó mà.”

Thằng Phong ngồi hẳn xuống, lật qua lật lại mấy xâu thịt, chép miệng:

“Thứ này mà nướng vàng vàng, có rượu thuốc là uống chết bỏ.”

“Ê, có hai loại ‘thịt’ nghe!” Triều nói, nó cúi xuống. “Thứ này là ‘thịt mỏng’ nè, ăn được. Còn ‘thịt dày’ thì độc lắm. Người ta kêu là ‘vít lửa’ mà. Nó ăn toàn rong độc và sứa lửa, mình ăn nhằm một cái, trào máu họng, chết tại mâm luôn chớ phải chơi đâu.”

Những điều này, Thanh biết. Anh có nghe nhiều người chết vì loại thịt này rồi. Thằng “bộ đội” thắc mắc:

“Vậy làm sao biết được?”

“Sao không! Thịt dày cái thớ thịt của nó lớn hơn, mà trên lưng ít hơn mười ba vẩy. Thứ nào nhiều hơn mười ba vẩy là ăn được.”

Thằng “bộ đội” có vẻ phục nên gục gặc đầu, nói thầm thì:

“Ờ, ờ, vít lửa, ăn trào máu họng.”

Đứa nào cũng châu đầu vào cố xem cho được mấy xâu thịt khô. Những người Nam Dương nói với nhau gì đó rồi lấy dầm đập đập nước cho văng vào nhau, cười hăng hắc. Thanh thấy vui lây với cảnh vật ở đây.

Hoàn cảnh nào, xứ sở nào cũng vậy. Hễ có tiếng cười là con người thấy vui. “Mà kỳ! Tiếng cười và tiếng khóc của bất cứ giống người nào cũng đều giống nhau.”


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (15)

VÕ HOÀNG

Khi Thanh gặp lại viên Đại úy Hải quân, anh đưa cho ông ta xem tập bản đồ anh tìm được ở chợ Djakarta. Ông nói:

“Mầy thấy nó thế nào?”

“Tàm tạm, nhưng tao muốn có một cái lớn hơn.”

Viên Đại úy này được cấp trên chỉ thị phải liên hệ trực tiếp và giúp đỡ những người dưới ghe VNKG 0042. May cho bọn Thanh là ông ta cởi mở và tốt bụng. Ngay buổi chiều, lúc bọn anh mới vào, ông ta ở hàng giờ dưới ghe, ghi chép đủ thứ. Cái khổ nhất của Thanh là ông ta không nói được tiếng Anh mà nhất định phải nói tiếng Tây. Thì thôi vậy! “Chơi luôn.” Thanh biết rằng phải chờ tới ngày thứ hai mới có thể tìm được người Việt Nam biết nhiều tiếng Tây và nhờ họ, anh đành đem thứ Tây bồi ấm ớ ra xài tạm. “Thì quơ tay quơ chân phụ thêm vào, thứ gì mà không xong.” Anh đùa với thằng Chí:

“Từ ngày rời Việt Nam, nói chuyện với người ngoại quốc cũng nhiều, tay chân nở nang thêm.”

“Mầy còn rán, chớ tao thì khỏi nói! Muốn làm gì thì làm. Chịu hay không kệ mẹ tụi nó.”

Thanh nghĩ, ở cái thế của mình, không rán là không xong.

“Tao có thể giúp mầy, nhưng không chắc,” viên Đại úy nói. “Chiều nay, ba giờ tao sẽ gặp mầy nữa.”

Mười sáu phuy dầu vị chi là ba ngàn hai trăm lít cho chặng đường còn lại đã được thỏa mãn ngay sáng ngày chủ nhật. Thanh tuy nóng lòng nhưng cũng phải chờ đến hết ngày thứ hai, Bộ Xã Hội Nam Dương và đoàn Lãnh Sự Úc Đại Lợi xuống tận bến, xuống tận ghe để xác nhận và định lượng mức độ an toàn tối thiểu cho chiếc ghe vượt biển lớn. Thanh xúc động nghĩ tới bạn bè, có đứa phải chèo tay chiếc xuồng bơi vượt vịnh Thái Lan, vùng biển nước nguy hiểm không thua bất cứ vùng biển nào trên trái đất mà mức độ an toàn tối thiểu của chiếc xuồng chỉ có thể đề cập tới ở trong sông.

Cabine đương nhiên được đóng sửa lại, và nhất là cái hải bàn lớn được đóng dính xuống tấm ván lớn trước vô lăng. Nó là quà tặng của một chiếc ghe đánh cá Nha Trang tới Djakarta hồi đầu năm. Thanh vuốt ve giòng chữ khắc chìm dưới chân hải bàn “Việt Nam Cộng Hòa – Ty Ngư Nghiệp Khánh Hòa” mà thấy bùi ngùi.

Đàng trước, Canh và mấy thằng nữa đang hì hục khâu kết lá cờ trắng lớn và dự định vẽ lên đó ba chữ S.O.S. bằng sơn đỏ. Trên nóc cabine, thằng Hòa phụ đóng lại tấm lều che mưa với Triều, nó hát vang vang:

“Chiều nay ra khơi, thoáng thấy mắt em nhuốm buồn. Đời anh là gió sương…”

Thằng Triều cũng nổi hứng, vung búa đóng đinh theo điệu nhạc. Ở tàu sắt bên kia, một người hỏi lớn:

“Mấy anh đi có gặp sóng gió gì lớn lắm không?”

“Làm gì mà khỏi có,” Triều ngưng búa trả lời. “Cách đây bốn năm ngày bị một trận bão, tưởng đã về chầu Bà Thủy rồi đó! Anh không thấy cabine tụi tui tả tơi như thế này sao?”

“Xui cho mấy anh, hai hôm trước có chiếc Vàm Cỏ ghé qua đây xin dầu đi Úc, trên ghe gần hai trăm người.”

“Không sao! Có mấy ổng, tụi tui cũng đi chiếc này thôi, nhất định tụi tui phải tới Úc bằng chiếc ghe này mà.”

Anh kia cụt hứng, bắt qua chuyện khác;

“Anh người ở đâu?”

“Tui hả? Hòn Mấu, Kiên Giang.”

“Kiên Giang là Rạch Giá đó phải không? Tui có nghe nói, ở đó có nhiều mánh vượt biên lắm mà!”

“Anh đi từ đâu?” Triều hỏi.

“Thanh Hải, Phan Rang. Anh biết Phan Rang không?”

“Biết chớ! Việt Nam, ở đâu mà tui không biết.”

“Thằng nói dóc,” Thanh lầm bầm. “Trốn lính mà ở đâu cũng biết hết, chuyện gì cũng biết hết.” Phải nói, có đi lính mới biết được nhiều chỗ, có đi lính mới biết được nhiều thứ. Thằng Triều có lần than vãn với Thanh: “Tao tiếc là chưa lần nào lên Sài Gòn, chắc Sài Gòn đẹp lắm. Ở lẩn quẩn miền biển, nghe người ta nói chuyện mới hay mình nhà quê.”

Hình như chính thằng Triều cũng biết rằng không nên nói thêm về những địa danh mà thật ra nó không biết gì cả nên lấp liếm:

“Hồi trước tàu Sông Bé có ghé đây không?”

“Tui cũng không biết. Tui mới tới được một tháng nay thôi mà. Nhưng chắc không có đâu.”

Thanh chui ra ngoài, anh góp chuyện:

“Chiếc Vàm Cỏ lớn không anh?”

“Lớn, lớn hơn tàu tui nhiều. Tui có nghe họ bẻ cấp ngược, vòng qua Djakarta và đi thẳng đường dưới, không ghé thêm ở đâu nữa. Tàu lớn mà.”

Thanh cũng nghĩ vậy. Đường trong nguy hiểm về đá ngầm nhưng ngược lại, nó an toàn ít nhất cũng gần nửa đoạn đường, chặng còn lại phải vượt thẳng từ đảo Timor có ba bốn ngày đường. “Ghe mình nhỏ quá, đi đường trường ít bảo đảm.” Anh thở dài:

“Tụi tui vẫn chưa có đủ bản đồ. Hy vọng chút nữa ông Đại úy xuống, có thể có.”

Nói chuyện thêm một hồi, anh thanh niên hứa rằng sẽ hỏi lại chủ tàu và xin giùm cho bọn Thanh mấy chục cái thùng nhựa dùng làm phao cá nhân và đựng nước ngọt. Anh ta nói với sự thành thật:

“Mình qua đây rồi, còn gì có thể giúp nhau được thì giúp. Để tui coi anh còn cần những thứ gì nữa, tui có thể cho được, tui cho. Tàu này để đây rồi cũng bỏ. Còn chuyện này, tui cho anh hay luôn. Anh đừng ghé đảo Timor, ở đó đang có chuyện lộn xộn, người Úc và thổ dân đang gây cấn với nhau. Biết đâu được cái xui xẻo của mình…”

Thanh ghi nhớ lời này. Anh nhảy qua tàu một lúc thì vừa gặp ông chủ tàu cũng vừa xuống.

“Thưa bác, nghe anh Hoài nói lại, bác có thể giúp tụi cháu chút ít những thứ mà xem ra bác đang dư không xài nữa, trong khi tụi cháu đang cần mà không biết phải xin ai.”

“Nói đi, cần thứ gì, để tui liệu.”

Ông chủ lại là người Tàu Chợ Lớn, giọng nói lơ lớ. Thanh phủi đít ngồi bẹp xuống:

“Chẳng hạn như cái neo nhỏ đằng sau lái tàu bác, rồi mấy cái thùng nhựa, mấy đường dây, mấy bình điện…”

Đã đến lúc Thanh không còn phải khách sáo, anh nói hết những cái cần thiết của mình. “Được thì tốt, không được thì thôi, mất mát gì!”

Trước ba giờ chiều thì mọi việc đâu vào đấy, kể cả số lương thực Bộ Xã Hội Nam Dương hứa hẹn cũng đã được đem xuống. Thằng Canh và số bà con ở Phú Quốc chung tiền nhau lại mua thêm nhiều thứ đồ hộp, đồ khô, thuốc hút. Mọi người đều biết chắc chắn VNKG 0042 sẽ khởi hành trước tối hôm nay.

“Tụi em chờ anh Thanh một tuần lễ đầu tháng sau nghe,” nhỏ Thảo nói. “Anh tới nơi đừng quên tụi này đang trông tin anh. Để em nói anh Canh có tấm giấy mười đô Úc, đưa cho anh có mà đánh điện tín, bỏ thơ…”

“Anh có, anh có ít đỉnh tiền Mỹ. Tụi em để đó mà tiêu, đừng có tào lao.”

Con nhỏ nhất định kèo cưa với Canh và lấy tờ giấy bạc nhét vào túi Thanh. Thanh đành ậm ừ:

“Vậy thôi, anh lấy, nhưng anh đổi cho Thảo lại tiền Mỹ. Tụi em ở đây còn lâu, mà tiếp tế chậm thì cũng khổ.”

Thật sự Thanh còn có từng đó. Hồi đi, ở Songkhla anh Hai cho tổng cộng hơn một trăm đô Mỹ, Thanh chưa xài mẻ một đồng. Tới Djakarta anh quyết định chỉ chừa lại mười đồng, còn lại đổi hết ra tiền Nam Dương và mua sắm đủ thứ cần thiết cho chặng đường cuối mà anh nghĩ là không còn ghé ở đâu nữa. Anh móc túi lôi ra tờ giấy bạc, giúi vào tay nhỏ Thảo:

“Cầm lấy! Chuyện tiền bạc đừng để nói nhiều quá, kỳ lắm.”

Nhỏ Thảo hết đường gỡ, cong môi:

“Tiền Mỹ đâu có giá bằng tiền Úc mà anh đổi ngang xương vậy?”

Hai anh em cùng cười.

Thằng Hồng đến hôm nay đã đi đứng vững lại được, nó đề nghị và nhờ thằng Văn phụ chặt chiếc thùng phuy ra làm hai, lấy khúc dưới làm nồi nấu cơm.

“Anh chặt cái nắp làm sao mà đậy được phủ ra ngoài, không có nó lọt vô trong, cũng như không.”

“Được mà,” Văn nói. “Nghề của tao mà!”

Hai ngày cuối tuần ăn ngủ khỏe, hôm nay cả bọn làm việc hăng và nhiều. Thanh bày vẽ đủ thứ chuyện, từ việc đóng hàng cây dọc theo be làm tay vịn, dời đá, đến việc che mưa cho mấy thằng gác mũi, gác lái… Nhỏ Thảo nói:

“Thuyền trưởng có uy ghê hén. Anh Thanh còn thiếu bộ râu quai nón, trông hơi yếu.”

Ông Đại úy xuống, nhưng chỉ đứng đàng trước, đưa tay ngoắc Thanh:

“Mầy theo tao. Tao có bản đồ cho mầy.”

“Cám ơn mầy,” Thanh nói.

Thì ra, ông ta quyết định để Thanh tự tìm và lấy bản đồ trong cả tủ bản đồ các vị trí đóng quân của Hải Quân Nam Dương.

“Tụi này tốt hết chỗ nói.” Có điều Thanh không mấy hài lòng, phải được hải đồ mới có giá. “Làm sao mình biết rõ nơi nào có đá ngầm? Hơi đâu cứ chạy tránh hoài những vùng biển sơn nhạt nhạt.” Thanh hỏi:

“Tao có thể lấy nhiều cái được không?”

“Được, được. Mầy có thể.”

Cuối cùng, viên Đại úy tìm cho Thanh một cuốn băng keo loại trong và phụ anh chấp nối những mảnh bản đồ rời rạc mà Thanh đã chọn và xén lại.

“Nói cho tao biết về đảo Timor đi!”

“Không tốt. Mầy đừng ở lại đó.”

Rồi ông ta nói đủ thứ chuyện về hòn đảo đó. Thanh làm sao nghe cho hết, chỉ biết và nhận ra rằng mình không nên ghé qua hòn đảo đó. Vậy là đoạn đường cuối bị kéo dài ra tới sáu ngày, kể từ khi rời khỏi Sumba, mức cuối của Nam Dương quần đảo.

Xuống lại ghe thì trời đã hết nắng. Cả bọn đã chuẩn bị xong xuôi và ngồi đấu láo cú chót. Nhỏ Thảo đưa cho Thanh một hộp kẹo cao su:.

“Anh nhai cho đỡ buồn, đỡ ghiền thuốc!”

Thanh cầm lấy, anh nhớ tới nhỏ Thu, nhớ tới Phượng.

“Thảo biết địa chỉ trại Songkhla rồi, anh nhờ Thảo viết một lá thơ về ban Đại Diện trại kể cho họ nghe về việc ghe anh có ghé và chuẩn bị đầy đủ mọi thứ trước khi lên đường. Nói là tụi anh rời bến Djakarta ngày thứ hai, bảy giờ chiều.”

“Vậy chớ anh nhờ anh Canh gởi lá thơ về Songkhla, anh nói cái gì?”

“Thì chỉ vắn tắt thôi, anh muốn Thảo kể lại như là viết truyện cho họ đọc. Ở đó buồn lắm.”

“Thảo viết, người ta cười cũng hết buồn. Rồi, hứa!”

Canh nói:

“Tui để cho anh cái áo lính, loại áo khoác dày lắm, đêm ở biển chắc lạnh, anh mặc cho đỡ, không có bị cảm thì phiền.”

Tới giờ cuối, Triều cho hay có sáu người trốn xuống hầm máy và sẽ “đi với mình qua Úc.” Thanh ngẩm nghĩ:

“Người ta đối xử tốt với mình quá, làm như vậy cũng kỳ. Mà không chịu thì cũng kỳ, chẳng lẽ xuống đó la ó và mời họ lên.” Anh nói với Triều:

“Mầy biết chắc tụi nó tốt, không làm điều gì bậy hết chớ? Có gì mình kẹt ghê lắm nghe.”

“Rồi, hai thằng là anh em của thằng Trường, một thằng là bà con gì đó của thằng Minh Quảng Ngãi, ba thằng kia hiền lắm. Tụi nó muốn đi Úc thật mà.”

“Đáng lẽ tụi nó phải nói với tao chớ!”

“Thì tụi nó nhờ tao nói lại. Bây giờ còn kịp cho mầy quyết định.”

Thanh chui xuống hầm máy. Sáu người kia nhớn nhác ngồi dậy.

“Tôi nói thật, mấy anh em cũng nên nói thật. Nếu có anh em nào trong đây làm cái gì phạm luật với người Nam Dương thì thật tình tôi không đồng ý cho đi, vì trách nhiệm là trách nhiệm của tôi.”

Một đứa, trông gương mặt là biết ngay dân miền Trung, tóc dài gần tới vai, có lẽ là bà con gì đó với thằng Minh Quảng Ngãi, ngập ngừng:

“Anh cũng thông cảm cho tụi tui, ở đây quá lâu rồi mà không thấy ai nói chi tới. Tui là anh chú bác với thằng Minh, anh cho tụi tui đi chung tới Úc.”

Thằng Minh nói thêm:

“Ảnh ở đây một năm rưỡi rồi, anh Thanh. Lúc tui đi, má ảnh ở nhà nói là ảnh đang ở Mỹ, viết thơ về. Ai dè ảnh ở đây gởi qua Mỹ, rồi Mỹ mới gởi về.”

Thanh đang suy nghĩ tới trường hợp những người trốn theo ghe đi Úc, nên mặc cho thằng Minh tả oán đủ thứ. Năm đứa kia im lặng không nói gì, tất cả đều có vẻ mệt mỏi, ngồi vật vã đây đó, không màng dầu mỡ vương vãi khắp hầm máy. Anh nghĩ tới nỗi thất vọng của họ nếu bây giờ anh nhất quyết không nhận và mời họ lên. Trong hoàn cảnh như thế này, anh cảm thấy mình không nên làm họ mệt mỏi hơn nữa, họ chịu đựng và chờ đợi nhiều quá, lâu quá rồi. Anh ngồi xuống:

“Giả tỉ như ở một trường hợp khác, tôi dễ xử việc này hơn nhiều chớ mấy anh em biết, có gì kẹt cho tất cả anh em dưới ghe này lắm. Tôi không nói tới trường hợp anh em xuống đây mà không cho tôi hay trước.”

“Bây giờ,” thằng Chí nói, “ngoài anh bà con với thằng Minh ra, mấy anh kia thì công việc như thế nào?”

Ý nó muốn hỏi tình trạng mấy người kia ra làm sao mà diễn tả không được. Một người nói:

“Tui với thằng này là em bà con với anh Trường.”

“Ừ, tụi nó là em tui,” Trường xen vô.

Anh kia tiếp lời:

“Tụi tui thì phái đoàn Mỹ đã phỏng vấn xong xuôi rồi, có nghe nói tháng sáu tới có chuyến đi, mà bây giờ gặp anh Trường ở đây, tụi tui muốn theo anh đi Úc.”

Từ lâu, Thanh có thói quen coi thường những vụ chia tay và đôi khi anh đâm ra bực mình cái lối bịn rịn, dùng dằng. Sao bây giờ, ở giữa đường lang bạt, anh nghe thông cảm hết với tất cả mọi người. Hình như ai cũng có ý tưởng mỗi lần đi như vầy là đi luôn, đi đứt, không phương gặp lại.

Một thứ không khí đè nặng lòng tất cả mọi người, hầm máy im phăng phắc. Người ta chờ quyết định của Thanh trong khi Thanh chờ quyết định của lòng mình. Anh chớp mắt nghĩ tới những rắc rối có thể xảy ra, chỉ trong đoạn đường từ bến ra cửa biển, thêm nửa giờ ra khơi, là coi như thoát.

Có vài người mệt mỏi, đang đứng bỗng ngồi bẹp xuống sàn hầm, rồi vài tiếng thở dài.

Cuối cùng thì Thanh cũng đành. Anh nghĩ rằng cứ để cả sáu người dưới hầm máy trong lúc ra cửa biển, có gì, anh có thể nói là không biết, chắc không đến nỗi rắc rối vì quả tình, anh cũng muốn chìu lòng tất cả mọi người. Anh trở lên cabine.

Bây giờ thì dưới ghe chỉ còn lại toàn những người đi. Canh, nhỏ Thảo đứng bên chiếc tàu sắt, nhìn chòng chọc qua bên này. Có hơn ba chục người dân trại xuống, đứng đặc một bên sườn, không kể rất nhiều người đứng lố nhố trên bờ.

Lúc thằng Trường cho nổ máy thì cũng vừa vặn hai chiếc ca nô của Hải Quân Nam Dương từ phía sau cùng loạt cặp tới ngang VNKG 0042, ngừng lại. Hai ba thằng đưa tay làm hiệu, ý nói sẽ cùng đi với bọn Thanh ra cửa biển.

“Ê, Canh, Thảo, mạnh giỏi nghe…”

Tiếng Thanh hòa với tiếng của rất nhiều người dưới ghe, người trên bờ, người bên tàu sắt thành một thứ lời tiễn biệt tập hợp, ồn ào quá.

Đàng trước, thằng Chí rút lại đoạn giây choàng qua lỗ lù chiếc tàu sắt, có một người bên kia cúi người xuống phụ nâng dây cho nó. Hồng đàng sau, nó ngồi hẳn lên thùng nước uống kéo nhè nhẹ, sợi dây như một con rắn lội chập chờn trên mặt nước.

“Cho de lại một chút, lấy mũi ra khỏi hông tàu sắt rồi hãy tới nghe Triều.”

Triều gài số de, tiếng máy nhỏ đi một chút. Tiếng la ó lại được dịp nhao nhao lên. Ai cũng cố, muốn la cho lớn hơn người khác. Thằng “bộ đội” bắt loa tay, hét vông vổng:

“Bai, bai…”

Cuộc chia tay kéo dài cho tới khi ghe qua hết hàng dừa dọc bờ sông và thằng Triều tiếc rẻ nhận còi từng chập, vang vọng.

Thanh nhìn đồng hồ “sáu giờ bốn mươi lăm.” Đi trước hơn giờ định mười lăm phút.


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (14)

VÕ HOÀNG

Djakarta, Chúa Nhật 19-3-78.

Trần,

Chắc mầy ngạc nhiên khi nhận được thơ tao viết từ Djakarta. Lại trách chớ gì!

Tao cũng biết, bên đó mầy lo xong mọi thủ tục cần thiết cho tao. Đáng lẽ tao nên an tâm ở lại Songkhla và chờ, chờ hoài cho đến khi được rời khỏi nơi đó!

Làm sao tao nói để mầy hiểu được lý do tao phải bỏ đi trước khi một chương trình nhân đạo (riêng cho tao) hoàn tất, ngoài cái việc tao tự thú với mầy: Cuộc đời những thằng như tụi mình, làm được điều gì mình thích làm, đã là một hạnh phúc rồi, còn chờ gì nữa?

Thì cũng như mầy vậy thôi! Tụi mình mà có bôn ba lắm, đều luôn luôn thấy rằng mình đã lầm. Tội gì không lầm những điều mình thích lầm.

Có điều này, Trần à. Hai tháng rưỡi sống qua năm sáu trại giam của tụi Thái trước khi được đưa tới Songkhla, tao sống với cái hy vọng trọn vẹn lúc quay lưng bỏ đảo, cái hy vọng của những ngày cuối tháng 5 bảy lăm, cái hy vọng trong những chuyến xe phủ ngập bụi đỏ dọc con lộ đất cặp chân núi Dài, cái hy vọng trên yên chiếc xe đạp cứ vài phút là sút sên một lần, đạp từ chợ Long Hoa về Tòa Thánh tìm bạn bè… Tới trại, hai ngày, tao biết ngay, biết rõ, biết đúng là mình “binh trật” thêm lần nữa. Mà lần này, khó có thuốc chữa, khó gỡ.

Hình như tao chỉ viết cho mầy một lá thơ mấy ngày đầu tới trại và cũng chỉ là lý lịch, giấy tờ. Tao nghĩ mai mốt gặp nhau, thiếu gì lúc nói. Bây giờ, trên đường đi Úc Đại Lợi. Tao biết tao phải tới Úc và còn lâu lắm mới gặp được mầy. Chiều nay rảnh rỗi nhưng không an trong lòng được, nói chuyện với mầy nhiều nhiều vậy.

Trong hai ngày đầu tới trại, đọc thoáng qua một loạt những báo chí mới cũ được gởi tới từ “các quốc gia thứ ba,” tao chưng hửng và khám phá ra rằng: sao cuộc đời mình đã đụng chạm không ít những thực tế tàn bạo, bạc bẽo, mà vẫn không chừa được cái thói lý tưởng hoá cuộc sống. Thỉnh thoảng, bạn bè hay công việc trước mắt nhắc cho một tiếng, mới biết được rằng hôm qua mình “cải lương” quá.

Nhưng tụi mình làm gì khác hơn được, Trần? Đúng hơn, tụi mình không dám làm những điều khác hơn. Làm để chết à? Bao nhiêu con người đã tự tử bỏ cuộc đời chỉ vì đã lỡ làm những điều khác hơn cái hy vọng và khám phá ra mình hết hy vọng?

Không vậy sao thằng Hà thi rớt tú tài mà học đòi viết cương lĩnh, con nhà Huê lúc nào cũng sợ ma mà soạn được lời “hiệu triệu” kêu gọi “đồng bào tiếp tay khi lực lượng kháng chiến nổi dậy làm trách nhiệm cứu nước,” rồi Năm Đình nữa, ai hù sau lưng thì máu xâm nổi dậy, sùi bọt mép, giựt kinh phong, mà hiên ngang “tuôn một đống” truyền đơn trước cổng ủy ban nhân dân xã… Người ta sống được nhờ cái hy vọng, dù nhỏ, dù mỏng manh, nhưng là cái hy vọng trong cái hết hy vọng, Trần à.

Ở đây, bây giờ, tao vẫn hy vọng mình lầm thêm nữa để còn được yên tâm mà ăn cơm, yên tâm mà hút thuốc, chớ thiệt tình, cố gắng cho là mình đúng thì chỉ có bỏ ăn, bỏ hút, còn sống làm sao hết tháng ngày. Số là, theo tao cảm nhận được, gần ba năm nay, những người mà lúc trước mình gọi là “lực lượng ở ngoài” nghỉ ngơi lấy sức và đang có hiện tượng xâu xé nhau.

Tính thử xem, bởi vì mình không nên phủ nhận thực tại nghe Trần, tình trạng xâu xé nhau chắc chắn phải có. Trước hết, tao với mầy cùng một lượt hy vọng tình trạng này không kéo dài lâu lắm, có nghĩa là không kéo dài mãi mãi. Thì cho là mười năm, hai chục năm đi, miễn là đừng tới thời gian mà bà con mình còn ở lại “tự giải phóng cuộc đời” của họ, bên này mình sống với cái hy vọng nào nữa. Vậy ra, không phải buồn năm mười phút, mà là buồn lâu, buồn dài, buồn mấy chục năm bởi vì tao xét kỹ rồi, cỡ tụi mình, chỉ có đứng nhìn người ta xâu xé nhau đừng nói tới chuyện có mình trong những xâu xé đó và dĩ nhiên đừng nghĩ tới chuyện

Có mình trong bất cứ một “hành vi tạo sự kết hợp” nào cả. Dính vào, mang tiếng “thằng láu cá” ngay.

Như mầy đó, “chưa bao giờ tao kể người ta nghe về những chuyện làm của tụi mình, vì ở đây, người ta đang lo công việc quy mô hơn nhiều, và lãnh đạo cũng vậy, có tiếng tăm không hà…” Tao tủi cho mầy, tủi cho tao.

Không tủi sao được, Trần. Thiếu điều tao lạy tụi cảnh sát Thái Lan khi biết được tụi nó lấy cái xách tay của tao trong đó có hai cái bản đồ, một của Bộ chỉ huy huyện đội và một là các vị trí của gần trăm khẩu 106 phòng Duyên tụi Biên phòng đóng dọc theo bờ đảo. Không tủi sao được khi tao dặn dò ông già những chỗ có thể tản cư vào đó khi mà “tụi con theo lực lượng ở ngoài đổ quân về” một cách kỹ lưỡng và được lặp lại thêm lần cuối trước khi xuống núi.

Mình lầm, lầm ở những cái đáng lầm quá thì còn nói làm sao được với nhau cho hết lời hả Trần? Thằng Hà, con Huệ và nguyên đám thằng Vọng ở Lemsing chắc cũng tan hàng, để khỏi phải nhìn nhau hằng ngày, mà tủi thôi!

Tao chỉ muốn ngừng lại ở đây vì trong lòng không yên, nói nhiều nói bậy. Về chuyến đi của tao, mầy cũng chỉ nên biết rằng tao sẽ tới Úc, chắc chắn sẽ tới Úc, và không có gì phải kể lể dài dòng.

Còn cuộc sống sẽ như thế nào thì mầy qua trước gần nửa năm, chắc biết rõ hơn tao. Mỹ cũng vậy, Úc cũng vậy, không phải là Việt Nam thì ở đâu cũng vậy.

Dầu sao, tới Úc, mầy cũng có tin tao.

Thôi nghe, thương,

Thanh

Thanh xấp lá thơ lại, ngồi thừ ra một lúc, chưa biết phải làm gì nữa. Đàng cuối dãy nhà, một nhóm người ngồi chung quanh những cái thùng giấy kê sát lại làm bàn, họ uống trà và ca hát.

“Ở đây, đỡ khổ hơn các trại tỵ nạn khác nhiều,” Thanh nghĩ. Dầu sao thì sự đối đãi của chánh phủ Nam Dương đối với người Việt tỵ nạn cũng có ít nhiều tiêu biểu cho lòng nhân đạo hoặc được kiểm soát bởi những con người nhân đạo.

Mấy đứa em ở chợ về, tụi nó đem vào trại đủ thứ đồ vật và Thanh hiểu là sắp sửa có một bữa tiệc không nhỏ. Canh, thằng em con chú con bác vừa cười khà khà vừa nói:

“Anh Thanh nằm nghỉ một lát lấy sức đi, đêm nay mình phải vất vả lắm đó.”

“Định làm gì nữa?” Thanh giả vờ.

“Nhậu, nhậu cho đã thèm. Lâu nay tụi này cũng ít uống rượu. Nhưng bữa nay có anh mà, trời đất bao la mà gặp lại nhau, không nhậu, còn kêu lính bắt chắc!”

Cô em gái thêm vào:

“Ở đây giống xứ mình lắm, anh Thanh. Mấy ông nhậu đã rồi đi lang thang ngoài đường không ai nói gì hết, anh đừng lo.”

“Thôi,” thằng Canh ngắt lời. “Nhắc tới hoài, xứ mình, xứ mình. Để người ta vui cho trọn.”

Giữa đường lang bạt, anh em gặp nhau, Thanh quên hẳn đi mình đã trải qua nửa năm trời nhớ quay quắt những hình ảnh thân yêu gói ghém. Chiều hôm trước, ghé vào bến, Thanh nhìn thấy ngay hình dáng một chiếc ghe quen thuộc, loại ghe đánh lưới rút mà chỉ ở Phú Quốc mới có. Thằng Văn la lớn:

“Ghe ông Cả Bảy, anh Thanh. Dám có bà con mình lắm nghe!”

“Ừ, cũng hy vọng vậy. Mà chiếc này chắc mới qua, ở Songkhla mình chưa hay tin.”

Thanh gặp ông Chệt Lỳ, chủ tiệm tạp hóa dưới chân cầu Nguyễn Trung Trực, ngồi một đống trước mũi ghe. Anh bắt loa tay hét lớn:

“Ông Lỳ, ông Lỳ, nhớ tui không? Thanh! Thanh!”

Ông Chệt che mắt, nhìn lâu lắm. Rồi lần lượt ông nhìn ra đủ thứ thằng, từ Chí, Hòa, Văn… Ông la lên:

“Hê, hê, tụi mầy. Sao còn ở đây?”

“Tụi tui đi Úc,” Thanh đáp.

“Đi Úc? Mầy đi mấy tháng mà mới có tới đây?”

Ông Chệt ngạc nhiên cũng phải, nhưng chưa tiện giải thích vội, Thanh hỏi:

“Ai đi chiếc ghe đó? Bị cướp hả?”

“Con ông Cả Bảy, đám con ông Đực… Đông lắm, bốn năm chục người. Tụi nó ở trại, tao giữ ghe mình ênh!”

Gặp người đồng hương, cả đám tụi thằng Văn, thằng Chí, cả chục đứa phóng tuốt lên bờ chạy ngược về ghe ông Cả lúc VNKG 0042 vừa cập bến. Đàng này, Triều quăng dây cho một người Việt Nam mặc quần sọt đứng trên chiếc tàu sắt, vừa hỏi:

“Mình đi Úc, tụi nó cho đi không anh?”

“Đi Úc hả, cho chớ! Nó cho dầu.”

Thanh tắt máy, đi lần ra đàng trước:

“Tụi này có làm khó dễ gì mình không anh?”

“Bộ chỉ huy hải quân của tụi nó ở trên đó.” Anh thanh niên chỉ tay lên bờ. “Tụi này dễ ẹc hà. Hai bữa trước có một chiếc tàu ghé vô đây xin dầu đi Úc. Phải mấy anh tới sớm, đi chung luôn rồi, chiếc đó lớn như tàu hạm.”

Thanh yên tâm, và anh càng yên tâm hơn nữa khi tối hôm đó, Canh, nhỏ Thảo và cả chục người đồng hương theo chệt Lỳ xuống bến.

Con nhỏ Thảo bô bô:

“Ở đây dễ ẹc, tụi em muốn đi đâu thì đi. Mà sao nghe tin anh Thanh ở trại Songkhla, bữa nay gặp ở đây?”

“Anh lấy ghe đi Úc, ở trại khổ quá. Hồi em đi có ghé vô nhà bác không? Bác khỏe không?”

“Một tuần trước khi tụi em đi.”

Cả ghe nhôn nhao hỏi tin gia đình. Tụi kia khác xứ cũng rán hỏi này hỏi nọ, may thì biết thêm được chút tin. Thằng Minh trọ trẹ:

“Anh có biết trong trại ai người Quảng Ngãi không?”

Thằng “bộ đội”:

“Có ai người Xẻo Rô không?”

Hỏi, rồi biết chút ít, mập mờ, tối lại thì gần hai chục mạng chạy chọt “kiếm cho có tiền” kéo nhau theo hết vào trại. Thanh giữ Canh và hai ba thằng khác lại, “nói chuyện cho vui” và hỏi thêm tin nhà. Tối nay thì đến lượt anh ngủ trại. Nhỏ Thảo nói:

“Anh vô trại ngủ, có mùng. Ở đây giống như xứ mình, đêm, muỗi nó bay tối trời tối đất.”

Mới tới nửa tháng, anh em tụi nó sắm sửa đủ thứ đồ đạc nấu nướng mặc dầu phần nuôi ăn, người Nam Dương lo liệu cho hết.

“Đồ ăn tụi nó nấu kỳ cục lắm, Canh nói. Ba bốn thứ đổ vô hầm bà làng rồi tưới lên cơm.”

Nhỏ Thảo tiếp:

“Giống như cho heo ăn!”

Đêm nay Thanh biết tụi nhỏ nấu canh chua. Trong mấy cái túi giấy, anh thấy có cà chua và hai trái khóm. Thằng Canh tặc lưỡi:

“Cá hồng này, bên mình bán rẻ rề. Ở đây tụi nó ‘chặt’ bốn năm trăm đồng một con nhỏ xíu.”

“Tiền Nam Dương mà,” nhỏ Thảo dài giọng. “Tiền gì mà giống in toa thuốc Bắc!”

“Thì tiền Sài Gòn mình hồi trước cũng vậy!” Thanh nói.

“Đỡ hơn chứ anh!”

“Ừ, thì đỡ hơn một chút.”

Có không khí gia đình, Thanh cảm thấy vui vui, anh quên hết mọi thứ lo âu chất chứa lâu nay. “Lo quá cũng mệt, mai mới có việc phải làm, phải nghĩ.” Thanh hỏi Nhỏ Thảo:

“Bộ tính ở luôn đây sao mà sắm soong chảo đủ thứ hết vậy?”

“Hai ba chục đứa hùn tiền lại đó anh. Ở trại này, người nào đi sớm nhất là tám tháng, còn thường thường thì một năm, một năm rưỡi, ăn đồ tụi nó sống sao nổi anh.”

“Mấy đứa có dám xuống ghe với anh đi Úc không?”

“Thôi, xin anh. Hết một tuần lễ trên biển, em gần muốn chết, đâu dám đi nữa. Em cũng muốn nói với anh là ở lại đây đi, lần lần người ta làm giấy tờ, bốc đi bằng máy bay cho sướng, tội tình gì…”

“Ý, đâu được. Anh vượt biển lần này là lấy kinh nghiệm, mai mốt đổ bộ về nước mà!”

“Thật không đó!” nhỏ Thảo nhướng mắt.

Thanh cũng không biết là mình nói thật hay nói chơi. Vì thật tình có lần anh nghĩ như vậy, mà rồi đôi khi, anh nhận ra điều này có vẻ xa vời và cải lương quá. Lỡ nói ra, anh nghe một ít xót xa thoáng qua ngực.

“Hơn nữa,” thằng Canh nói, “tụi em phải đi Mỹ chớ đâu có đi Úc, bên Mỹ có anh Mộc mà. Ảnh sẽ làm giấy bảo lãnh tụi em.”

“Ờ, ờ, nhắc mới nhớ. Hai đứa có viết thơ cho Mộc, nói là anh đi Úc, khỏi phải tiếp tục lo giấy tờ cho anh. Chắc nó gởi thơ về Songkhla cho anh, thì anh đi rồi. Hơn mười ngày nay…”

Nhỏ Thảo hất hất cái mặt:

“Mà sao anh lại nhất định đi Úc? Có bồ ở bển hả? Hay là dưới ghe? Em thấy có ba bốn cô…”

Nó ngưng một lát, buông nhỏ:

“Mà xấu ỉnh!”

“Mầy thì ai cũng chê,” Canh nói. “Mai tao ra chợ rán tìm mua cho được cái kính soi mặt, mầy biết liền.”

“Xí, con này cũng đỡ, chớ bộ.”

“Ừ, đỡ. Tao có nghe nói!”

Thanh cười:

“Thôi, tụi bây như chó với mèo. Nói vậy chớ có ai đâu. Anh già thấy mồ rồi.”

“Anh già!” nhỏ Thảo trề môi. “Anh già thì chắc tụi em cũng gần chống gậy. Có bồ thì nói có bồ, ai cười em thoi vô mặt cho anh coi. Con này có nghề chút đỉnh mà!”

Bốn năm đứa nữa kéo về, rồi thì đủ thứ câu chuyện được đem ra. Thằng Canh phân công việc đâu ra đó. Còn phải canh cửa, không có “tụi Nam Dương xuống thấy xài điện lậu thì phiền lắm.” Nó vỗ vai nhỏ Thảo:

“Đi ngoại giao, mượn thêm ít đôi đũa nữa, mình đâu có đủ cho từng này người.”

“Lại sai biểu. Chốc nữa mà.”

“Đi bây giờ đi!” Canh nhăn mặt. “Tại vì phải mượn thêm cái rổ đựng rau. Mầy lại chị Thuận, tao thấy chị có cái rổ xanh to lắm.”

Nhỏ Thảo đứng lên. Canh quay qua Thanh:

“Bên này đi chợ, hên lắm mới thấy bán đũa. Đũa Tàu không hà. Tụi Nam Dương ăn bằng tay, anh Thanh, tụi nó bốc bằng tay mà ăn.”

Một thằng khác châm thêm:

“Đi cầu xong cũng lấy tay mà rửa.”

Nhỏ Thảo đi xa rồi cũng còn cố nói lớn tiếng:

“Vô duyên! Vô duyên…”


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Góc Bể Bên Trời (13)

VÕ HOÀNG

Gần ba mươi tiếng đồng hồ chạy ở 165, chắc tới tối thế nào cũng lọt vô vịnh Djakarta. Thanh định làm gì cũng phải đậu ngủ chờ tới sáng mới vô trong được, “không biết có cái gì ở trỏng!”

Khoảng năm giờ chiều thì mọi người cùng lúc nhìn thấy hai chấm đen mờ mờ ở hai bên mũi ghe. Thằng Triều bấm còi hụ vang vang, la lớn:

“Đ. mẹ, thằng Thanh hay thiệt. Đi ngay phóc vô vịnh, không chịch một mắt me.”

Thanh không dám lạc quan như nó mặc dầu anh vẫn tin là mình đi đúng. Buổi chiều, trời trong vắt mà ở trước mặt, một thứ sương mờ giăng tràn phủ dài sát nước chụp lên những dãy đất chập chùng không thấy gì khác nữa. Theo anh, đó là loại sương mù bốc lên từ một thành phố đông người.

Hồi trưa, nghe thằng Chí càu nhàu chuyện gì đó thì Thanh thức giấc. Hỏi ra mới hay thằng Nghiêm giao lái lại cho Minh Quảng Ngãi, nó dặn dò chạy theo 165. Thằng nhỏ nghe ba chớp ba nhoáng cứ để 185 mà chạy, tới chừng thẳng Chí hay được, chiếc ghe đã chạy như thế gần hai tiếng đồng hồ. Thanh dậy, hỏi lại cặn kẽ. “Hai tiếng đồng hồ tuy không bao xa, nhưng muốn chạy thật đúng hai tiếng đồng hồ thì quả là lạc hơi xa.” Anh tính lại đoạn đường lạc và đổi hướng.

Bây giờ là sáu bẩy giờ chiều. Vụng nước nằm lọt trong vịnh Djakarta êm phẳng mặt. Thỉnh thoảng, bọn Thanh thấy được vài cánh buồm ở xa xa.

“Kỳ há Thanh,” Triều nói. “Xứ này mỏ dầu hỏa tùm lum mà dân thì đi bằng buồm không.”

“Ờ. Dân Nam Dương nghèo, nghèo hơn Việt Nam mình nhiều. Mầy xem cho kỹ, chút nữa có bóng tối, nếu hai bên mũi đất đều có đèn chớp là mình đi đúng vô vịnh, xem kỹ cho chắc ăn.”

“Chắc rồi, chắc ăn rồi! Cả đảo Java có hai mũi đất này nhô ra cao nhất, mầy không thấy trên bản đồ sao?”

“Thấy, nhưng mầy lấy gì làm chắc? Hồi trưa chạy lạc mấy tiếng đồng hồ rồi.”

“Nghỉ lại hay vô luôn, Thanh?” Chí hỏi.

“Nghỉ! Cửa biển lạ tao không dám vô ban đêm.”

Đàng trước, có mấy thằng đã lo dọn chỗ nằm. Trời còn sáng mà tụi nó đã lo rồi.

“Bữa nay ngủ khỏe thôi. Tao chấp hết thảy, mưa gió, bão cũng được. Cứ xuống hầm máy là ngủ tới sáng.”

Thanh không tiếp lời Triều, mà anh thấy rõ như vậy. Đêm nay là đêm an bình nhất trong gần nửa đoạn đường đi. “Hôm nay là ngày 17, mình rời Songkhla như vậy là gần mười ngày. Phượng đã lên Bangkok chưa?”

Bọn Thanh bỏ neo ở một góc phía trái của cửa khẩu Djakarta. Ở đó, Thanh nghĩ, mình không làm cản trở lối ra vào của tàu bè mà không ai nhìn thấy mình. Vả lại, gió mùa ban đêm dù có thổi mạnh đến thế nào cũng phải nhường dãy núi nhỏ chạy dài từ tuốt bên trong ra tới mũi đèn.

Đêm. Trời càng tối càng thấy nhiều đèn. Thứ đèn giăng hàng của tàu buôn buổi chiều bị sương mù làm chìm lỉm hình dáng với dãy đất xám xịt, xa lạ. Thanh kéo tấm chăn leo lên nóc cabine, nằm nghiêng người nhìn ngược ra biển. Có vài cánh buồm xuôi thong thả dò đường vào cửa. Xứ sở này có vẻ an bình quá!

Thanh chợt nghĩ đến Songkhla. Giờ này là giờ người ta thăm viếng nhau và ngồi đấu láo. Mười ngày qua đã có thêm bao nhiêu chiếc ghe nhập trại? Và khoảnh đất nhỏ đã phải chứa thêm bao nhiêu con người trong đó?

Thanh thở nhè nhẹ. Anh dang thẳng hai cánh tay, nằm ngửa mặt nhìn lên trời. Cái lúc trời đất giao nhau này chỉ là cái lúc để làm con người ta moi móc những uẩn khúc bị che kín trong hồn ra sống với nó. Đối với Thanh, cái uẩn khúc kỳ lạ mà Thanh nghĩ rằng nó sẽ còn mãi trong con người anh là những cảnh tượng sống xem ra có vẻ gượng ép, giả tạo nhưng thật sự nó được sắp đặt trước hay ít nhất, nó cũng không có chút gì gượng ép, giả tạo khi con người ta bắt đầu nhập cuộc.

Anh nghĩ tới mình, anh nghĩ tới những người thân và cảm thấy ai cũng vậy, mọi người đều được Trời Phật đặc ân ban phát cho cái tính khí đáng giá, cái tính khí dễ dàng hòa nhập với tất cả mọi sự thay đổi một cách gần như tự nhiên.

Ở bên nhà, ở bên đảo, người ta cằn nhằn chút đỉnh về việc nhà nước nắm quyền quản lý hết tất cả ghe thuyền, mọi thu hoạch và di chuyển của dân đánh cá đều phải qua sự kiểm soát của nhà nước. Rồi không lâu, người ta xoay qua việc rẫy bái, tất cả mọi câu chuyện đều hướng về đó, tự nhiên như những người lính nói đến một trận đánh có mình tham dự và nói đến số lương mình sẽ lãnh được trong tháng tới, không một chút mánh lới trong câu chuyện. Thanh cố nghĩ rằng, người ta đã sống trong quá nhiều sự thay đổi, có thay đổi nữa thì thật sự cũng chỉ là những thay đổi… Nhưng cái uẩn khúc nằm trong đó chỉ có thấy được khi nào Thanh nghe nói tới, chính những con người dễ dàng hòa nhập với sự thay đổi đó, họ tự làm một việc thay đổi cho chính họ.

“Thì mình cũng vậy!” Nếu không vậy, sao có ngày hôm nay, một thân một mình nơi cái đất nước xa lạ này?

Ở trại, những ngày đầu mới tới, Thanh thích nhất được nghe bất cứ ai kể lại những diễn tiến trong chuyến đi của họ. “Ghe tui nhỏ xíu mà chứa tất cả trăm mạng, con nít nó khóc tùm lum, thằng công an lấy vàng xong rồi mà còn hăm he đủ thứ, rồi máy hư hết một bloc, tụi Thái Lan lùa hết mọi người ra đàng trước…” Mới đầu, anh còn góp ý và chủ tâm ghi nhớ những biến động có vẻ nặng ký nhất. Sau một dạo, hình như chỉ được một hay hai tuần lễ, anh tự dưng sợ phải nghe tiếp bởi vì kết cuộc nào cũng đi tới một cuộc sống kỳ cục mà anh và mọi người đang sống, mặc dầu người kể không bao giờ đề cập tới.

Ở đó, người ta cãi nhau và đánh đấm nhau chỉ vì chia chác cho nhau không hợp lý. Ở đó, người ta ngậm ngùi nhường nhịn nhau những thiếu thốn, người ta cam tâm lường gạt nhau bởi những người có khi cả đời chưa biết lường gạt bao giờ, và người ta bắt đầu thương yêu thứ mà trước kia, nó là những thứ đáng ghét.

Có một điều, cho tới bây giờ Thanh vẫn chưa dám cho mình là nghĩ đúng, con người ta sẽ mất nhau kể từ khi rời bỏ cuộc sống ở đó, cuộc sống của những con người thường xuyên bị mất mát, thứ này hay thứ khác. Thanh nhớ dập dồn những ngày tháng ở Songkhla. Có khi anh nghĩ, mình không nên rời khỏi nơi đó, tới bao giờ cũng được.

Đêm tối thật rồi. Sương lạnh phủ trùm VNKG 0042, đàng trước mấy thằng vừa choàng chăn vừa ngồi đấu láo. Dưới cabine có tiếng thằng Chí chưởi thề và vài tiếng cãi cọ. Nó phát giác hai gói thuốc lá của ai đó giấu dưới hầm máy, trong một xách tay Air Việt Nam. Hỏi, không thằng nào nhận. Cuối cùng, biết chắc chắn là xách tay của thằng Thông, nó nắm ngực thằng nhỏ, cho hai thoi vào mặt. “Cái bình hơi” thương em, thành ra gây gỗ. Thanh lắng nghe:

“Sao mới đầu hỏi, không chịu nhận?” Tiếng thằng Chí chậm rãi.

“Nó nhỏ, nó sợ. Anh còn đánh nó làm gì.”

“Tui nói cho chị nghe. Trên ghe này, đi đường lạ coi như sống chết có nhau. Chị không thấy chiều qua tới giờ có ai còn hút thuốc không. Nó giấu như vậy, chị cho là phải chắc!”

“Nó bậy, nó bậy tui công nhận. Mà đánh như vậy còn gì thằng nhỏ.” “Cái bình hơi” đã khóc thành tiếng.

Thẳng Chí gằn giọng:

“Nó có phước lắm nên tui chưa bẻ cái mặt nó ngược ra đằng sau, chị biết không. Gặp thằng Văn, nó đạp cho mà gãy cổ chớ không phải chỉ có hai thoi đâu.”

“Cái bình hơi” không nói nữa, chỉ khóa rấm rức. Thanh thấy thằng Chí làm đúng, nhưng hơi nặng tay. “Nói cho thằng nhỏ biết một lần chắc cũng đủ rồi.” Đàng trước nghe động, tụi kia lục tục kéo vô:

“Oánh thấy mẹ! Thằng nào?” Tiếng thằng Văn.

“Thôi đủ rồi,” Chí nói. “Thằng Thông, tao bắt được, nó còn nói xóc họng. Nó biểu thuốc này của cảnh sát Singapore cho nó. Đ. má!”

Mấy đứa kia im thim thít. Thanh tung chăn nhảy xuống, anh lo thằng Văn làm ẩu thêm nữa.

Vậy mà cũng không kịp. Văn nhảy phóc xuống hầm máy, chỗ thằng Thông đang ngồi ôm mặt nhăn nhó, anh nghe vài cái ịch đụi. Thanh thòng đầu xuống hầm hét:

“Thôi, Văn. Đ. má, sao lại đánh hoài vậy?”

“Cho nó chết mẹ luôn, anh Thanh. Thằng nào cũng vậy hết. Tui ghét nhứt thứ này.”

Ngừng một chút, nó buông thõng:

“Đ. mẹ. Xả láng mà còn thủ!”

“Tao tưởng chuyện như vậy thì tụi bây nói với nhau là đủ, làm gì tới đấm đá,” Thanh đứng lên.

Thằng Thông đứng gượng dậy, đi qua mặt Văn và leo lên cabine, một bên mặt sưng húp. “Cái bình hơi” vừa nhìn thấy thì khóc to hơn. Thằng Văn leo theo:

“Bà Nhung, bà dạy lại nó. Tui cho bà hay, không phải tui ghét gì nó, mà thằng nào cũng vậy hết. Kiểu đó mà sống với tui, tui đánh từ sáng tới tối, mệt thì nghỉ, hết mệt đánh tiếp.”

Tội nghiệp “cái bình hơi.” Cô biết lỗi của thằng em gây ra và cái lỗi này đụng chạm với hết cả mọi người trên ghe, thành ra xoay qua mắng thằng em:

“Mầy thấy không! Làm như vậy, người ta không đánh sao được?”

Ai cũng nín thinh. Hình như mọi người đều thông cảm với cái đau xót của cô. Thằng Chí buông nhẹ, sau một cái thở dài và vừa quay đi:

“Chớ gì nữa! Chơi như vậy thì chơi với nhau đâu có tới tết.”

Thanh nắm vai thằng Thông, kéo lại:

“Chị Nhung lấy muối đắp mặt cho nó.” Anh quay qua ngó thẳng mặt Thông: “Còn mầy, liệu mà sống chung với nhau cho có tình, gặp khổ người ta không bỏ. Cái điệu này, bạn bè không đánh mầy thì trời cũng đánh mầy, mầy biết không?”

Thằng Thông im lặng, chịu đựng. Thanh hét mấy thằng kia đi nằm. “Mai sáng còn nhiều việc phải làm.” Anh leo trở lên nóc cabine trong khi bên dưới, thằng Triều mở radio rà đài, một thứ nhạc xa lạ thoáng phát ra, bất chợt nghe được thì nghĩ ngay đến việc mình đang ở một nơi cũng xa lạ, quá xa lạ. Thanh quên luôn cả việc có lần thằng Văn giấu lại mấy gói thuốc lá.


Góc Bể Bên Trời, truyện dài Võ Hoàng, Nhân Văn xuất bản 1983.

Tựa | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.